Phật A Di Đà: Chìa Khóa Tây Phương Cực Lạc

atr avatar 7878 1763613471
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Giữa dòng chảy tư tưởng về Cực Lạc, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã chỉ ra con đường tối thượng dẫn về miền Tây phương. Thông qua bộ kinh Vô Lượng Thọ, Ngài mong muốn hóa giải mọi hoài nghi, soi sáng lối đi cho chúng sinh ngay cả khi pháp tồn không còn. Khám phá cách thức vượt qua bể khổ luân hồi tại Chiasedaophat.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng dạy về Đức Phật A Di Đà và pháp môn tu Tịnh Độ trong các bộ kinh Đại thừa, tiêu biểu là Kinh Vô Lượng Thọ. Mục đích của việc chia sẻ này là làm rõ những luận điểm sai lệch về sự tồn tại của Đức Phật A Di Đà và pháp môn Tịnh Độ, vốn bị một số người phỉ báng.

Kính thưa quý Phật tử,

Trong phẩm thứ bốn mươi lăm của Kinh Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã khẳng định: “Ta nay do vì hết thảy các chúng sinh nói Kinh pháp này khiến cho mọi người thấy Phật Vô Lượng Thọ và được Phật pháp này. […] Chẳng nên sau khi ta đã diệt độ, ở trong đời sau lại sinh tâm nghi hoặc. Ta vì lòng từ bi thương xót chúng sinh nên ở đời khi đạo tận diệt, đặc biệt lưu lại chỉ một Kinh này, trụ thế trăm năm. Có chúng sinh nào được gặp Kinh này, tuỳ theo ý nguyện đều được độ thoát”.

Như vậy, trong suốt 49 năm thuyết pháp, sau cùng, Đức Phật đã để lại Kinh Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác và pháp môn Tịnh Độ như một phương tiện duy nhất giúp chúng sinh, dù là xuất gia hay tại gia, thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.

Tại sao pháp môn này lại có thể đạt được hiệu quả như vậy?

Nguyên nhân thứ nhất: Sự phù hợp với căn cơ và hoàn cảnh

Đức Phật đã dạy: “Phật pháp phải phù hợp với pháp của thế gian, không được trái với pháp thế gian và phải hằng thuận chúng sinh, tuỳ cơ nói pháp, tuỳ duyên thuyết Pháp”. Pháp thế gian ở đây chính là hoàn cảnh, điều kiện xã hội mà chúng ta đang sống. Điều này có nghĩa là pháp môn tu hành phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh sống hiện tại, cũng như căn cơ và trình độ của chúng sinh, giúp họ dễ dàng tiếp thu và ứng dụng vào cuộc sống hàng ngày.

Trong suốt 49 năm hoằng dương chánh pháp, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tùy theo căn cơ, trình độ, hoàn cảnh sống và từng giai đoạn lịch sử để đưa ra các pháp môn tu hành phù hợp. Đối với hàng Bồ tát, Ngài thuyết giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện… giúp họ đạt đến tri kiến Phật và thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Đối với hàng chư Thiên, Thần Thánh, A Tu La, Ngài thuyết Kinh Phương Đẳng… để họ tu hành chứng vào Niết Bàn.

Còn đối với đa số người tu tại gia, chiếm hơn 80% số lượng Phật tử, Đức Phật đã dành sự quan tâm đặc biệt bằng cách thuyết giảng pháp môn Tịnh Độ và Kinh Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác. Đây chính là sự ưu ái dành cho những người con Phật.

Nguyên nhân thứ hai: Dựa trên tha lực vĩ đại

Pháp môn Tịnh Độ và Kinh này được Đức Phật chỉ bày dựa trên nền tảng 48 lời nguyện sâu rộng của Đức Phật A Di Đà cùng tha lực vĩ đại của Ngài. Đây là một nguyên nhân vô cùng quan trọng.

Là phàm phu, tự lực của mỗi chúng ta rất nhỏ bé so với tha lực bất khả tư nghì của chư Phật, đặc biệt là Đức Phật A Di Đà. Chúng ta đang sống trong thế giới Ta Bà, vào thời mạt pháp đầy phiền não, cạm bẫy, chẳng khác nào người đang chới với giữa biển khơi sóng gió, khó lòng tự mình vào bờ.

Nếu có một chiếc thuyền lớn đến cứu vớt, liệu chúng ta có chộp lấy cơ hội đó không? Chiếc thuyền ấy chính là biểu tượng cho Đức Phật A Di Đà, và chiếc phao cứu sinh chính là pháp môn Tịnh Độ. Không ai có thể tự mình bơi qua biển cả mênh mông đầy sóng gió nếu không nương nhờ vào tha lực vĩ đại của Đức Phật A Di Đà.

Các pháp môn như Thiền, Mật, Luận… có thể phù hợp với những người xuất gia thời Phật còn tại thế hoặc thời Tượng pháp, nơi có sự chỉ dạy trực tiếp của các vị Bồ tát. Tuy nhiên, đến thời kỳ Mạt pháp, với những người tại gia bận rộn lo toan cho cuộc sống, gia đình, việc tu hành các pháp môn này trở nên khó khăn. Do đó, chỉ có pháp môn Tịnh Độ mới thực sự phù hợp với căn cơ, điều kiện và hoàn cảnh của họ.

Đức Phật đã nhấn mạnh: “Nếu đời quá khứ, hiện tại và vị lai các chư vị Phật muốn giúp chúng sinh giải thoát sinh tử luân hồi thì không thể nào khác là chỉ bày cho họ dùng pháp môn Tịnh Độ trì danh niệm Phật”.

Tứ thập bát nguyện của Đức Phật A Di Đà

Khi còn là Bồ tát Pháp Tạng, Ngài đã phát 48 lời nguyện sâu rộng. Trong đó, lời nguyện thứ mười tám và mười chín là vô cùng quan trọng:

“Lúc con làm Phật, mười phương chúng sinh nghe danh hiệu con, hằng nhớ nước con, phát tâm Bồ đề kiên cố không thoái chuyển, trồng các cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sinh về cõi nước Cực Lạc của con thảy sẽ được toại nguyện. Nếu các đời trước vốn tạo các nghiệp ác, nghe danh hiệu con liền tự sám hối, vì Đạo làm lành, thụ trì Kinh giới, nguyện sinh nước con, đến khi mạng chung không còn đọa lạc vào ba đường ác, liền sinh về nước của con. Nếu không được như vậy, con thề không thành Chánh Giác”.

Những lời thệ nguyện cao quý này đã được Đức Phật Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai chấp nhận và được tất cả chư Phật mười phương khen ngợi. Sau khi thành Phật, Ngài lấy hiệu là A Di Đà. Suốt năm tiểu kiếp, Ngài đã xây dựng cõi Tây Phương Cực Lạc tuyệt đẹp, thu hút vô lượng Bồ tát và chúng sinh từ khắp mười phương thế giới.

Ngày nay, chúng ta thường thấy mọi người, từ vua quan đến dân thường, người già đến trẻ nhỏ, đều chào nhau bằng câu “A Di Đà Phật”. Đây là sự nhắc nhở về Tự tánh A Di Đà vốn có trong mỗi người chúng ta. Tuy nhiên, khi niệm danh hiệu Ngài, cần niệm đủ sáu chữ hồng danh “Nam mô A Di Đà Phật” theo lời chỉ dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, Đức Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát trong Kinh Niệm Phật Ba La Mật và các kinh điển khác.

Xem thêm: Phật giáo Việt Nam: Sắc màu tâm linh qua y phục hành hương

Một số người chỉ niệm bốn chữ “A Di Đà Phật”, chỉ là gọi tên Ngài mà không phải là niệm Danh hiệu Ngài. Theo Kinh Niệm Phật Ba La Mật, Kinh A Di Đà, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và chư Phật mười phương đều dạy chúng ta phải niệm sáu chữ “Nam mô A Di Đà Phật”.

Kinh cũng dạy:

Quy mạng lễ A Di Đà Phật
Ở phương Tây thế giới an lành
Con nay xin phát nguyện vãng sinh
Cúi xin đức từ bi tiếp độ.

Cụm từ “quy mạng lễ” chính là ý nghĩa của “Nam mô”. Niệm tên Ngài mà không quy mạng Ngài, không trao thân gửi mạng, thì ý nghĩa sẽ giảm đi rất nhiều. Niệm như vậy không trang nghiêm, thiếu chân thành, khó có thể thành tựu.

Phật tử chân chính phải luôn giữ vững lời Phật dạy, dù gặp khó khăn, nguy hiểm cũng không thay đổi. Vì lẽ đó, pháp môn Tịnh Độ tuy dễ tu nhưng không phải ai cũng thành tựu.

Tính phổ quát và lợi ích của pháp môn Tịnh Độ

Pháp môn Tịnh Độ, niệm Phật A Di Đà và Kinh Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác là pháp môn phù hợp với mọi tầng lớp xã hội: người giàu, người nghèo, vua quan, lao động, trí thức, người hạ căn, thành thị hay nông thôn. Hơn thế nữa, pháp môn này còn phù hợp với mọi căn cơ, trình độ, hoàn cảnh, lứa tuổi, giới tính, vô cùng tiện lợi và dễ dàng để đạt được kết quả tu hành nhanh chóng.

Đức Phật đã ban tặng pháp môn quý báu này. Nếu y giáo phụng hành, chúng ta nhất định sẽ thành tựu. Khi lâm chung, Đức Phật A Di Đà, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, Đức Đại Thế Chí Bồ Tát sẽ đến tiếp dẫn chúng ta về cõi Tây Phương Cực Lạc.

Đức Phật cũng khuyên chúng ta nên in ấn, biên chép, đọc tụng Kinh này và phổ biến pháp môn Tịnh Độ. Việc này không chỉ giúp bản thân tu hành mà còn tạo công đức, cúng dường cho người khác. Đây chính là Đại thừa trong Đại thừa mà Đức Phật khuyến khích.

Đối diện với Tăng Thượng Mạn trong thời Mạt Pháp

Các bậc thiện tri thức xưa đã nói: “Thiết giả thường trụ lưu thủy tăng”, tạm dịch là “Người xuất gia là phải làm cho Phật pháp lưu chảy không ngừng”.

Trong Kinh Pháp Diệt Tận, Kinh Pháp Hoa, Đức Phật đã nói về sự xuất hiện ngày càng nhiều của các vị Tăng Thượng Mạn trong thời Mạt Pháp. Họ không nghiên cứu Phật pháp, không giữ giới, ham muốn ngũ dục, nói dối về sự chứng ngộ. Khi Phật còn tại thế, họ che giấu lỗi lầm, nhưng khi Phật nhập diệt, họ xem đó là cơ hội để thỏa mãn bản thân.

Các vị này sợ rằng nếu Cư sĩ tại gia có tâm đức, giữ giới, chuyên tâm học tập kinh điển và hoằng pháp lợi sinh, thì hình ảnh của họ sẽ bị lu mờ và mất uy tín. Do đó, họ tìm mọi cách mê hoặc người khác, đưa ra những quan niệm sai lầm rằng việc hoằng pháp lợi sinh chỉ thuộc về người xuất gia.

Hiện nay, thời Mạt Pháp xuất hiện nhiều hàng Tăng Thượng Mạn, ma, quỷ. Họ còn khoe khoang bằng cấp tiến sĩ, chức sắc Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức để tuyên truyền rằng không có Tịnh Độ Tây Phương Cực Lạc và Phật A Di Đà. Họ phỉ báng chánh pháp mà không sợ đọa địa ngục hay tái sinh làm ngạ quỷ, súc sinh. Họ chính là sứ giả của Ma vương, quay lại phá hoại Phật pháp. Đức Phật đã đoán biết điều này từ trước.

Khi xưa, ngài A Nan đã hỏi Đức Phật:

“Một là: Khi Phật tại thế, Thế Tôn là thầy chúng con, vậy khi Như Lai nhập diệt thì ai là thầy của chúng con?

Tìm hiểu thêm: Giải mã nỗi sợ khi chiêm bái Phật: Lời dạy của Đức Phật về bình an nội tại

Hai là: Khi Thế Tôn đi rồi, hàng Tăng Thượng Mạn đầy rẫy, chúng không giữ giới, lại hay hủy báng chánh pháp. Vậy chúng con phải làm thế nào để đối phó với họ?”

Đức Phật đã dạy: “Sau khi Như Lai nhập diệt, các con hãy lấy giới mà ta chế ra, chỉ dạy để làm thầy.

Khi ta đi rồi, với những hàng Tăng Thượng Mạn thì tốt nhất hãy lờ không thèm để ý đến họ.

Các con hãy lấy Kinh điển giáo lý, giới luật của ta mà đốt đuốc sáng để đi hỡi những người con yêu quý của ta!”

Mỗi người đều có nghiệp riêng. Nghiệp của họ sẽ dẫn họ vào con đường khổ, còn nghiệp của chúng ta đã trao thân cho Phật A Di Đà thì sẽ về Cực Lạc. Chúng ta quyết không để họ dụ dỗ, sa ngã.

Nam mô A Di Đà Phật.

Họ thi nhau nói bậy vì tu theo Tiểu thừa, không giữ giới, ham của cúng dường, vui trong ngũ dục. Họ sợ hãi vì đa số Phật tử ngày nay có trình độ, nhận thức tốt, đều tu theo pháp môn Tịnh Độ Đại thừa. Việc này khiến họ mất ảnh hưởng, ít người cúng dường, nên tìm mọi cách phá hoại Phật pháp, tấn công và phủ nhận pháp môn niệm Phật.

Như Đức Phật đã dạy, với hàng Tăng Thượng Mạn, tốt nhất là lờ đi, không để ý đến họ. Ngay cả khi Phật còn tại thế, loại người này đã xuất hiện. Khi Phật thuyết Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, 5000 vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni là hàng Tăng Thượng Mạn đã bỏ đi. Phật lặng im không giữ.

Con đường chúng ta đã chọn, hãy cứ thẳng tiến mà đi, không cần nhìn về phía sau để khỏi mất thời giờ. Đã có chư Phật, chư Đại Bồ Tát chứng minh cho chúng ta.

Chứng kiến cảnh đau lòng này, nhiều người không kìm được sự bức xúc, tức giận. Tuy nhiên, đạo Phật là từ bi. Hãy khởi tâm nhẫn, thương xót họ và lập nguyện: “Khi con được về Tây phương Cực Lạc tu thành Bồ Tát Bất Thối, thành Phật, con sẽ xuống địa ngục để độ họ, cứu vớt họ”.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát.

Chúng con vì chánh pháp nên phải vào “nhà lửa” để lột bỏ xiêm y tà ma, ngoại đạo, ác ma, bắt chúng hiện nguyên hình. Chúng con xin dùng lửa Tam Muội để đốt đi những bằng Tiến sĩ giả dối ngày nay, không cho chúng tự tung tự tác. Kính mong các đấng Thế Tôn chứng giám.

Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Pháp Hoa và pháp môn tu Tịnh Độ niệm danh hiệu Phật A Di Đà đều là lời kim khẩu của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, Đức Đại Thế Chí Bồ Tát, Đức Đại Hạnh Phổ Hiền và mười phương chư Phật. Như ngài A Nan đã nói: “Mặt trăng mặt trời còn có thể rơi, núi Diệu Cao còn có thể lung lay, còn lời Phật dạy không bao giờ hư dối. Vì sao? Vì ba nghiệp thân, khẩu, ý của Phật đã tuyệt đối thanh tịnh.”

Chúng con nay mượn chày Kim Cang của các đấng Thế Tôn để đập tan bức tường Ma, Quỷ đã dựng lên, ngăn cản bánh xe Pháp luân, Kinh điển Đại thừa, pháp môn niệm Phật A Di Đà lăn xa hơn.

Chúng con biết tội mà họ mắc phải sẽ dẫn họ đọa vào địa ngục A Tỳ. Chúng con nguyện dùng phương tiện để độ họ sau này ra khỏi đó, thề không buông bỏ họ.

Chúng tôi cho in cuốn Kinh Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác này và viết phần chú giải để giúp quý vị mới bước vào cửa Tịnh Độ dễ dàng trong việc học tập tu hành. Dù tài đức còn sơ, nhưng thấy làm được gì lợi ích cho mọi người thì xin hoan hỷ thực hiện. Kính mong các vị minh sư, đồng tu chỉ bày và thông cảm.

Khám phá: Luân Hồi Vong Linh: Lối Thoát Nghiệp Chướng Về Cõi Vĩnh Hằng

Chúng tôi đã nhận được duyên lành từ thích nữ Linh Hảo và sư cô Thúy Hằng tại tự viện Linh Sơn thế giới (Pháp) với cuốn Kinh này và các bài giảng về pháp môn trì danh, niệm Phật của thầy Tịnh Không qua đĩa DVD. Chúng tôi cũng được học pháp môn Tịnh Độ, đọc tụng Kinh A Di Đà của thầy Thích Thiện Hoa và nghiên cứu cuốn Kinh Di Đà Yếu Giải của thầy Thích Phước Nhân.

Đặc biệt, chúng tôi xin tri ân sự dạy bảo của ngài Pháp Sư Tịnh Không và thầy Thích Huyền Vi tại tự viện Linh Sơn thế giới (Pháp), người đã khởi xướng chủ trương kêu gọi mọi người tu Thiền và thực hành Thiền-Tịnh song tu hay Mật-Tịnh song tu. Qua sách của Đại lão Hòa thượng Quảng Khâm bên Đài Loan, nghe theo lời huấn thị của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chúng tôi mạnh dạn biên soạn lại cuốn Kinh này với mong muốn lan tỏa lợi ích đến quần sinh.

Biết trình độ Phật pháp còn hạn chế, nhưng không thể ngồi yên tu hành cho lợi ích riêng khi còn nhiều người chưa có duyên gặp Kinh và pháp môn này. Vì vậy, chúng tôi trân trọng chia sẻ kết quả và thu hoạch sau nhiều năm học tập, thực hành. Xin quý đồng tu coi đây là duyên lành, món quà trợ thêm phúc đức cho quý vị trên đạo Phật và pháp môn Tịnh Độ. Nếu có công đức, chúng tôi xin hồi hướng cho tất cả pháp giới chúng sinh, mong ánh sáng vĩ đại của Đức Phật A Di Đà chạm đến tất cả, và khi lâm chung, chúng con được Phật và Bồ Tát tiếp dẫn về cõi Tây Phương Cực Lạc.

Chúng tôi xem đây là công trình, thành quả của tập thể các thầy, thích nữ Linh Hảo, các vị Hòa thượng, Pháp sư, cư sĩ đã tạo nhân duyên cho Phật tử Làng Phổ Đà Liên Hoa Tịnh Độ, TP. Hải Phòng được thực hiện. Đặc biệt, chúng tôi kính dâng thành quả này lên ngài Hòa thượng Pháp Sư Tịnh Không, người thầy đã dạy bảo về pháp môn Tịnh Độ và mang đến phúc đức lớn lao này.

Chúng tôi xin hồi hướng công đức này đến Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Đức Phật Vô Lượng Thọ!

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô A Di Đà Phật.

Mùa kiết hạ 2013

Trân trọng,

Cư sĩ Quảng Tịnh

Để hiểu sâu hơn về những lời dạy quý báu của Đức Phật về con đường giải thoát, mời quý vị khám phá thêm trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang