An lạc: Bí mật của Quán niệm

an lac va giai thoat 0929 1
0
(0)

Trong hành trình tìm kiếm sự bình an nội tâm, phương pháp thực hành tỉnh thức đã được Đức Phật chỉ dạy như một con đường thiết yếu. Khám phá cách định tâm và nuôi dưỡng tâm hồn thanh tịnh qua Chiasedaophat để hóa giải mọi phiền muộn.

Trong giáo lý Phật giáo, có một phương pháp tu tập quen thuộc giúp thanh lọc nội tâm, hóa giải những phiền muộn, căng thẳng và mang lại sự an lạc, hân hoan. Đó chính là pháp môn niệm Phật, hay còn gọi là phương pháp suy niệm về Phật. Như lời Phật dạy trong kinh điển: “Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Phật: ‘Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn’. Do vị ấy niệm Phật, tâm được tịnh tín, hân hoan khởi lên, các phiền não của tâm được đoạn tận” (1).

Quán niệm để đạt được an lạc

Quán niệm là phương pháp rèn luyện tâm, giúp tâm trở nên tịnh tín và an trú

Thuật ngữ “niệm” (sati/anussati/anussarana) trong Phật học có nghĩa là sự ghi nhớ, suy tưởng, chú tâm quan sát hoặc hướng tâm đến một đối tượng nhất định. Khi tâm được an trú trên đối tượng này, nó trở nên định tĩnh và sáng suốt. Đây là một phép luyện tâm quan trọng trong đạo Phật, có khả năng chuyển hóa tâm thức từ trạng thái tán loạn sang định tĩnh, từ ô nhiễm sang thanh tịnh, từ phiền não sang hiền thiện, và từ mê lầm sang giác ngộ.

Việc chú tâm vào một đối tượng thường mang lại hai lợi ích chính. Thứ nhất, nó giúp tâm định tĩnh, an trú và chuyên nhất, không bị xao lãng bởi những suy nghĩ lan man. Trong Phật học, trạng thái này gọi là tịnh chỉ (samatha), mang đến những trải nghiệm hỷ lạc sâu lắng và sự an tịnh nội tâm. Thứ hai, nó giúp tâm trở nên tỉnh giác và sáng suốt, nhận biết rõ ràng bản chất của đối tượng. Trạng thái này được gọi là tuệ quán (vipassanà), giúp hành giả phát triển tuệ giác và hướng đến mục tiêu giải thoát khổ đau.

Dựa trên định nghĩa về quán niệm, Phật giáo đưa ra nhiều đối tượng quán niệm khác nhau, nhằm giúp mỗi người tìm thấy phương pháp phù hợp để rèn luyện tâm trí trở nên định tĩnh, trong sáng và thanh tịnh. Trong số đó, niệm Phật – suy niệm về các đức tính cao quý của Phật – là một phương pháp luyện tâm mang nhiều ý nghĩa.

Tại sao chúng ta cần quán niệm để tìm thấy an lạc?

Trong cuộc sống thường nhật, tâm trí chúng ta thường bị lấp đầy bởi ký ức quá khứ và những dự định tương lai, khiến chúng ta thiếu vắng những khoảnh khắc nghỉ ngơi thực sự. Việc liên tục truy cầu quá khứ hay mơ mộng về tương lai dẫn đến căng thẳng, bất an và phiền muộn, khiến chúng ta không thể cảm nhận được sự an lạc. Nguyên nhân là do tâm chúng ta không ngừng dao động, bị ám ảnh bởi ký ức hoặc bị thôi thúc bởi những ý tưởng về tương lai, mà không thể an trú trong giây phút hiện tại.

Tâm thức bị cuốn theo dục vọng, khiến chúng ta quay cuồng trong vòng xoáy của những cảm xúc vui, buồn, yêu, ghét. Nói cách khác, tâm chúng ta bị ô nhiễm bởi những tạp niệm – những ký ức hoặc vọng tưởng không ngừng xâm chiếm, gây ra sự dao động và rơi vào vòng luẩn quẩn của tư duy nhị nguyên, phân biệt. Những trạng thái vui buồn, yêu ghét này chính là biểu hiện của sự dao động, ô nhiễm trong tâm thức, phát sinh từ tạp niệm hoặc tâm phân biệt.

Do đó, niệm Phật hay suy niệm về Phật là phương pháp đưa tâm trở về với hiện tại. Bằng cách an trú tâm vào những đức tính cao quý của Phật, toàn bộ tâm thức sẽ được thấm nhuần phẩm chất tốt đẹp của Ngài, không còn chỗ cho tạp niệm hay vọng tưởng xâm nhập, khiến tâm trở nên quay cuồng hay ô nhiễm.

Công năng của pháp môn niệm Phật

Niệm Phật có công năng làm lắng sạch tâm uế nhiễm thông qua việc chuyên tâm suy niệm về Phật hoặc an trú trên các đức tính thánh thiện của Ngài. Khi tâm không rời khỏi đối tượng Phật, các vọng tưởng và tạp niệm sẽ không có cơ hội xâm nhập, làm ô nhiễm tâm thức. Đây là phương pháp giúp giữ cho tâm định tĩnh, trong sáng, thanh tịnh, ngăn chặn sự sinh khởi và xâm nhập của các tạp niệm, vọng tưởng.

Tương tự, hành giả tu tập cũng có thể chọn các đối tượng hiền thiện khác để quán niệm như niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm chư Thiên… Khi chuyên tâm, chú tâm vào những đối tượng này, tâm sẽ được an trú, định tĩnh, trong sáng và không còn bị ô nhiễm bởi tạp niệm hay những niệm bất thiện. Nói cách khác, bằng cách suy niệm về những điều lành thiện, những ý nghĩ ác hay ý tưởng điên đảo sẽ dần bị đẩy lùi. Hành giả sẽ cảm thấy lòng mình tịnh tín, hân hoan và không còn lo âu, phiền não.

Kinh điển mô tả pháp môn tu tập này là “sự gột sạch tâm uế nhiễm bằng phương pháp thích nghi” (2). Điều này có nghĩa là chúng ta nỗ lực dùng những niệm lành thiện để đẩy lùi những niệm bất thiện hoặc ý tưởng điên đảo ra khỏi tâm thức, giúp tâm trở nên thanh tịnh, không còn phiền não nhiễm ô. Quá trình này giống như người thợ mộc dùng một cái nêm nhỏ để đánh bật một cái nêm khác ra vậy.

Trong bài pháp thoại dành cho tín nữ Visàkhà, Đức Phật đã chỉ ra một số phương pháp giúp gột sạch tâm uế nhiễm và khẳng định lợi ích của pháp môn niệm Phật trong việc đối trị và loại bỏ những niệm bất thiện:

Tìm hiểu thêm: A Nan: Tấm Gương Tận Tâm Đồng Hành, Người Gần Gũi Hơn Ai Hết Bên Đức Phật

“Này Visàkhà, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?

Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Phật: ‘Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn’. Do vị ấy niệm Phật, tâm được tịnh tín, hân hoan khởi lên, các phiền não của tâm được đoạn tận”. Như vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.

Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?

Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Pháp: ‘Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu’. Do vị ấy niệm Pháp, tâm được tịnh tín, hân hoan khởi lên, các phiền não của tâm được đoạn tận.

Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?

Khám phá: Hành Trình Bình An: Vượt Qua Nỗi Sợ Chết Để Sống Trọn Vẹn Theo Lời Phật Dạy

Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Tăng: ‘Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; chơn chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử Thế Tôn là đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời’. Do vị ấy niệm Tăng, tâm được tịnh tín, hân hoan khởi lên, các phiền não của tâm được đoạn tận.

Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?

Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Giới: ‘Giới không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thánh, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định’. Vị ấy niệm Giới, tâm được tịnh tín, hân hoan khởi lên, các phiền não của tâm được đoạn tận.

Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?

Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Thiên: ‘Có chư Thiên bốn Thiên Vương; có chư Thiên cõi Trời Ba mươi ba; có chư Thiên Yàmà; có chư Thiên Tusita (Đâu suất); có chư Thiên Hóa lạc; có chư Thiên Tha hóa tự tại; có chư Thiên Phạm chúng; có chư Thiên cao hơn nữa. Đầy đủ với lòng tin như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Lòng tin như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Đầy đủ với giới như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Giới như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Đầy đủ với nghe pháp như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Nghe pháp như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Đầy đủ với thí như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Thí như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Đầy đủ với tuệ như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Tuệ như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Khi vị ấy niệm tín, giới, nghe pháp, thí và tuệ của tự mình và của chư Thiên ấy, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận’ (3).

Nhìn chung, niệm Phật, niệm Pháp, hay niệm Tăng là những pháp môn tu tập tâm tương đối dễ thực hành cho mọi người. Phương pháp này đơn giản là sử dụng một đối tượng hiền thiện để quán niệm, nhiếp tâm và an trú tâm. Qua đó, tâm trở nên chuyên chú, định tĩnh, trong sáng, không còn tán loạn, không bị cuốn theo dục vọng, niệm bất thiện hay tạp niệm.

Kinh Pháp Cú đã dạy rằng:

Tâm hoảng hốt, dao động,
Theo các dục quay cuồng;
Lành thay điều phục tâm,
Tâm điều, an lạc đến (4).

Quán niệm chính là cách điều phục tâm, giúp tâm trở nên tịnh tín, an trú, định tĩnh, trong sáng, không còn hoảng hốt, dao động hay mê loạn chạy theo các dục. Đó chính là con đường dẫn đến sự an lạc.

Xem thêm: Phong thủy nhà ở tuổi Giáp Tý 1984: Bí quyết thu hút tài lộc, tránh tai ương

Chú thích:

1. Kinh Các Lễ Uposatha, Tăng Chi Bộ

2. Kinh An Trú Tầm, Trung Bộ

3. Kinh Các Lễ Uposatha, Tăng Chi Bộ

4. Pháp Cú, kệ số 35

Hy vọng những chia sẻ trên giúp bạn hiểu rõ hơn về sức mạnh của quán niệm. Để khám phá sâu hơn về con đường dẫn đến sự an lạc và giải thoát, mời bạn tìm hiểu thêm trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang