Khám phá cõi Tushita, nơi Đức Di Lặc an trụ trước khi giáng thế và tiếp nối sứ mệnh giáo hóa chúng sanh, là hành trình vén màn bí ẩn về các bậc Bồ Tát. Tìm hiểu về ý nghĩa sâu xa của cõi trời này sẽ giúp ta thấu tỏ hơn con đường tu tập và sự chuyển giao tâm nguyện, như được chia sẻ tại Chia sẻ Đạo Phật.
Cung trời Đâu Suất và ý nghĩa trong Kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh
Trong kho tàng Phật giáo, Cung trời Đâu Suất (Tushita) là một cõi trời quan trọng, xuất hiện nhiều trong các kinh điển, đặc biệt là Kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh. Theo từ điển Phật học Hán Việt, “Đâu Suất” có nhiều cách diễn đạt như Tri Túc, Hỷ Túc, Diệu Túc, Thượng Túc, đều mang ý nghĩa về sự đầy đủ, vui vẻ và an lạc.
Trước khi thành Phật, Đức Thích Ca Mâu Ni đã từng an trú tại Cung trời Đâu Suất trong thân phận Bồ Tát Hộ Minh. Sau khi Ngài nhập Niết Bàn, Ngài đã giao phó trách nhiệm giáo hóa chúng sanh tại cõi này cho Bồ Tát Di Lặc.
Vào thế kỷ thứ năm dương lịch, hai vị cao tăng Vô Trứ (Asangha) và Thiên Thân (Vasubandhu) đã có cơ duyên tham thiền và đạt đến Cung trời Đâu Suất, nơi họ được Đức Di Lặc giáo hóa và truyền trao những bộ kinh quý báu. Hiện nay, Cung trời Đâu Suất vẫn là nơi an trú của Đức Di Lặc cùng vô số vị Bồ Tát đang thực hiện hạnh nguyện độ sanh.
Các vị Bồ Tát, trước khi giáng trần để thành Phật, thường an trú tại Cung trời Đâu Suất. Những vị này được gọi là Bổ xứ Bồ Tát hay Nhứt sanh Bổ xứ Bồ Tát, là những bậc có thần thông tự tại, thường xuyên du hóa tế độ chúng sanh và đến các cõi Tịnh Độ của chư Phật.

Các vị Bồ Tát trước khi thành Phật thường an trú tại Cung trời Đâu Suất.
Thời gian và phẩm hạnh tại Cung trời Đâu Suất
Theo kinh điển, một ngày một đêm tại cõi Đâu Suất tương đương với 400 năm ở cõi nhân gian. Tính theo một năm 360 ngày, thì một năm ở Đâu Suất bằng 144.000 năm ở cõi này. Điều này cho thấy sự khác biệt to lớn về thời gian giữa các cõi giới.
Đại Bát Niết Bàn Kinh, quyển 32, mô tả rằng trong cõi Dục giới, cảnh Đâu Suất Đà Thiên là cảnh giới tốt đẹp nhất. Dưới cảnh giới này, chư Thiên còn có lòng phóng dật, còn trên cảnh giới này, chư Thiên có căn tánh hơi ám độn. Do đó, Đâu Suất Đà Thiên được xem là nơi lý tưởng cho việc tu tập.
Những người tu tập chí thành, giữ gìn giới luật thanh tịnh, hoặc tu hành bố thí, giữ giới, thiền định sẽ có cơ hội được sinh về cảnh giới này.
Miêu tả chi tiết về Cung trời Đâu Suất
Kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Đâu Suất (Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, số 0452) đã mô tả rất chi tiết về sự trang nghiêm và những vị thần hộ trì tại Cung trời Đâu Suất. Kinh thuật lại:
Cung trời Đâu Suất có 5 vị Đại thần hộ trì:
- Đại thần Bảo Tràng: Thân ngài tỏa ra bảy báu, rải khắp tường cung. Mỗi viên ngọc báu hóa thành vô lượng nhạc khí treo lơ lửng giữa hư không, tự phát ra âm thanh du dương làm vui lòng chúng sanh.
- Đại thần Hoa Đức: Thân ngài tuôn ra vô số hoa, phủ đầy cung tường và hóa thành lọng hoa. Mỗi lọng hoa lại hóa thành trăm ngàn tràng phan dẫn đường.
- Đại thần Hương Âm: Từ lỗ chân lông của ngài tỏa ra mùi hương vi diệu, như hương chiên đàn hải ngạn. Mùi hương này quyện thành mây, tạo thành trăm màu quý báu, lan tỏa thơm ngát quanh cung điện bảy vòng.
- Đại thần Hỷ Lạc: Ngài tuôn ra ngọc Như Ý. Mỗi châu báu tự nhiên trụ trên tràng phan, vang lên lời kêu gọi vô lượng pháp quy y Phật, Pháp, Tăng, giữ gìn năm giới, thực hành các pháp ba-la-mật, cùng vô lượng pháp lành mang lại lợi ích và khuyên tu tâm hạnh Bồ Đề.
- Đại thần Chánh Âm Thanh: Lỗ chân lông trên thân ngài tuôn ra các dòng nước. Trên mỗi dòng nước có 500 ức hoa, và trên mỗi bông hoa có 25 ngọc nữ. Lỗ chân lông của các ngọc nữ này phát ra tất cả thanh âm tuyệt diệu, vượt xa âm nhạc của cung trời.
Đức Phật đã giải thích với Tôn giả Ưu-ba-ly rằng cảnh giới Đâu Suất Đà Thiên là quả báo của việc tu tập thập thiện (mười điều lành). Nếu Ngài có thể giảng rộng về công đức tu mười điều thiện và báo ứng của Bồ Tát còn một đời sẽ thành Phật thì dù trải qua một tiểu kiếp cũng không thể nói hết. Nay Ngài chỉ giảng nói tóm tắt.
Con đường tu tập để vãng sanh Cung trời Đâu Suất
Đức Phật dạy Tôn giả Ưu-ba-ly rằng, nếu Tỳ-kheo và đại chúng nào muốn sinh về cõi trời này, cần phải không chán ghét sanh tử, tâm luôn yêu kính tuệ giác vô thượng, và mong muốn làm đệ tử của Bồ Tát Di Lặc. Cách quán tưởng đúng đắn là:
- Giữ trọn vẹn năm giới, tám giới Bát quan trai và giới Cụ túc.
- Thân tâm tinh tấn, không cầu đoạn trừ phiền não.
- Tu tập pháp mười điều thiện.
- Luôn luôn tư duy về sự an vui, tốt đẹp bậc nhất tại cõi trời Đâu Suất.
Quán tưởng như vậy gọi là Chánh quán. Nếu quán tưởng theo chiều hướng khác thì đó là Tà quán.
Khi Tôn giả Ưu-ba-ly hỏi về thời điểm Đại sĩ Di Lặc giáng thế sau khi từ giã cõi đời này, Đức Phật đã giải thích:
Xưa kia, Đức Di Lặc giáng sinh trong gia đình đại Bà-la-môn Ba-bà-lợi, tại thôn Kiếp-ba-lợi, nước Ba-la-nại. Đến 12 kiếp sau, Ngài sẽ tái sinh trở lại nơi này vào ngày rằm tháng hai. Khi đó, Bồ Tát sẽ an tọa kiết-già như đang nhập Diệt định, thân sắc vàng ròng, tỏa hào quang sáng rực như trăm ngàn mặt trời chiếu rọi đến trời Đâu Suất Đà. Toàn thân Xá Lợi của Ngài sẽ tĩnh lặng, không dao động, như một pho tượng vàng. Trong hào quang viên mãn ấy, sẽ hiện hữu chữ nghĩa Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội và Bát Nhã Ba La Mật rạng ngời.

Hình ảnh Đức Di Lặc trong tương lai khi hạ sanh.
Sau đó, các thiên nhân sẽ đến xây tháp bằng châu báu để cúng dường Xá Lợi của Bồ Tát. Bồ Tát sẽ hóa sinh tại Cung trời Đâu Suất Đà, trên điện Ma-ni, trong đài thất báu, ngồi kiết-già trên hoa sen tại tòa sư tử. Ngài có thân cao 16 do-tuần, sắc vàng như Diêm Phù Đàn, đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Trên đỉnh đầu, nhục kế có màu lưu ly xanh biếc. Mũ trời của Ngài được trang trí bằng ngọc Thích-ca-tỳ-lăng-già và vô lượng Chân-thúc-ca-bảo muôn màu. Trong mỗi màu sắc nơi mũ, vô lượng Phật hóa hiện, cùng các vị Bồ Tát thị giả. Phương khác lại có các đại Bồ Tát biến hóa tùy ý tự tại trong mũ trời. Giữa chân mày của Bồ Tát Di Lặc có ánh sáng tướng bạch hào, phát ra trăm màu châu báu và 32 tướng. Mỗi tướng tốt lại có 500 ức màu báu, và mỗi tướng tốt tuyệt diệu đó lại phát ra 8 vạn 4 ngàn mây ánh sáng.
Các thiên tử sẽ ngồi trên tòa hoa, ngày đêm sáu thời thuyết giảng về pháp luân Bất thối chuyển địa. Trải qua một thời gian, Bồ Tát giáo hóa thành tựu 500 ức thiên tử, giúp họ đạt được sự bất thối chuyển nơi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Như vậy, Bồ Tát tại Cung trời Đâu Suất Đà ngày đêm thường nói pháp Bất thối chuyển này để hóa độ các thiên tử. Nếu tính theo cõi Diêm Phù Đề thì thời gian này tương đương với 56 ức vạn năm. Lúc đó, Bồ Tát mới hạ sinh xuống cõi Diêm Phù Đề, như đã ghi trong kinh Di Lặc Hạ Sanh.
Lợi ích khi chí tâm niệm danh hiệu Đức Di Lặc
Đức Phật tiếp tục dạy Tôn giả Ưu-ba-ly rằng, sau khi Ngài nhập Niết Bàn, những đệ tử nào tinh tấn tu hành, giữ gìn oai nghi, quét dọn tịnh xá, cúng dường hoa thơm, thực hành thiền định sâu xa, thọ trì đọc tụng kinh điển, dù chưa đoạn tận phiền não hay chưa đắc lục thông, chỉ cần chí tâm niệm Phật và hình tượng, danh hiệu Đức Di Lặc, hoặc trong một niệm thọ trì tám trai giới, tu các tịnh nghiệp, phát nguyện rộng lớn, thì sau khi qua đời, chỉ trong khoảnh khắc sẽ được vãng sanh lên Cung trời Đâu Suất. Tại đây, họ sẽ được ngồi kiết-già trên hoa sen, được trăm ngàn thiên tử tấu nhạc trời, dùng hoa Mạn-đà-la, Ma-ha Mạn-đà-la rải lên.
Các thiên tử sẽ ngợi khen: “Lành thay, thiện nam tử! Người ở Diêm Phù Đề tu nhiều phước nghiệp, được sinh về cõi này. Cõi này gọi là Trời Đâu Suất Đà. Chủ cõi trời này là Đức Di Lặc. Ngươi hãy quy y Bồ Tát Di Lặc.”
Khi nghe xong, những người này sẽ đảnh lễ Bồ Tát, chiêm ngưỡng tướng hảo quang minh giữa chân mày của Ngài, và tức thì được vượt khỏi tội sanh tử trong 90 ức kiếp. Lúc bấy giờ, Bồ Tát sẽ tùy theo duyên đời trước của người ấy mà thuyết pháp vi diệu, giúp họ đạt được tâm vững chắc và không thoái chuyển trên đạo Vô thượng.
Những chúng sanh nào tu các nghiệp thanh tịnh, thực hành sáu pháp hòa kính, kiên định không nghi ngờ sẽ được sinh lên trời Đâu Suất, gặp Bồ Tát Di Lặc và cùng Ngài hạ sanh xuống cõi Diêm Phù Đề. Họ sẽ được nghe pháp đệ nhất, và trong đời tương lai sẽ gặp tất cả chư Phật ở Hiền kiếp, thậm chí đến kiếp Tinh Tú cũng sẽ gặp chư Phật Thế Tôn và được các Ngài thọ ký đạo quả giác ngộ.
Đức Phật cũng nói thêm, sau khi Ngài nhập Niết Bàn, các hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già… nếu ai được nghe danh hiệu Đại Bồ Tát Di Lặc mà hoan hỷ, cung kính, lễ bái, thì sau khi chết, chỉ trong khoảnh khắc sẽ được vãng sanh như đã nêu trên. Chỉ cần nghe danh hiệu Bồ Tát Di Lặc mà sau khi chết cũng sẽ thoát khỏi đọa vào nơi tối tăm, biên địa tà kiến, các ác luật nghi. Họ sẽ thường sinh về nơi chánh kiến, có quyến thuộc giàu sang, không hủy báng Tam Bảo.
Ngay cả những người nam, người nữ phạm giới cấm và tạo nhiều nghiệp ác, nếu được nghe danh hiệu đại bi của Bồ Tát, cung kính chí thành đảnh lễ sám hối, thì các nghiệp ác đó sẽ được thanh tịnh ngay. Đời tương lai, những chúng sanh này nghe danh hiệu đại bi của Bồ Tát mà tạo lập hình tượng, cúng dường hương hoa, y phục, lọng lụa, tràng phan, lễ bái và niệm danh hiệu Ngài, khi sắp lâm chung sẽ được Bồ Tát Di Lặc phóng hào quang trắng giữa chân mày cùng các thiên tử mưa hoa Mạn-đà-la đến nghênh đón. Họ sẽ nhanh chóng vãng sanh, gặp Bồ Tát Di Lặc, cung kính đảnh lễ Ngài. Chưa kịp ngẩng đầu đã được nghe pháp nhiệm mầu, đạt được sự bất thối chuyển nơi đạo Vô thượng, và trong đời tương lai sẽ gặp hằng hà sa số chư Phật Như Lai.

Trong đời sau, việc tu phước và trì giới sẽ giúp chúng sanh sinh về cõi của Bồ Tát Di Lặc và được Ngài thọ ký.
Này Ưu-ba-ly! Bồ Tát Di Lặc đại từ sẽ là nơi nương tựa của vô lượng chúng sanh. Người quy y với Bồ Tát Di Lặc sẽ biết đó là không thoái chuyển nơi đạo Vô thượng. Khi Bồ Tát Di Lặc thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, những người này gặp được hào quang Phật sẽ được thọ ký.
Hướng dẫn quán tưởng để sinh về Cung trời Đâu Suất
Đức Phật dặn dò, sau khi Ngài nhập diệt, các hàng đệ tử, trời, rồng, quỷ, thần, ai muốn sinh về Cung trời Đâu Suất nên thực hành quán tưởng. Cần quán tưởng, tư duy chánh niệm về cõi trời ấy, giữ giới thanh tịnh, từ một đến bảy ngày chuyên trì niệm hạnh Thập thiện và 10 Thiện đạo. Do công đức này hồi hướng nguyện sanh đối trước Phật Di Lặc, thì hãy quán tưởng như sau:
Nếu người quán tưởng thấy một vị thiên nhân ngồi trên một hoa sen, hoặc chỉ trong một khoảnh khắc niệm danh hiệu Bồ Tát Di Lặc, người này sẽ được tiêu trừ 1.200 kiếp tội ác sanh tử. Nếu nghe danh hiệu Bồ Tát Di Lặc mà chắp tay cung kính, người này trừ được 50 kiếp tội sanh tử. Người kính lễ Bồ Tát Di Lặc sẽ trừ được trăm ức kiếp tội sanh tử.
Nếu không được sinh về Cung trời Đâu Suất, thì trong đời tương lai, tại hội Long Hoa, dưới cội Bồ đề, họ cũng sẽ được gặp Phật và phát tâm đạo vô thượng.
Khi Đức Phật nói những lời này, vô lượng đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật và Bồ Tát Di Lặc, rồi nhiễu quanh Phật cùng Bồ Tát Di Lặc trăm ngàn vòng. Những người chưa đắc đạo đều phát nguyện: “Chúng con trời người và tám bộ chúng hôm nay ở trước Phật thành thật phát nguyện: Đời tương lai sẽ gặp Phật Di Lặc, khi xả bỏ thân này đều được sinh lên trời Đâu Suất.”
Đức Thế Tôn ghi nhận và dạy: “Đời sau các ngươi tu phước, trì giới đều sẽ sinh sang cõi Bồ Tát Di Lặc và được Bồ Tát Di Lặc thọ ký.”
Đức Phật nhắc lại: “Người quán tưởng như vậy gọi là Chánh quán. Nếu quán khác đi gọi là Tà quán.”
Lúc bấy giờ, Tôn giả A-nan rời chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối chắp tay bạch Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Lành thay Đức Thế Tôn! Ngài đã nói về công đức của Bồ Tát Di Lặc và thọ ký cho những ai đời sau tu phước thiện sẽ được quả báo. Con xin tùy hỷ. Xin Đức Thế Tôn cho biết pháp này thọ trì như thế nào và kinh này tên là gì?”

Lời dạy của Đức Phật về kinh điển và con đường giải thoát.
Đức Phật bảo A-nan: “Ông nhớ lời Ta dạy, cẩn thận đừng quên mất, để đời sau khai mở con đường sinh lên cõi trời và chỉ bày đạo lộ giải thoát, chớ để đoạn mất hạt giống Phật. Kinh này nên gọi là Bồ Tát Di Lặc nhập Niết Bàn, cũng gọi là Quán Di Lặc sanh Đâu Suất Đà thiên. Khuyên người tu phát tâm Bồ đề nên thọ trì như vậy.”
Khi Đức Phật dạy những lời này, 10 vạn Bồ Tát ở phương khác đến đại hội, đạt Thủ Lăng Nghiêm Tam muội, 8 vạn ức chư thiên phát tâm Bồ đề, đều nguyện theo Phật Di Lặc hạ sanh.
Lúc Phật dạy những lời này, 4 chúng đệ tử, trời, rồng, bát bộ nghe lời Phật dạy, tất cả đều vui mừng đảnh lễ Phật rồi lui ra.
Khám phá sâu hơn về Cung trời Đâu Suất và con đường tu tập để hướng đến Đức Di Lặc sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ý nghĩa của sự giác ngộ trong Đạo phật.
