Khả Tính Thành Phật Nữ Nhân: Khám Phá Toàn Diện

02 1459 1
0
(0)

Từ những quan niệm truyền thống về vai trò nữ giới, giáo lý Phật giáo đã mở ra một tầm nhìn mới về khả năng chứng ngộ. Khám phá cách tiếp cận bình đẳng của Đức Phật, dù có những tập khí được cho là gắn liền với phái nữ, không hề mâu thuẫn với con đường giải thoát. Tìm hiểu thêm về những góc nhìn sâu sắc này tại chiasedaophat.com.

Khả Năng Đạt Thành Phật Quả của Người Nữ: Một Góc Nhìn Tinh Tấn

Trong dòng chảy lịch sử, hình ảnh người phụ nữ luôn là tâm điểm của nhiều suy tư, tranh luận, từ góc độ nghệ thuật, họ thường được ví với vẻ đẹp kiều diễm của hoa, tỏa hương sắc quyến rũ. Tuy nhiên, khi soi chiếu vào Tam Tạng Thánh Giáo, một bức tranh khác hiện lên, khắc họa những tập khí, phiền não được cho là gắn liền với phái nữ.

Điều này không mâu thuẫn với giáo lý bình đẳng của Đức Phật, đặc biệt sau khi Ngài chấp nhận cho nữ giới xuất gia. Vấn đề cốt lõi nằm ở sự chân thật của con đường Đạo. Nếu mục tiêu tối thượng là giải thoát luân hồi và chứng nhập Vô sinh, thì nhân duyên để đạt được điều đó phải xuất phát từ sự thấu hiểu chân lý: có chính kiến, nhận rõ Khổ, Tập, Diệt và tu tập theo Đạo.

Trong các kinh Nikaya, khi lấy con người làm trung tâm, lời khuyên về việc thận trọng trước nữ sắc trở nên dễ hiểu. Sức hấp dẫn của phái nữ có thể khiến hành giả chìm đắm trong luân hồi, khó bề thoát ly, tựa như khó thoát khỏi lưới ái tình.

Tuy nhiên, sự phát triển của Phật giáo Đại thừa đã mang đến một cái nhìn mới, đề cao vị trí của người nữ, cho rằng họ cũng có khả năng đạt đến quả vị Phật, ngang tầm với nam giới. Điều này đòi hỏi chúng ta cần suy ngẫm sâu sắc hơn về giáo pháp của Đức Thế Tôn.

Với mong muốn làm sáng tỏ vấn đề này, bài viết sẽ đi sâu vào phân tích khả năng thành Phật của người nữ qua lăng kính so sánh và chiêm nghiệm triết học. Mục tiêu là làm nổi bật sự thống nhất trong tư tưởng Phật giáo qua các thời kỳ, từ đó củng cố niềm tin và vững tâm trên con đường Bồ đề.

Nữ nhân và con đường tu tập Phật pháp

1. Những Khía Cạnh Được Nhấn Mạnh Về Người Nữ Trong Kinh Tạng

Khi tìm hiểu về Phật giáo, việc quay về bối cảnh xã hội Ấn Độ cổ đại là cần thiết. Xã hội này tồn tại sự phân tầng giai cấp sâu sắc, ăn sâu vào tư tưởng về sự sinh khởi của con người và thế giới. Quan niệm này, vốn có từ trước khi Đức Phật xuất hiện, đã tạo ra những rào cản khó vượt qua cho các tầng lớp thấp kém, bao gồm cả sự kỳ thị đối với người nữ.

Đức Phật, với lòng từ bi vô hạn, đã đến thế gian để cứu khổ chúng sinh. Ngài nhận thấy sự đau khổ là đồng đẳng giữa các giai cấp, thay vì dẫn dắt chúng sinh đi vào lối mòn sai lầm như một số giáo chủ ngoại đạo. Người phụ nữ, đặc biệt là những người thuộc tầng lớp thấp, phải gánh chịu cả gông cùm của xã hội lẫn sự ràng buộc trong gia đình.

Họ không chỉ chịu sự áp bức từ giai cấp trên mà còn là đối tượng để chồng giải tỏa cảm xúc, là người hầu hạ trong gia đình chồng, thậm chí là vật trao đổi của gia đình mình. Sự khinh rẻ, xem thường là điều họ phải đối mặt hàng ngày. Nếu có thể quay ngược thời gian, chắc hẳn chúng ta sẽ cảm nhận được nỗi đau đớn, sự đè nén mà họ phải chịu đựng, chỉ có nước mắt và mồ hôi làm bạn.

Chính vì những nguyên nhân này, có những đoạn kinh văn mô tả rằng: “như thiện nam, thiện nữ v.v… không có ai mà chẳng cầu thân nam tử. Vì sao? Vì tất cả nữ nhân đều là chỗ chứa của mọi thứ ác”. Nỗi đau khổ, đáng thương của người nữ và áp lực từ chế độ xã hội đã được Đức Phật thấu tỏ. Tuy nhiên, sự thật còn đau xót hơn đã được Ngài chỉ ra trong kinh văn:

“Nữ nhân uế Phạm hạnh,

Khiến loài Người hệ lụy,

Khổ hạnh và Phạm hạnh,

Là tắm không cần nước.”

Những tập khí xấu xa được cho là gắn liền với người nữ rất khó để chế ngự: “Dầu ta có nắm tay, cũng không thể canh giữ nữ nhân khỏi trốn được. Như vậy, không ai có thể canh giữ nỗi đàn bà.”

Khi đọc những bài kinh phân tích những thói hư tật xấu của người nữ, không ít người cảm thấy kinh hoàng:

“Bọn nữ nhân đầy rẫy hận sân,

Nói mồm hai lưỡi, bọn vong ân,

Kẻ gieo chia rẽ, rồi gây chiến,

Vậy hỡi Tỷ-kheo, hãy bước chân.”

Bên ngoài vẻ ngoài mong manh, yếu đuối, người phụ nữ có thể ẩn chứa những khía cạnh tính cách đáng suy ngẫm:

“Nữ nhân chẳng phải rộng lòng,

Phát ban thường vẫn cản ngăn cố tình,

Biết nhiều mưu kế thông minh,

Thường hay lạc lối, ác hành tạo nên.”

Nếu những tính xấu này đủ để đưa con người vào ác đạo, thì sự quyến rũ về sắc, hương, vị của người nữ còn có thể dẫn dụ, kéo lôi nhiều người khác sa đọa, gây tan vỡ gia đình và chịu sự chế giễu của xã hội. Đức Phật đã nhiều lần cảnh báo về sự ràng buộc của người nữ, có thể làm mê muội tâm trí, khiến việc quay đầu hướng thiện trở nên khó khăn:

“Này các Tỷ-kheo, nữ nhân trói buộc nam nhân với sắc; này các Tỷ-kheo nữ nhân trói buộc nam nhân với tiếng cười; này các Tỷ-kheo, nữ nhân trói buộc nam nhân với lời nói; này các Tỷ-kheo, nữ nhân trói buộc nam nhân với lời ca; này các Tỷ-kheo, nữ nhân trói buộc nam nhân với nước mắt; này các Tỷ-kheo, nữ nhân trói buộc nam nhân với áo quần; này các Tỷ-kheo, nữ nhân trói buộc nam nhân với vật tặng; này các Tỷ-kheo, nữ nhân trói buộc nam nhân với xúc chạm. Với tám hình tướng, này các Tỷ-kheo, nữ nhân trói buộc nam nhân. Các loài hữu tình bị khéo trói buộc bởi các hình tướng ấy, giống như trói buộc bởi bẫy sập.”

Thân người nữ, giống như chiếc bình có thể chứa đựng cả vật quý báu lẫn bùn nhơ, vốn đã chứa đựng nhiều hệ lụy và phiền não, lại còn là nhân duyên kéo theo sự ràng buộc trong vòng luân hồi. Những hệ lụy đau thương có thể bắt nguồn từ đây:

“Phẫn nộ là nữ nhân, này Ananda. Tật đố là nữ nhân, này Ananda. Xan tham là nữ nhân, này Ananda. Ác tuệ là nữ nhân, này Ananda. Ðây là nhân, đây là duyên, này Ananda, nữ nhân không ngồi giữa pháp đình, không có dấn thân vào sự nghiệp, không đi đến tinh túy của sự nghiệp.”

Việc mang thân nữ nhân, dù là do huân tập từ nhiều kiếp hay do một niệm bất thiện khởi lên, tham sắc, đắm hương, đều là điều mà chỉ Đức Như Lai, bậc Chính Đẳng Giác, mới có thể thấu tỏ và chỉ lối thoát ly. Nhân ác, duyên ác chắc chắn dẫn đến quả ác là điều khó tránh khỏi:

“Phần lớn các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, phải sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do đầy đủ với bao nhiêu pháp, bạch Thế Tôn, các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?”

Là bậc Thầy, Đức Phật không chỉ chỉ ra những lậu hoặc của chúng sinh mà còn ân cần dạy bảo phương cách chuyển hóa. Tương tự, những điều Ngài chỉ ra về người nữ không phải để trách phạt hay chồng chất áp lực, mà là con đường giải thoát mà Ngài trao tặng cho tất cả chúng sinh, bao gồm cả người nữ, để họ được an lạc.

Không chỉ những người phụ nữ xưa ở Ấn Độ hay các Tỳ-kheo-ni thời Đức Phật cảm nhận được sự giải thoát khi được trả về vị trí xứng đáng trong xã hội và trên con đường tu tập, mà ngay cả ngày nay, sau hơn hai nghìn năm trăm năm Đức Phật nhập Niết Bàn, người viết cũng phần nào thấy mình trong những lời dạy đó, đồng thời nhận thức được cơ hội được sống trọn vẹn ý nghĩa, kiến giải chân chính, thanh tịnh và hòa hợp dưới ánh sáng của Trí tuệ – Từ bi.

Ni đoàn theo truyền thống Nam truyền tại Aloka Vihara (Mỹ).

Ni đoàn theo truyền thống Nam truyền tại Aloka Vihara (Mỹ).

2. Người Nữ Trên Con Đường Chứng Đạo và Đạt Quả

Đức Thế Tôn xuất hiện với những lời chân thật, mang lại sự thanh tịnh, an lạc, hiền thiện và giải thoát. Đây là đức hạnh của bậc Thiện Thệ trên bước đường độ sinh, mà không ai có thể phủ nhận. Cuộc đời hành đạo của Ngài đã mang đến câu trả lời cho nhân loại về nhận định này.

Từ khi Đức Phật chấp thuận thành lập Ni đoàn, cho phép nữ giới xuất gia, nhiều vị Thánh Ni đã đạt được sự giải thoát tương tự như các Thánh Tăng, được ghi lại trong bộ Trưởng Lão Ni Kệ, với những tấm gương sáng như Dhīrā, Vīrā, Mittā, Bhadrā, Upasamā và các thiện nữ thời Phật như Visakha, Migaramata, Ambapali…

Giống như chiếc bình dơ bẩn, khi gặp duyên lành có thể gột rửa và chứa đựng vật báu, dù thân người nữ chứa đựng nhiều lậu hoặc, nhưng nếu có duyên tu tập hiền thiện đều được gọi là “thiện nữ nhân”. Họ dần tu tập các hạnh lành, tích đức ngay tại vị trí của mình, dù là trong gia đình hay ngoài xã hội:

“Khi nữ nhân hiền đức vẹn toàn,

Tại đây được thấy giữa trần gian,

Chính chân nội tướng đầy nhân ái

Với mẹ chồng, như phận sự nàng.

Khi chư Thiên biết một hồng nhan,

Lòng trí cao minh, nghiệp thiện toàn,

Dù nữ nhi, mà từ thượng giới,

Thiên chúng đích thân đến với nàng.

Giữ đời đức hạnh, hỡi Nương nương,

Tìm hiểu thêm: Tứ Diệu Đế: Khai Mở Trí Tuệ, Vượt Thoát Ảo Vọng.

Nhờ tích trữ toàn việc thiện lương,

Công chúa xuất thân, đà đạt được

Trọn niềm hạnh phúc vẫn cầu mong.

Vậy nàng gặt hái nghiệp duyên nàng

Bằng cảnh huy hoàng ở thế gian,

Công chúa, về sau trên thượng giới

Tái sinh nàng được hóa Thiên thần.

Nữ nhi hiền đức, hưởng hồng ân!

Cứ sống giữ gìn hạnh chính chân,

Nay lúc ta cần về thượng giới,

Vui mừng vì diện kiến tôn nhan.”

Mỗi người đều có vị trí và trách nhiệm riêng trong xã hội. Có những người phụ nữ yêu thích bố thí, giữ gìn năm giới, trở thành cư sĩ tín tâm. Có người hiểu sâu về tội phước, mong muốn thoát khỏi sinh tử, thấy rõ sự vô thường của thế gian, đã xuất gia để sống đời sống ly gia, cũng có cơ hội giải thoát.

Giáo pháp của Đức Phật mới thực sự toàn hảo đến thế: “Này A-nan, nữ nhân phải phụng hành tám trọng pháp này và không được vi phạm. Nữ nhân phải suốt đời phụng trì giới này. Này A-nan, cũng như người đánh cá giỏi hay đệ tử của ông ta vào trong nước sâu để thả lưới, phải đắp đập ngăn chặn để giữ nước không cho chảy ra ngoài. Cũng vậy, này A-nan, nữ nhân phải phụng hành tám trọng pháp, không được vi phạm. Nữ nhân phải phụng trì giới này suốt đời.”

Thuận theo giáo Pháp Như Lai, không phân biệt thân tướng, mọi người đều có cơ hội chứng quả giải thoát. Như trong Kinh Tương Ưng bộ, phẩm Thiêu Cháy đã ghi lại:

“Không kể nam hay nữ,

Đều dùng cỗ xe ấy,

Chính nhờ cỗ xe ấy,

Hướng tiến đến Niết Bàn.”

Trong thế gian, sự tồn tại của người phụ nữ thường phụ thuộc vào nam quyền. Tuy nhiên, trong biển giáo pháp rộng lớn của Đức Phật, không có sự phân biệt giữa người sống hay đã chết, không dung nạp những tâm niệm hạ liệt, đắm chìm trong ngũ dục, cam chịu khổ đau và luân hồi. Tất cả đều quy về một mối, nương tựa vào chính mình để giải thoát.

Bốn giai cấp Sát đế lợi, Bà la môn, Phệ xá, Thủ đà la, khi đến với giáo pháp đều có chung danh hiệu Thích tử: “Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sinh ra là con gái vị giáo sĩ của vua Bimbisàra (Bình Sa Vương) và được đặt tên là Somà. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng trở thành một tín nữ, và về sau nàng xuất gia và nhờ triển khai thiền quán, nàng chứng được quả A-la-hán với nghĩa tín thọ, pháp tín thọ.”

Giáo pháp không giới hạn trong một giai cấp, không thuộc về chế độ cầm quyền, không theo lối mòn tư tưởng nam quyền cũ, mà như “xe báu” cho tất cả mọi người, từ Bimbisara, Ajatasattu, Kassapa, Saraputta, Upali, Ambapali, Angulimana… Do đó, người nữ cũng có phần trong đó: “Này Ànanda, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A-la-hán quả.”

Kinh điển Nikaya khi bàn về sự chứng đắc đối với nữ nhân đã thể hiện sự từ bi và bình đẳng trong giáo pháp của Đức Thế Tôn: “Đức Phật đã mở rộng cánh cửa cho nữ nhân các giới có cơ hội tu tập. Giáo hội tỳ-khưu-ni đã được thành lập rồi, ngay cạnh khu rừng Mahāvana của tỳ-khưu Tăng. Mấy trăm công nương, cung nga thể nữ dòng tộc Sakyā, dẫn đầu là hoàng hậu Gotamī, công nương Yasodharā, sương phụ của đức Phật, đã được gia nhập đoàn nữ samôn. Và nghe đâu, đức Phật ấy không phân biệt nữ nhân thuộc giai cấp, tầng lớp nào trong xã hội.”

Tiếp nối giai đoạn kinh điển Đại thừa, vị trí của người nữ không chỉ dừng lại ở quả vị A La Hán. Kinh Tương Ưng Ba, Thiên Uẩn, Phẩm Tham Luyến ghi chép sự khác biệt giữa Phật và chư vị chứng A La Hán. Cả hai đều được giải thoát nhờ trí tuệ, xa rời tham dục, đoạn trừ sắc dục và không chấp thủ. Tuy nhiên, các vị đệ tử Phật lấy Phật làm căn bản, y chỉ vào Ngài, là bậc tuyên thuyết và thuần thục đạo.

Từ đó có thể thấy, ngôi vị Phật vẫn là đỉnh cao với sự “Tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn”. Nối tiếp tư tưởng trong Nikaya, kinh điển Đại thừa đã kế thừa và phát triển quan niệm về vị trí của người nữ sau khi chứng A La Hán:

“Lại nữa, này thiện nam! Như cây A-thúc-ca, cây Ba-tra-la, cây Ca-ni-ca, mùa xuân nở hoa bầy ong hút lấy sắc hương mỹ vị chẳng biết chán. Nữ nhân dâm dục với nam tử cũng như vậy, chẳng biết nhàm chán. Này thiện nam! Do nghĩa này nên các thiện nam, thiện nữ v.v… nghe được kinh điển Đại Niết-bàn Đại Thừa này thì thường nên chê trách thân tướng nữ nhân, cầu được thân nam tử. Vì sao? Vì kinh điển Đại Thừa này có tướng trượng phu, gọi là Phật tính. Nếu người chẳng biết Phật tính này thì không có nam tướng.

Vì sao? Vì chẳng thể tự biết có Phật tính. Nếu có người chẳng thể biết Phật tính thì ta nói những người đó là nữ nhân. Nếu người có thể tự biết có Phật tính thì ta nói người đó là đại trượng phu. Nếu có nữ nhân có thể biết thân mình nhất định có Phật tính thì phải biết những người đó là nam tử.”

Sự chuyển giao tư tưởng từ Nikaya sang Đại thừa, cùng với sự hình thành học thuyết về Tính, đã lý giải và dung hòa những điểm còn thiếu sót trong hệ thống tư tưởng Phật giáo trước đó, hướng đến sự đồng nhất. Tính và tướng được phân định rõ ràng, ngôn ngữ được trau chuốt hơn cho việc tu học và nghiên cứu về sau. Ở tầm nhận thức cao hơn, tướng sẽ trở thành chướng ngại ngăn giữ sự giải thoát.

Ngoài ra, hình tướng là một phần của sự chấp thủ. “Thủ” trong nhân duyên đại diện cho thời “hiện tại”. Nếu không cắt bỏ mắt xích này, người tu đạo sẽ tự làm vướng chân mình, tựa như câu chuyện sang bờ mà vẫn giữ thuyền trên lưng. Bản nguyện từ Bồ Tát sơ phát tâm đến ngôi vị Bất thoái chuyển là:

“Đại phạm Diệu Âm thưa: “Thưa Thế Tôn! Con nay dùng hình tướng nữ nhân này, sẽ khéo hộ trì tất cả nữ nhân, sẽ khéo thành thục tất cả nữ nhân.”

Ý nghĩa của kinh điển là bất khả tư nghì, khó có thể luận bàn bằng ngôn từ hạn chế. Nghĩa lý tùy thuộc vào tâm ý của người nghe hiểu đến đâu. Tuy nhiên, không thể vì tri thức hạn hẹp mà giới hạn nhận thức về giáo pháp. Giống như chú ếch sống trong giếng, chỉ nhìn thấy bầu trời trong miệng giếng và khẳng định thế giới bên ngoài chỉ có vậy.

Mỗi nhận định cá nhân đều tùy thuộc vào tâm. Khi nghe pháp, ý nghĩa hiển bày có thể khác nhau. Người viết chỉ dựa vào kinh điển để diễn bày ý nghĩa pháp trong tầm hiểu biết của mình.

3. Từ Nhân Vật Long Nữ Đến Khả Tính Thành Phật Của Người Nữ và Sự Thống Nhất Tư Tưởng Phật Giáo

Sự kiện Long nữ thành Phật sau khi dâng cúng “ngọc châu” là một minh chứng cho sức mạnh thần bí được đề cập trong kinh sách, khó lòng nghĩ bàn. Kinh “Phẩm Đề Bà Đạt Đa” chia làm hai phần: Về vô lượng kiếp xưa, có vị Tiên nhân truyền dạy Kinh Pháp Hoa cho Đức Thích Ca, nhờ đó Ngài thành đạo. Nay Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi truyền kinh, Long nữ cũng thành Phật.

“Trong kinh Đại phẩm: Hành giả muốn được tất cả các pháp, phải học lý Bát Nhã, như được hạt châu như ý.” Hạt châu biểu thị cho người tu tập “nhân” viên đốn. Long nữ dâng châu thành đạo là ý chỉ dùng Pháp chân thật duy nhất (Phật thừa) để trừ bỏ nghi hoặc và đạt được “quả”. Sự tương ưng nhân quả khi Đức Phật nhận châu chỉ ra sự thành tựu mau chóng.

Nếu trong kinh tạng Nikaya là chứng quả A La Hán trong một đời, thì bước chuyển tiếp trong kinh Pháp Hoa là thành Phật ngay trong hiện tại. Phẩm này nói về Long nữ là minh chứng cho nhân viên quả mãn. “Biển” là nơi trầm luân. “Rồng” đứng đầu tam độc. “Nữ thân” mang tâm tà cấu trược. “Hiến dâng” ngọc châu trong thời gian ngắn. Điều này cho thấy ý nghĩa sâu sắc: cần thân cận thiện duyên (được giáo hóa bởi Đại Trí Văn Thù Sư Lợi).

Trong kinh tạng nguyên thủy, người nữ được xem là hố sâu chứa đựng những điều xấu xa, là bẫy mồi của luân hồi, là lưỡi hái tử thần ngọt ngào nhất. Tuy nhiên, khi bước sang thời kỳ Phật giáo Đại thừa, đại diện là Kinh Pháp Hoa, người nữ đã có một sự chuyển mình vượt bậc. Không chỉ dừng lại ở quả vị A La Hán, kinh Xử Thai ghi: “Pháp tính như biển lớn, không nói đến phải trái, phàm phu, hiền Thánh, bình đẳng không cao thấp, chỉ do tâm cấu diệt, chứng đắc thật dễ dàng.”

Việc Long nữ thành Phật xuất phát từ nhân duyên nghe Pháp, giống như Bồ Tát xưa kia thành Chính Đẳng Giác. Biển lớn sinh tử là nơi trú ngụ của ác duyên, nghiệp chướng. Nếu không có Diệu trí thì không thể thâm nhập, không có Diệu pháp thì không thể chuyển hóa thành Diệu hạnh. Khi trí tuệ khởi lên, nghiệp chướng tiêu tan, vô số phiền não tự thanh tịnh:

“Hiểu sâu tướng tội phúc,

Chiếu khắp cả mười phương

Pháp thân mầu nhiệm tịnh,

Đủ ba hai tướng tốt,

Và tám mươi vẻ đẹp

…Duy Phật mới chứng biết…”

Khám phá: 1995 – Tuổi vàng bứt phá: Kết hôn, an cư, đón phú quý

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Mới phát tâm liền thành chính giác”. Kinh Tịnh Danh ghi: “Một niệm ngồi đạo tràng”. Kinh Pháp Hoa: “Trong khoảng sát na liền thành Phật”. Tất cả đều nhờ sơ trụ chứng trí Vô sinh nên nói thành Phật. Chúng sinh mỗi phương tùy theo phúc đức mà ngộ nhập Pháp khác nhau. Như chúng sinh cõi Ta bà chỉ có thể dùng hình mẫu Long nữ thành Phật để giáo hóa. Còn ở phương Nam, chúng sinh duyên thuần thục nên được giáo hóa bằng tám tướng thành đạo. Mỗi cảnh thấy nghe của cõi uế trược này đều lưu xuất từ tâm, nên gọi là y báo chính báo.

Đây có thể xem là phương tiện khéo léo, thể hiện tính chân thật, quy kết thành thể thâm đạt, chiếu khắp, hàm tàng ý nghĩa sâu xa, không thể nghĩ bàn, đó là nghĩa quyền thật. Con gái vua Rồng Ta Kiệt La có căn tính lanh lợi, trí tuệ thông đạt các pháp, là biểu hiện của việc phát tâm bồ đề, đạt được sự bất thoái chuyển, siêng năng tu tập chứng nhập Sơ trụ hay niệm bất thoái, chứng Vô sinh, liền có thể thành Phật trong trăm cõi. Long nữ chuyển thân nam để thành Phật đều là phương tiện dụ cho Nhất thừa:

“Chuyển thân nữ chỉ là cách hiển bày thần lực của kinh, hiển thị thân nữ là thân nam, tướng mà không tướng nhất định chứ không phải khi đó con gái vua rồng mới thành – diệu dụng quyền thật.”

Tựa như:

“Phật bảo Hiền giả Xá-lợi-phất: Nên biết, Chuyển luân thánh vương Phước Đức Thanh Tịnh lúc bấy giờ đâu phải người nào khác mà chính là Bảo Nữ. Bảo Nữ này ở chỗ Đức Phật Duy Vệ đã phát khởi đạo ý Chính chân vô thượng. Hiền giả Xá-lợi-phất hỏi Thế Tôn: Vì tội chướng gì mà thọ thân nữ nhân? Phật bảo Xá-lợi-phất: Bồ-tát Đại sĩ không vì tội chướng mà thọ thân nữ. Vì sao? Vì Bồ-tát Đại sĩ dùng tuệ thần thông theo phương tiện thiện xảo Thánh minh, hiện thân nữ nhân để giáo hóa quần sinh.

Theo ý của Hiền giả Xá-lợi-phất thì sao? Bảo Nữ này là nữ nhân chăng? Chớ nghĩ tưởng như thế! Nương nơi diệu lực Thánh thông mà có sự biến hóa, đó là chân Bồ-tát. Nên khởi quán như thế này thì không có pháp nam thì không có pháp nữ, đầy đủ tất cả các pháp yếu thì không đến không đi. Bảo Nữ này ở cõi Diêm-phù-đề giáo hóa, truyền trao cho chín vạn hai ngàn các chúng đồng nữ đều phát đạo ý Chính chân vô thượng. Khi ấy, Bảo Nữ nói với Hiền giả Xá-lợi-phất:

Thưa Trưởng lão! Trưởng lão đâu có thể hiện thân nữ để nói pháp cho chúng sinh? Hiền giả Xá-lợi-phất nói: Như tôi hiện giờ không ưa thích thân nam, huống là trở lại thọ thân nữ! Bảo Nữ hỏi: Thầy đã chán ghét thân uế trược của mình rồi sao? Đáp: Thật nhàm chán!”

Đức Thiện Thệ, trước khi thành Chính giác, cũng đã trải qua vô số kiếp tu hành Bồ tát đạo. Ngay cả cách Ngài đản sinh, xuất thế, gia đình, dòng tộc, cha mẹ… đều là sự viên mãn. Không chỉ riêng Bồ tát, mà cả những nhân vật, sự kiện, hiện tượng xung quanh Đức Như Lai cũng cần nhiều duyên để tạo thành.

Như mẹ của Thái tử, trước khi thành đạo cũng phải tích lũy đầy đủ công đức:

“Nếu có bậc nữ nhân nào thành tựu đầy đủ ba mươi hai loại công đức thì sẽ làm mẹ Bồ-tát. Ba mươi hai đức ấy là những gì? Một là tên tuổi được nhiều người biết đến; hai là mọi người đều khen ngợi; ba là dung nghi mẫu mực; bốn là các tướng đều đầy đủ; năm là thuộc dòng họ cao quý; sáu là vô cùng đoan chính; bảy là danh vọng và đức hạnh tương xứng; tám là hình dáng dung mạo cân đối xinh đẹp; chín là chưa từng mang thai; mười là giới tính trọn đủ;

Mười một là tâm không chấp trước; mười hai là nhan sắc luôn tươi vui; mười ba là vận động thuận theo phía tay phải; mười bốn là sáng suốt tỉnh táo; mười lăm là tính tình hòa dịu, mềm mỏng; mười sáu là thường không sợ hãi; mười bảy là nghe rộng, nhớ giỏi; mười tám là trí tuệ trang nghiêm; mười chín là tâm không nhỏ nhen, nịnh bợ; hai mươi là không hề trí trá, lừa dối; hai mươi mốt là chưa từng giận dữ; hai mươi hai là thường không keo kiệt, bỏn sẻn; hai mươi ba là tính tình không ganh ghét, đố kỵ;

Hai mươi bốn là tính tình không thô tháo, loạn động; hai mươi lăm là dung sắc luôn đằm thắm, dịu dàng; hai mươi sáu là miệng không thốt ra lời độc ác; hai mươi bảy là đối với sự việc luôn gắng nhẫn nhục; hai mươi tám là luôn biết tự hổ thẹn; hai mươi chín là cả ba độc đều không có; ba mươi là luôn xa lánh tất cả hạng nữ nhân tội lỗi; ba mươi mốt là hết lòng cung kính chư Thiên; ba mươi hai là các tướng đều viên mãn.

Đó là nói về ba mươi hai đức hạnh. Nếu có bậc nữ nhân nào có đầy đủ các công đức ấy thì mới xứng đáng để làm mẹ Bồ-tát. Bồ-tát không nhập thai vào những ngày không có trăng sáng, chỉ chọn những ngày có trăng sáng hợp với sao Phất-sa, thời gian này người mẹ đang thọ trì trai giới thanh tịnh, chính lúc đó Bồ-tát sẽ thị hiện nhập thai.”

Hầu hết các kinh điển Đại thừa đều ghi chép:

“Đức Phật bảo A-nan: Ưu-bà-di Hằng-giá-điều này đời vị lai, kiếp tên là Tinh tú, sẽ ở trong kiếp đó thành Phật hiệu là Kim Hoa Phật. Đức Phật bảo A-nan: Vị Ưu-bà-di này đời sau sẽ bỏ thân hình nữ nhân, thọ thân hình nam tử, liền sinh ở nước của Đức Phật A-súc. Con đã dùng hình tướng nữ nhân, trong các thế giới, nhiều như cát sông Hằng, ở khắp mười phương và vô số kiếp ở mỗi một thế giới, nhiều như số cát sông Hằng.

Con đã dùng tướng, lực, tinh tấn dũng mãnh, siêng năng như vậy cho đến cung cấp hầu hạ… đầy đủ như vậy! Như vậy! Chúng sinh bệnh khổ, đều làm cho thành thục hết; về sau, thân con sẽ được Vô thượng Chính đẳng Chính giác.”

Có thể nói, giai đoạn Phật giáo Đại thừa ra đời đã giải đáp, tiếp nối những sự kiện còn dang dở của kinh tạng Nikaya. Khái niệm “nam – nữ” đến đây đã được thông tỏ, giải tỏa những phiền mắc, chấp thủ về thân tướng của thời kỳ kinh điển trước. “Phật bảo Xá-lợi-phất: Người nữ sinh ra làm Phật thì không có việc ấy, nếu chuyển thân nữ rồi làm Phật thì có việc ấy.”

Tuy nhiên, trong kinh Đại Bảo Tích, Q.98, Pháp hội 30, khi Bồ Tát Văn Thù hỏi đồng nữ Diệu Tuệ rằng: “Nay đồng nữ vẫn chưa chuyển đổi thân nữ nhân ư?” thì Diệu Tuệ đáp: “Tướng nữ nhân là hoàn toàn không có thì chuyển đổi cái gì?”

Đến sau này, đề tài xoay quanh việc tu học chứng đắc của nữ nhân vẫn còn nhiều lý giải khác nhau. Nếu Phật giáo là một dòng tư tưởng với mục đích giải thoát, thì việc quan tâm đến vấn đề nhỏ trong đó, đặc biệt là về nữ nhân, là điều cần thiết. Thế giới ngày nay còn có xu hướng nhận thức chia thành “bản chất và hiện tượng”, dẫn đến nhiều vấn đề triết học chưa có hồi kết.

Những câu hỏi vẫn còn đó và được giải đáp nhiều lần nhưng chưa thỏa mãn: “Nữ giới lại có năm điều chướng ngại. Một là không thể làm Phạm Thiên vương, hai là không thể làm Đế Thích, ba là không thể làm Ma Vương, bốn là không thể làm Chuyển luân Thánh vương, năm là không thể làm Phật. Như vậy thân nữ sao có thể mau chóng thành Phật được?”

Nhất Nguyên đáp:

“Nếu luận về hình tướng, quả thật có những điều như vậy. Nhưng luận về sự cốt yếu của bản tính thì không có những việc ấy. Thời Phật tại thế có vị Long nữ (1) mới 8 tuổi nhưng trí huệ đầy đủ, căn cơ nhanh nhạy, thành Phật chỉ trong chốc lát.(2) Vậy lẽ nào việc thành Phật lại do nơi hình tướng nam, nữ, già, trẻ hay sao?

Trong Thiền tông có rất nhiều người thuộc nữ giới mà ngay trong đời này cũng rõ được tâm, thấy được tính, làm thầy làm tổ, huống chi là việc vãng sinh sau khi đã bỏ thân này? Nếu ông cố chấp cho cái hình tướng nữ giới là thật, quả là rất không thông đạt lý tính. Người không thông đạt lý tính mới chính là nữ nhân; như nắm hiểu được chỗ cốt yếu của bản tính thì thật là không có nam nữ.”

Đức “Thiên Nhân Sư”, thường được chạm khắc giữa Tam Bảo của Phật giáo Bắc Truyền ngày nay, mang ý nghĩa vô cùng tận, khó diễn tả bằng ngôn ngữ. Thánh nhân giáo hóa có hai phương pháp: nói thật, chỉ thẳng thật tướng, và phương tiện. Như nói “hóa thành” để người mỏi mệt tạm dừng chân, nói “vô thường” để chúng sinh khỏi đắm say ba cõi. Dùng phương tiện rồi nói tính chân thường để đưa về thật. Khi vào thật tướng, sẽ tự biết mọi pháp thường hay vô thường đều chỉ là hý luận.

Bậc trí tuệ không chán sinh tử cũng không vui Niết Bàn. Qua những trích dẫn kinh văn sơ lược này, người viết đang tìm kiếm sự thống nhất tư tưởng trong kinh điển Phật giáo qua ba giai đoạn chính, điểm xuyết vài bài kinh nhỏ của Nikaya và Đại thừa để nhận thức được khai thông và tỏ rõ. Có thể đề tài này không có gì nổi trội, chỉ là đóng góp nhỏ của hậu bối, mượn kinh điển để hồi tưởng về Chúng Ni thời Phật.

Về sự chuyển mình không kém, dù thân liễu yếu nhưng chí đạo không sờn, như Mae Chee Kaew ở Miến Điện, Ni Sư Diệu Nhân, Ni Sư Huỳnh Liên, Sư Bà Diệu Không, Sư Bà Hải Triều Âm, Ni Trưởng Như Thanh, Ni sư Trí Hải… trong thời cận đại, khiến chúng con chỉ biết kính ngưỡng, tự hào về truyền thống giải thoát của Ni giới chưa hề đoạn tuyệt. Điều này thôi thúc chúng con suy nghiệm về khả tính thành Phật như đã có lời giải đáp.

Kết Luận

Thế đế, có thân tướng con người, có Thánh phàm, tội phúc. Đệ nhất nghĩa đế thì bản lai là thanh tịnh, bình đẳng. Nếu còn phân biệt thì có yêu – ghét, trì – phạm, có – không, với đủ hình tướng tương phản. Đức Phật, suốt đời giáo hóa không ngoài bản thệ độ sinh, không ngăn chừa hay ngưng dứt ai. Người nữ cũng nằm trong số những đối tượng được độ thoát.

Có thể thông điệp bình đẳng giới về nhân quyền và quyền giải thoát mà Đức Phật đưa ra không hoàn toàn thay đổi một xã hội thiên về quyền lực nam giới, không xóa hết những áp bức, bất công giữa các giai cấp, nhưng nó đã trở thành một bản tuyên ngôn về tính bình đẳng trên khắp thế giới ngày nay.

Sự bất bình đẳng về giới tính, chủng tộc, tôn giáo, màu da, giai cấp và mọi sự phân biệt khác chỉ gây thêm chia rẽ, đấu tranh, chiến tranh, đau khổ và chia rẽ phe phái. Điều duy nhất tồn tại mãi mãi qua thời gian và không gian chính là yêu thương, từ bi và bình đẳng.

Chính từ sự kiện “nữ nhân khả tính”, một phần nhấn mạnh tầm quan trọng của thông điệp “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Đây là điểm độc nhất, tuyệt vời chỉ có ở giáo Pháp của Đức Phật Đà, đồng thời cũng là lời khẳng định về tính thống nhất của toàn bộ tư tưởng Phật giáo.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Minh Đức Triều Tâm Ảnh (2012), Con gái Đức Phật, Tỳ-khưu-ni Ambapālī, Tổng hợp TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh.

2. Thích Minh Châu dịch (1991), Kinh Tương Ưng 1 Thiên Có Kệ, Chương I Tương Ưng Chư Thiên VI. Phẩm Già, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh.

3. Thích Minh Châu dịch (2001), Kinh Tiểu Bộ 4, Chương I. Phẩm Nữ Nhân 63. Chuyện Hiền Sĩ Chà Là, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh.

4. Thích Minh Châu (2015), Kinh Tiểu Bộ 2015 – Tập IV, Phẩm Kosya, Tôn Giáo, Hà Nội.

5. Thích Minh Châu dịch (2004), Kinh Tiểu Bộ 10, Chương XXII. Đại Phẩm 547. Chuyện Đại Vương Vessantara, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh.

6. Thích Minh Châu (2015), Kinh Tăng Chi Bộ 2015 – Tập II, II. Đại Phẩm, Tôn Giáo, Hà Nội.

7. Thích Minh Châu (2015), Kinh Tăng Chi Bộ 2015 – Tập I, VIII. Phẩm Không Hý Luận, Tôn Giáo, Hà Nội.

8. Thích Minh Châu dịch (1996), Kinh Tăng Chi Bộ 1, Chương III Ba Pháp XIII. Phẩm Kusinàra, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh.

9. Thích Minh Châu dịch (2003), Kinh Tiểu Bộ 8, Chương XIV. Tạp Phẩm 489. Chuyện Đại Vương Huy Hoàng, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh.

10. Thích Minh Châu dịch (2005), Kinh Tăng Chi Bộ 3, Chương VIII Tám Pháp VI. Phẩm Gotamì, Tôn Giáo, Hà Nội.

11. Thích Minh Châu (2015), Kinh Tiểu Bộ – Tập II, Phẩm Ba: Tập Ba Kệ, Tôn Giáo, Hà Nội.

12. Thích Tịnh Hạnh (2000), Đại Tập 48 – Bộ Niết Bàn II – Số 375, Kinh Đại Bát Niết Bàn – Quyển IX – Phẩm 15: Nguyệt Dụ, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc – Taiwan.

Xem thêm: Tâm An Vui Sống: Chìa Khóa Kiến Tạo Hạnh Phúc Từ Việc Hướng Thiện

13. Thích Tịnh Hạnh (2000), Đại Tập 5 – Bộ A-Hàm V – Trung A-Hàm Biệt Dịch & Kinh Tạp A-Hàm Số 1, Số 60: Phật Nói Kinh Cù-Đàm-Di Ký Quả, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc – Taiwan.

14. Thích Tịnh Hạnh (2000), Đại Tập 42 – Bộ Bảo Tích I – Số 310 (Quyển 1 – 40), Mục Lục, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc – Taiwan.

15. Tịnh Hạnh (2000), Đại Tập 52- Bộ Đại Tập III- Số 402-> 411, Kinh Bảo Tích Đà- La- Ni, Quyển 7, Phẩm 7: Nhiếp Thọ Diệu Pháp, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc.

16. Thích Tịnh Hạnh (2000), Đại Tập 32 – Bộ Bát-Nhã XV – Số 225 – 230, Kinh Ma-Ha Bát- Nhã Sao – Quyển 4 – Phẩm 7: Pháp Vốn Không, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc – Taiwan.

17. Thích Tịnh Hạnh (2000), Đại Tập 12 – Bộ Bản Duyên III (Số 186 – 190), Số 187 Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm – Quyển I, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc – Taiwan.

Chú thích:

[1] Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, Đại Tập 48 – Bộ Niết Bàn II – Số 375, Kinh Đại Bát Niết Bàn – Quyển IX – Phẩm 15: “Nguyệt Dụ”, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc – Taiwan, 2000, Tr 202.

[2] Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Kinh Tương Ưng 1 Thiên Có Kệ, Chương I Tương Ưng Chư Thiên VI. “Phẩm Già”, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, 1991, Tr 86.

[3]Hòa thượng – Thích Minh Châu, Kinh Tiểu Bộ 2015 – Tập IV, “Phẩm Kosya”, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2015, Tr 134.

[4] Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Kinh Tiểu Bộ 4, Chương I. Phẩm Nữ Nhân 63. “Chuyện Hiền Sĩ Chà Là”, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, 2001, Tr 411.

[5] Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Kinh Tiểu Bộ 10, Chương XXII. Đại Phẩm 547. “Chuyện Đại Vương Vessantara”, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, 2004, Tr 739.

[6] Hòa Thượng Thích Minh Châu, Kinh Tăng Chi Bộ 2015 – Tập II, II. “Đại Phẩm”, Tôn Giáo, Hà Nội, 2015, Tr 325.

[7] Hòa Thượng Thích Minh Châu, Kinh Tăng Chi Bộ 2015 – Tập I, VIII. “Phẩm Không Hý Luận”, Tôn Giáo, Hà Nội, 2015, Tr 429.

[8] Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Kinh Tăng Chi Bộ 1, Chương III Ba Pháp XIII. “Phẩm Kusinàra”,Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, 1996, Tr 513.

[9]HT. Thích Minh Châu dịch, Kinh Tiểu Bộ 8, Chương XIV. Tạp Phẩm 489. “Chuyện Đại Vương Huy Hoàng”, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, 2003, Tr 239.

[10] Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, Đại Tập 5 – Bộ A-Hàm V – Trung A-Hàm Biệt Dịch & Kinh Tạp A-Hàm Số 1, Số 60: “Phật Nói Kinh Cù-Đàm-Di Ký Quả”, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc – Taiwan, 2000, Tr 206.

[11] HT. Thích Minh Châu, Kinh Tương Ưng Bộ, “Phẩm Thiêu Cháy”, tr 77.

[12] Hòa thượng – Thích Minh Châu, Kinh Tiểu Bộ 2015 – Tập II, Phẩm Ba: ‘’Tập Ba Kệ”, Tôn Giáo, Hà Nội, 2015, Tr 551.

[13] Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Kinh Tăng Chi Bộ 3, Chương VIII Tám Pháp VI. “Phẩm Gotamì”, Tôn Giáo, Hà Nội, 2005, Tr 653.

[14] Minh Đức Triều Tâm Ảnh, “Con gái Đức Phật, Tỳ-khưu-ni Ambapālī”, Tổng hợp TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh, 2012, Tr 314.

[15]Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, Đại Tập 48 – Bộ Niết Bàn II – Số 375, Kinh Đại Bát Niết Bàn – Quyển IX – Phẩm 15: “Nguyệt Dụ”, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc – Taiwan, 2000, Tr 202.

[16] Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, Đại Tập 52- Bộ Đại Tập III- Số 402-> 411, Kinh Bảo Tích Đà- La- Ni, Quyển 7, Phẩm 7: “Nhiếp Thọ Diệu Pháp”, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc, 2000, Tr 136.

[17] Pháp Âm dịch, “Giáo nghĩa khai thị ngộ nhập”, tập VI, Nxb Hồng Đức, 2017, tr 637.

[18] Pháp Âm dịch, “Giáo nghĩa khai thị ngộ nhập”, tập VI, Nxb Hồng Đức, 2017, tr 637.

[19] Tuệ Hải dịch, “Kinh Diệu Pháp Liên Hoa”, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1999, tr 328.

[20] Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, Đại Tập 51- Bộ Đại Tập II- Số 397 (Quyển 49- 60) & Số 398->401, “KinhBảo Nữ Sở Vấn”, Quyển 2, Phẩm 4: Vấn Bảo Nữ, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc, 2000, Tr 600.

[21] Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, Đại Tập 12 – Bộ Bản Duyên III (Số 186 – 190), Số 187 “Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm” – Quyển I, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc – Taiwan, 2000, Tr 251.

[22] Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, Đại Tập 52-Bộ Đại Tập III- Số 402-> 411, “Kinh Bảo Tích Đà- La- Ni”, Quyển 8, Phẩm 8: Thọ Ký (tt), Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc, 2000, Tr 146.

[23] Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, Đại Tập 42 –“Bộ Bảo Tích I” – Số 310 (Quyển 1 – 40), Mục Lục, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc – Taiwan, 2000, Tr 1010.

[24]Đại Sư Tông Bổn – Dịch Và Chú Giải: Nguyễn Minh Tiến – Hiệu Đính Hán Văn: Nguyễn Minh Hiến, “Quy Nguyên Trực Chỉ”, 21. Lìa Hình Tướng, Rõ Chân Tánh, Vãng Sanh Tịnh Độ, Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2011, Tr 1097.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Phật học.

Bài viết đã đi sâu phân tích về khả năng chứng quả Phật của người nữ, làm rõ sự thống nhất trong tư tưởng Phật giáo qua các thời kỳ. Để hiểu sâu hơn về các khía cạnh thú vị và những lời dạy quý báu trong Đạo phật, mời quý vị tiếp tục khám phá những nội dung khác trong chuyên mục.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang