Bối cảnh miền Nam năm 1963 ghi dấu một giai đoạn lịch sử đầy biến động, khi những chính sách đối xử với các tôn giáo đã trở thành ngòi nổ cho một cuộc khủng hoảng sâu sắc. Mặc dù bề ngoài chính quyền Ngô Đình Diệm rao giảng về tự do tín ngưỡng, nhưng thực tế lại là sự đàn áp gay gắt, đỉnh điểm là sự trỗi dậy mạnh mẽ của Phong trào Phật giáo. Khám phá những nguyên nhân gốc rễ đằng sau biến cố lịch sử này và cách chúng định hình lại vận mệnh dân tộc tại Chiasedaophat.
Chính sách kỳ thị và đàn áp tôn giáo dưới thời Ngô Đình Diệm đã góp phần quan trọng dẫn đến sự sụp đổ của chế độ này vào năm 1963. Mặc dù chính quyền Ngô Đình Diệm rao giảng về một nền cộng hòa tự do, dân chủ, bao gồm cả tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nhưng thực tế lại là một chế độ bóp nghẹt các quyền tự do căn bản này. Sự kiện năm 1963, đỉnh điểm là Phong trào Phật giáo, chỉ là giọt nước tràn ly sau chuỗi dài các chính sách đàn áp và kỳ thị tôn giáo, mà nguyên nhân sâu xa đã manh nha từ trước khi Ngô Đình Diệm được Mỹ hậu thuẫn.
Bài viết này sẽ đi sâu phân tích hai nguyên nhân chính là kỳ thị và đàn áp tôn giáo, những yếu tố then chốt đã thúc đẩy Phong trào Phật giáo năm 1963, làm rung chuyển và dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm.
CHÍNH SÁCH KỲ THỊ TÔN GIÁO CỦA CHÍNH QUYỀN NGÔ ĐÌNH DIỆM
Cuối giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp, khi Mỹ nhận thấy khả năng Pháp thất bại, họ đã bắt đầu tính toán cho việc chiếm đóng lâu dài Việt Nam. Một trong những chiến lược của Mỹ là chuẩn bị một chính quyền tay sai do Ngô Đình Diệm, một tín đồ Công giáo, đứng đầu. Đồng thời, Mỹ đã thúc đẩy một cuộc di cư quy mô lớn của các tín đồ Công giáo từ miền Bắc vào miền Nam nhằm tạo dựng một lực lượng ủng hộ cho chính quyền mới. Mỹ nhận thấy việc lợi dụng tôn giáo, đặc biệt là Công giáo, đã từng mang lại hiệu quả cho thực dân Pháp trong công cuộc xâm lược và đô hộ. Trong khi đó, cộng đồng Công giáo ở miền Nam trước cuộc di cư còn tương đối nhỏ so với miền Bắc. Do đó, Mỹ và Ngô Đình Diệm đã dồn sức thu hút các giáo sĩ và tín đồ Công giáo từ miền Bắc, những người có xu hướng chống cộng, di cư vào Nam.
Vào cuối tháng 6 năm 1954, khi Hội nghị Geneva đang diễn ra, Tổng thống Mỹ Eisenhower đã công khai ý định “tổ chức một cuộc di cư có kế hoạch dân chúng Việt Nam từ Bắc vào Nam nếu Hiệp định đình chiến được ký kết”. Kế hoạch này được Mỹ triển khai ráo riết. Chỉ trong tháng 7 năm 1954, Mỹ đã chi 45 triệu đồng Đông Dương cho chính quyền tay sai để phục vụ cho công tác di cư. Ngô Đình Diệm và các giáo sĩ phản động đã đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện ý đồ này.
Tại hội nghị “Liên minh chống cộng châu Á” họp ở Sài Gòn vào tháng 3 năm 1957, Ngô Đình Diệm đã nhấn mạnh: “chúng ta đừng quên vũ khí chân lý sẵn có trong kho tàng tôn giáo. Sử dụng vũ khí đó là mục tiêu của liên minh chống cộng châu Á”. Ông cũng từng tâm sự với Tưởng Giới Thạch tại Đài Loan năm 1960 rằng “Tôn giáo là một vũ khí hiệu nghiệm”.
Từ năm 1954 đến 1956, khoảng 800.000 người Công giáo, tương đương 2/3 số tín đồ Công giáo miền Bắc lúc bấy giờ, đã di cư vào Nam. Trong đó, có 809 linh mục và giám mục, chiếm 72% tổng số.
Những người Công giáo di cư ban đầu được tập trung tại các trại tị nạn. Đến đầu năm 1958, chính quyền Mỹ-Diệm giao cho Bùi Văn Lương, Tổng ủy trưởng Tổng ủy Di cư, kiêm nhiệm Tổng ủy trưởng Tổng ủy Doanh điền. Hàng vạn giáo dân di cư đã được chuyển đến định cư tại các khu dinh điền được thiết lập khắp miền Nam, đặc biệt là ở miền Tây Nam Bộ, Tây Nguyên và các vùng dọc biên giới Việt Nam – Campuchia.
Cùng với việc lập khu dinh điền, các xứ đạo và họ đạo Công giáo mới cũng được tái lập cho những người di cư. Thường thì, những người di cư từ cùng một địa phương ở miền Bắc có xu hướng tập trung lại. Để giữ gìn sự gắn kết và hoài niệm quê hương, các xứ đạo mới thường được đặt tên theo địa danh cũ ở miền Bắc. Ví dụ, họ Tân Sa Châu được thành lập bởi cư dân làng Sa Châu (Nam Định) di cư vào. Họ đạo Phát Diệm là nơi quy tụ cư dân của giáo phận Phát Diệm, còn họ đạo Bùi Phát là sự tập hợp của cư dân hai giáo phận Bùi Chu và Thái Bình. Các linh mục quản xứ thường là những người di cư từ miền Bắc. Linh mục Cao Văn Luận, người có vai trò trong việc đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam, đã nhận xét về khối người Công giáo di cư năm 1954 rằng: “Chính số người di cư lúc bấy giờ đã làm bừng dậy tinh thần dân tộc, lòng thương yêu rộng lớn, tình đoàn kết chân thật và tạo được khối quần chúng thuần nhất ủng hộ ông Diệm”.
Ngay từ những ngày đầu nắm quyền, Ngô Đình Diệm đã ấp ủ ý định thành lập một đảng chính trị đối lập với Đảng Lao động Việt Nam. Đảng Cần lao – Nhân vị (hay Đảng Cần Lao) ra đời với học thuyết Duy linh – Nhân vị làm nền tảng.
Học thuyết Duy linh – Nhân vị bao gồm hai phần:
- Chủ nghĩa Duy linh: Bao gồm những quan điểm chung nhất về giai cấp thống trị, về thế giới và con người (nhân vị).
- Chủ nghĩa Nhân vị: Là những quan niệm chung của giai cấp thống trị về con người và xã hội, dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Duy linh.
Mối quan hệ giữa Công giáo và thuyết Nhân vị, cũng như Đảng Cần lao Nhân vị, được Linh mục Trần Tam Tỉnh mô tả: “(Ngô Đình Diệm) chỉ chấp nhận một đảng duy nhất là Cần lao, được thành lập và khuynh loát bởi ông em Ngô Đình Nhu, làm nòng cốt cho cái ông gọi là Phong trào Cách mạng quốc gia… Hệ tư tưởng của Đảng và của phong trào là “thuyết vị nhân”. Chỉ có một trường đào tạo duy nhất là “Trung tâm đào tạo nhân vị”, do một người anh của Tổng thống là Giám mục địa phận Vĩnh Long, Ngô Đình Thục sáng lập. Là Công giáo hay không bất kỳ, tất cả công chức đều phải qua một khóa học tập ít nhất là một tháng tại đó. Các lớp học đều do các linh mục đảm nhiệm, nhồi nhét những khái niệm về nhân bản con người được Thiên Chúa sáng tạo, giảng về những điều lầm lạc của Phật giáo, Khổng giáo, về các tội ác của Cộng sản… Cuộc “tẩy não” này do chính các linh mục thực hiện.”
Cần nhấn mạnh rằng, trước Công đồng Vatican II (1962-1965), Giáo hội Công giáo không chấp nhận các tôn giáo khác. Quá trình truyền giáo tại Việt Nam từ buổi đầu do các thừa sai thực hiện, họ thường coi Phật giáo và các tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam là “tà đạo”, “đạo rối”, “đạo của ma quỷ”. Điều này đã góp phần tạo nên chính sách cấm đạo dưới các triều đại phong kiến nhà Lê và Nguyễn, gây ra những hậu quả nặng nề cho lịch sử và ảnh hưởng đến sự đoàn kết dân tộc.
Trong cuốn “Thập giá và lưỡi gươm”, Linh mục Trần Tam Tỉnh nhận xét: “Từ năm 1955 đến năm 1963 là thời vàng son của chủ nghĩa cha chú, với những lợi ích thật chẳng có bao nhiêu, nhưng với những hà lạm gây nhiều tiếng tăm hơn, nhất là trong khi dân chúng gồm 90% là ngoài Công giáo mà bị kìm hãm dưới một thứ “Chính phủ Công giáo”. Khắp nơi, ở thành phố cũng như tại nông thôn chiếc áo chùng thâm là biểu tượng của quyền thế.”
Tác giả Chu Bằng Lĩnh, trong cuốn “Đảng Cần lao”, viết: “Những chiến sĩ Công giáo ở trong nước có ý định lập một đảng chống Cộng tích cực, lấy tên đảng Cần lao để đối chọi với Đảng Lao động Việt Nam. Một số chiến sĩ Công giáo lưu vong, trong đó có ông Ngô Đình Diệm tại Nữu Ước và Ba Lê lại có ý định lập đảng lấy chủ thuyết nhân vị làm nền tảng. Chủ thuyết nhân vị này không phải là một sáng kiến mới mẻ gì trong lĩnh vực triết học, mà nó đã có từ hàng thế kỷ trước trong lập thuyết của Thiên Chúa giáo.”
Đảng Cần lao trên thực tế được chia thành ba vùng hoạt động chính. Ngô Đình Cẩn, tự coi mình là lãnh tụ, tổ chức đảng Cần lao tại miền Trung. Đảng Cần lao tại Sài Gòn và các vùng có đông người Công giáo di cư được coi là đảng Cần lao Ngô Đình Nhu. Một đảng Cần lao khác tại Vĩnh Long là đảng Cần lao Ngô Đình Thục.
Tại các tỉnh miền Trung, đặc biệt là Thừa Thiên Huế, Đảng Cần lao của Ngô Đình Cẩn không phát triển mạnh do sự đối kháng của lực lượng Phật giáo và các đảng phái quốc gia. Vào thời kỳ đỉnh cao, Đảng Cần lao có khoảng 300.000 đảng viên, phần lớn được Ngô Đình Cẩn phát triển ở các xứ đạo Công giáo và một phần ở các làng lương dân có cảm tình với Phật giáo. Trong giai đoạn này, nhiều làng lương dân đã cải đạo sang Công giáo để tránh những hệ lụy. Nhiều cơ sở thờ tự của Phật giáo và các tôn giáo truyền thống bị phá bỏ để thay thế bằng cơ sở thờ tự của Công giáo. Nguyễn Văn Thiệu, người sau này trở thành Tổng thống, cũng đã gia nhập Đảng Cần lao để mưu cầu tiến thân.
Việc phát triển đạo để tăng cường đảng viên Đảng Cần lao của Ngô Đình Cẩn phù hợp với đường hướng “mở rộng nước Chúa” của Giáo hội Công giáo. Ngô Đình Cẩn từng tuyên bố: “Tất cả việc Cẩn làm ở miền Trung đều là vì Chúa và Giáo hội.”
Mục đích hành động của Cần lao Ngô Đình Cẩn có thể tóm tắt bằng khẩu hiệu: “Ba chống, ba vâng”:
- Chống cộng sản, chống Phật giáo, chống đảng phái quốc gia.
- Vâng lời các Cha, vâng lời Cẩn, vâng lời Diệm.
Khi Ngô Đình Cẩn gặp khó khăn trong việc phát triển đảng vào quân đội, Giám mục Phạm Ngọc Chi đã âm mưu biến Cần lao thành đảng của Công giáo. Khẩu hiệu hành động “Ba chống, ba vâng” được thay thế bằng “Vì Chúa và cho Giáo hội”.
Việc coi các tôn giáo khác là hiệp hội, đề cao Công giáo với một “chính quyền Công giáo” và biến Đảng Cần lao thành đảng của Công giáo đã khiến chính quyền Sài Gòn trở thành một chế độ bóp nghẹt tự do tôn giáo. Đây là nguyên nhân quan trọng đầu tiên dẫn đến sự sụp đổ của chế độ này.
Tuy nhiên, một nguyên nhân khác không thể không nhắc đến là việc chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo. Đây là hệ quả tất yếu của chính sách kỳ thị tôn giáo đã được triển khai.
CHÍNH SÁCH ĐÀN ÁP TÔN GIÁO CỦA CHÍNH QUYỀN NGÔ ĐÌNH DIỆM
Miền Nam Việt Nam thời Mỹ-ngụy là một xã hội đa tôn giáo. Ngoài Phật giáo, Công giáo và Tin Lành, nơi đây còn là cái nôi của nhiều tôn giáo khác như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đặc biệt là Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo. Hai tôn giáo này đều có lực lượng vũ trang riêng và từng có ý định biến vùng đất có tín đồ của họ thành khu tự trị.
Để thâu tóm quyền lực và thực hiện âm mưu chống cộng, Ngô Đình Diệm đã kêu gọi các giáo phái hợp nhất lực lượng vũ trang và sáp nhập vào quân đội ngụy quyền. Khi không nhận được sự ủng hộ, Ngô Đình Diệm đã dùng nhiều thủ đoạn, bao gồm cắt tài trợ, đánh vào hoạt động kinh tế, cài cắm nội gián để mua chuộc, chia rẽ. Những bộ phận chống đối đều bị quân đội ngụy quyền đàn áp, khủng bố.
Đối với đạo Cao Đài, một lực lượng 5.000 người dưới sự chỉ huy của Trung tướng Nguyễn Thành Phương đã đầu hàng Ngô Đình Diệm. Tương tự, thiếu tướng Nguyễn Giác Ngộ của Phật giáo Hòa Hảo cũng “trở về với quốc gia Đệ nhất Việt Nam cộng hòa”. Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm vẫn không thuyết phục được nhóm Phật giáo Hòa Hảo của đại tá Lê Quang Vinh (tự Ba Cụt) với lực lượng vũ trang 1.760 người.
Trước tình hình đó, chính quyền Sài Gòn ra lệnh giải tán quân đội Cao Đài và hủy bỏ các đặc quyền dành cho giáo phái này. Đạo Cao Đài rơi vào tình trạng phân hóa, đa số tướng lĩnh buộc phải đầu hàng chính quyền Sài Gòn.
Năm 1955, Nguyễn Thành Phương thành lập Ban Thanh trừng để thanh lọc hàng ngũ Cao Đài. Hai người con gái của Hộ pháp Phạm Công Tắc đã bị bắt trong vụ này.
Vào ngày 19-2-1956, Phủ Tổng thống ra thông báo Đức Hộ pháp Phạm Công Tắc đã rời bỏ Tây Ninh, tình hình nơi đây rối ren, do đó chính phủ theo yêu cầu của các chức sắc Cao Đài và Tướng Dương Thành Cao đã ra lệnh cho quân đội đến bảo vệ Tòa thánh Tây Ninh. Chính quyền ngụy đã lợi dụng tin này làm cớ hợp thức hóa việc đánh dẹp lực lượng Cao Đài và chiếm đóng Tòa thánh Tây Ninh, thánh địa của đạo. Hộ pháp Phạm Công Tắc sau đó đã chạy sang Campuchia và qua đời tại đó vào năm 1959. Sau những cuộc xung đột dữ dội, các lực lượng vũ trang của các giáo phái dần tan rã do không cân sức với quân ngụy. Hệ thống lãnh đạo của Phật giáo Hòa Hảo và Cao Đài bị đàn áp, nhiều lãnh đạo bị tù đày, thủ tiêu hoặc phải lưu vong. Tình cảnh này buộc Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo phải lui về vị trí tôn giáo, tín ngưỡng và chờ đợi thời cơ. Trong quá trình đàn áp các giáo phái, Ngô Đình Diệm còn huy động cả giáo sĩ và tín đồ Công giáo. Các linh mục chống cộng khét tiếng như Lê Hữu Từ, Hoàng Quỳnh từng “làm mưa làm gió” ở khu Công giáo tự trị Bùi Chu – Phát Diệm đã tham gia cầm quân đi trấn áp.
Do đó, trong đời sống chính trị miền Nam dần dần chỉ còn hai tôn giáo lớn là Phật giáo và Công giáo.
Như đã đề cập, Ngô Đình Diệm đã sử dụng Đạo dụ số 10, quy định các tôn giáo ngoài Công giáo là hiệp hội. Đạo dụ này ban đầu do “cựu hoàng đế” Bảo Đại ký với Pháp vào ngày 06-08-1950. Mặc dù Ngô Đình Diệm đã truất phế Bảo Đại và xóa bỏ nhiều văn bản dưới khẩu hiệu “bài phong, phản đế”, ông ta lại giữ lại Đạo dụ số 10 vì nó có lợi cho chính quyền của mình. “Đến thời Ngô Đình Diệm (1955-1963), trong bảng nghi lễ của các học đường vẫn không có lễ Phật đản là đương nhiên, nhưng lễ Giáng sinh lại được nghỉ đến 15 ngày”. Ngày 9-1-1956, chính quyền Ngô Đình Diệm ra Dụ số 4, hủy bỏ ngày lễ Phật đản trong danh sách các ngày nghỉ cho học đường, công chức và binh sĩ. Điều này đã gây ra sự phẫn nộ trong dư luận xã hội, đặc biệt là Tăng Ni, Phật tử miền Nam. Ngày 13-1-1956, Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam, đã gửi kháng thư cho Ngô Đình Diệm. Sau đó, Đại hội Phật học Việt Nam và Đại hội lần 2 Tổng hội Phật giáo cũng đã gửi thỉnh nguyện thư và văn bản yêu cầu chính quyền Diệm công nhận ngày lễ Phật đản và thay đổi thời gian nghỉ lễ Trung nguyên. Cuối cùng, Ngô Đình Diệm buộc phải chấp nhận cho các công sở nghỉ trọn ngày lễ Phật đản năm 1957.
Chính quyền Ngô Đình Diệm còn thực hiện nhiều biện pháp khác để làm giảm uy thế của Phật giáo:
- Trong âm mưu đẩy lùi hoạt động kinh tế của Phật tử, chính quyền Diệm tìm cách vu khống họ hoạt động chính trị, tra tấn, bắt giam, xử tù, thậm chí giết hại. Điển hình là vụ ông Vĩnh Cơ, Hội trưởng Hội Phật giáo Nguyên thủy tại Đà Nẵng, một nhà buôn gạo, bị kết án 10 năm khổ sai và tịch thu gia sản vào ngày 28-8-1956.
- Trên núi Thiên Bút, tỉnh Quảng Ngãi, vốn có nền cũ của Phật giáo, chính quyền Ngô Đình Diệm tìm cách cưỡng chiếm để “Công giáo xây nhà thờ”. Tín đồ Phật giáo địa phương đã phản ứng quyết liệt, kéo dài cuộc đấu tranh giữ chùa cho đến năm 1963, buộc chính quyền phải hoãn việc xây nhà thờ Công giáo.
- Ngày 27-7-1961, tại Cà Mau, quân ngụy đã bắn đạn cối vào chùa Cao Dân, xã Tân Lộc khi 200 đồng bào và sư sãi Khmer đang làm lễ nhập hạ, khiến 20 người chết và bị thương.
Đây chỉ là một vài vụ việc cụ thể được ghi lại. Bao trùm hơn là việc chính quyền Ngô Đình Diệm dựa vào Công giáo, chèn ép và kỳ thị Phật giáo. Ngô Đình Diệm còn lợi dụng Công giáo, gắn chiêu bài và xúi giục người Công giáo chống cộng. Ông ta ép buộc người Lương và Phật tử phải theo đạo Thiên Chúa, nhận rửa tội và gia nhập đạo Công giáo mới được ra khỏi trại giam. Theo ghi nhận, trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1963, chế độ Ngô Đình Diệm đã giết chết, bắt giam, tra tấn Phật giáo đồ, dụ dỗ cải đạo, cấm Phật tử đi lễ chùa.
Tất cả những sự kiện trên đã dẫn đến cuộc tàn sát và bắt bớ đẫm máu đối với Phật giáo miền Nam, mà Phật giáo gọi là pháp nạn năm 1963.
***
Chính sách kỳ thị và đàn áp tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm là sự kiện thứ hai trong lịch sử dân tộc Việt Nam (sự kiện thứ nhất do nhà Nguyễn dưới các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức gây ra). Mặc dù phương pháp thực hiện có nhiều điểm khác nhau, nhưng tác hại mà cả hai chính quyền để lại là giống nhau: nguy cơ dẫn đến sụp đổ chế độ và làm tổn hại đến sự đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Cuộc đàn áp Phật giáo năm 1963 của chính quyền Ngô Đình Diệm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ của “nền đệ nhất cộng hòa”. Anh em Diệm, Nhu bị quân đảo chính sát hại một cách bi thảm, gia đình họ Ngô tan tác. Trong khi đó, Phật giáo miền Nam, sau pháp nạn, ngày càng siết chặt đoàn kết, củng cố và phát triển. Số lượng chùa được xây dựng ngày càng nhiều.
Qua cuộc pháp nạn, Phật giáo miền Nam càng nhận thức rõ đường lối tôn trọng tự do tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ủng hộ cách mạng miền Nam đấu tranh thống nhất đất nước. Hàng triệu Phật tử đã tham gia kháng chiến, hàng trăm ngàn Tăng, Ni, trong đó có nhiều bậc cao tăng, đã tham gia kháng chiến chống Mỹ. Tinh thần đoàn kết dân tộc và vai trò to lớn của Tăng Ni, Phật tử miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã góp phần quan trọng vào thắng lợi cuối cùng và sự thống nhất đất nước.
Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, quy tụ các hệ phái Phật giáo miền Nam vào ngôi nhà chung. Tăng Ni, Phật tử cùng thực hiện đường hướng hành đạo “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”, một đường hướng được Đại hội Phật giáo Việt Nam lần thứ nhất đề ra và tiếp tục duy trì cho đến ngày nay.
PGS. TS. Nguyễn Hồng Dương
Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Tham luận tại Hội thảo Khoa học 50 năm Phong trào Phật giáo miền Nam 1963-2013 tại Bình Dương ngày 11/06/2013
–
1. Huỳnh Lý: Mỹ-Diệm và đạo Thiên Chúa ở miền Nam, Nxb Phổ thông, Hà Nội, 1962, tr.1.
2. Huỳnh Lý: Mỹ-Diệm và đạo Thiên Chúa ở miền Nam, Sđd, tr.1.
3. Nguyễn Đức Lộ: Cơ cấu tổ chức, sinh hoạt theo giáo xứ của người Công giáo di cư năm 1954 tại Nam Bộ (Nghiên cứu trường hợp Hố Nai, Đồng Nai và Cái Sắn, Cần Thơ). Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12-2012, tr.38.
4. Linh mục Trần Tam Tỉnh: Thập giá và lưỡi gươm, Nxb Trẻ, 1988, tr.113.
5. Cao Văn Luận: Bên dòng lịch sử, Sài Gòn, 1972, tr.253
6. Linh mục Trần Tam Tỉnh. Thập giá và lưỡi gươm. Sđd, tr.122-123.
7. Linh mục Trần Tam Tỉnh. Thập giá và lưỡi gươm. Sđd, tr.124.
8. Chu Bằng Lĩnh. Đảng Cần lao. Nxb Đồng Nai, 1971, tr.7.
9. Chu Bằng Lĩnh: Đảng Cần lao. Sđd, tr.316.
10. Chu Bằng Lĩnh: Đảng Cần lao. Sđd, tr.322.
11. Bùi Chu thuộc Giao Thủy (Nam Định), Phát Diệm thuộc Kim Sơn (Ninh Bình).
12. Về sau Ngô Đình Diệm không tin vào một số giáo sĩ di cư đã quay sang “sửa gáy” họ. Một linh mục bị Diệm kết tội buôn lậu, đem ra tòa xử. Hoàng Quỳnh được giải ngũ về xứ trông nom chiên Chúa. Lê Hữu Từ không còn vai trò gì, lui về giữ một chức vụ có tiếng mà không có thực quyền “Chủ tịch Trung tâm tôn giáo”. Báo Đời sống của Phạm Ngọc Chi bị đóng cửa. Linh mục chủ bút bị ra tòa lãnh án 18 tháng tù.
13. Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm. Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, tr.473
14. Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Sđd, tr.476.
15. Bồ Đề Tân Thanh, Nguyễn Đại Đồng: Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến năm 1981. Nxb Văn học, 2011, tr.333, 334
Những nguyên nhân sâu xa nào đã dẫn đến Phong trào Phật giáo 1963, làm rung chuyển miền Nam? Để hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử và những tác động lâu dài, hãy cùng khám phá sâu hơn các bài viết về Đạo phật.