Kinh Hiền Nhân: Dễ Hiểu, Dễ Đọc, Minh Triết Vô Song

01 1136 2 1
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Tại thành Xá-vệ, một tín đồ Phật giáo đã thực hiện một hành động phi thường để cúng dường, đòi hỏi một sự đầu tư vàng bạc vô cùng lớn. Câu chuyện về lòng thành và nỗ lực phi thường này hé mở một khía cạnh đầy ý nghĩa về sự hy sinh và niềm tin, mời bạn cùng khám phá thêm tại Chiasedaophat.

Kinh Hiền Nhân (tiếng Việt, dễ đọc dễ hiểu) 1

TRỌNG ĐẠO KHINH TÀI

Thuở xưa, Đức Phật ngự tại thành Xá-vệ, cùng với hơn một ngàn ba trăm vị Tỳ-kheo. Tại đây, có một vị cư sĩ tên là Tu-đạt, nổi tiếng là người giữ gìn năm giới luật: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không sử dụng chất gây nghiện. Ông là người hiểu đạo, luôn sẵn lòng giúp đỡ những người gặp khó khăn, khốn cùng. Vì lẽ đó, ông được mọi người kính trọng và tặng cho danh hiệu Cấp Cô Độc, nghĩa là người cứu giúp những kẻ cô đơn, bất hạnh.

Sau khi gặp Phật, cư sĩ Tu-đạt mong muốn xây dựng một tu viện để cúng dường cho Đức Phật và chư Tăng. Ông đã tìm kiếm khắp thành Xá-vệ và đặc biệt chú ý đến khu vườn rộng lớn của Thái tử Kỳ-đà. Khu vườn này có cảnh quan tươi đẹp, nhiều cây xanh, hoa trái sum suê, có cả ao tắm và giếng nước trong lành, lại không có côn trùng gây hại. Cư sĩ Tu-đạt đã đến gặp Thái tử Kỳ-đà để thương lượng mua lại khu vườn.

Thái tử Kỳ-đà đã đưa ra một điều kiện: “Nếu ông có thể lót vàng phủ kín khu vườn này, ta sẽ bán nó cho ông với giá tương xứng.” Cư sĩ Tu-đạt vui vẻ đồng ý và lập tức sai người mang vàng đến, lót kín một phần lớn khu vườn. Chứng kiến sự tận tâm và lòng kính ngưỡng của cư sĩ đối với Phật pháp, Thái tử Kỳ-đà vô cùng cảm động và suy ngẫm: “Chắc chắn Đức Phật Thích-ca có đạo đức siêu việt, triết lý thâm sâu và nhân cách vĩ đại, trí tuệ tuyệt vời, mới khiến vị trưởng giả này coi thường tài sản, coi trọng đạo pháp đến vậy.”

Cảm động trước tấm lòng của cư sĩ, Thái tử Kỳ-đà đã đề nghị: “Thôi đủ rồi! Ông không cần lót vàng nữa. Tôi xin chia sẻ công đức này. Phần đất vườn này ông hãy dùng để xây tu viện, còn cây trái trong vườn tôi xin dâng cúng cho Đức Phật và chư Tăng.” Cư sĩ Tu-đạt vô cùng mừng rỡ và đồng ý. Từ đó, hai người trở thành bạn tâm giao, cùng nhau xây dựng nên Tinh xá Kỳ Viên trang nghiêm để cúng dường cho Đức Phật. Nơi đây, Đức Phật đã lập đạo tràng, giáo hóa chúng sanh và đào tạo Tăng đoàn.

KHI PHẬT BỊ VU CÁO

Vào thời điểm đó, vua Tỳ-tiên-nặc trị vì, một vị vua sùng kính Phật pháp và thương dân. Nhờ công đức này, đất nước thái bình, nhân dân an lạc, đạo Phật ngày càng hưng thịnh. Tuy nhiên, sự phát triển này đã gây ra sự ganh ghét từ các thế lực ngoại đạo. Họ đã vu khống Đức Phật bằng cách sát hại nàng Tôn-đà-ly, giấu xác nàng trong Tinh xá Kỳ Viên, rồi lan truyền tin đồn rằng Tăng đoàn của Đức Phật đã giết người vô tội nhằm mục đích phá hoại Phật pháp.

Khi biết được âm mưu này, nhà vua cùng các quần thần đã đến viếng thăm Đức Phật. Cư sĩ Cấp Cô Độc cùng nhiều quan chức và dân chúng cũng có mặt. Nhà vua kính cẩn hỏi Đức Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, khi nghe những lời vu khống này, chúng con vô cùng ngạc nhiên. Ngài là bậc hoàn toàn thanh tịnh, vậy vì duyên cớ gì mà Ngài lại bị người đời vu khống?”

Đức Phật ôn tồn đáp: “Đại vương, những lời vu khống thường xuất phát từ lòng tham, sự ganh ghét, đố kỵ và si mê. Không chỉ trong kiếp này, mà trong nhiều kiếp trước, Ta cũng từng trải qua những sự việc tương tự. Xin Đại vương đừng quá bận tâm, bởi lẽ sự thật sẽ được phơi bày và kẻ ác sẽ phải chịu trách nhiệm.”

TẤM GƯƠNG HIỀN NHÂN

Nhà vua cúi đầu thưa: “Bạch Đức Thế Tôn, chúng con kính mong được nghe về câu chuyện của Ngài trong kiếp trước.”

Đức Phật bắt đầu kể lại: “Thuở xưa, tại một quốc gia tên là Bồ-lân-nại, có một vị Phạm chí tên là Cù-đàm, thông minh và đức hạnh. Ông có ba người con trai, trong đó người con út tên là Hiền Nhân, nổi bật với vẻ ngoài tuấn tú, tài đức vẹn toàn.

Từ nhỏ, Hiền Nhân đã siêng năng học tập và vâng lời cha mẹ. Khi trưởng thành, ông sở hữu tài năng vượt trội, am hiểu kinh sử, đức độ cao sáng, lòng nhân từ, và hiểu rõ quy luật nhân quả. Sau khi cha qua đời, hai người anh của Hiền Nhân trở nên tham lam và ích kỷ. Hiền Nhân xin mẹ xuất gia, tìm cầu con đường tâm linh. Ông không bị cuốn vào ngũ trần: mắt không nhiễm sắc, tai không mê tiếng, mũi không đắm mùi, lưỡi không tham vị, thân không ưa cảm giác êm ái.

Hiền Nhân sở hữu trí tuệ và phương tiện khéo léo để giúp đỡ mọi người. Ông thực hành mười điều lành, hiếu thảo với cha mẹ, tôn kính sư trưởng, truyền bá đạo đức và giải trừ nghi hoặc. Ông dạy mọi người về quy luật nhân quả: có sinh ắt có tử, làm lành gặt lành, làm dữ chịu khổ. Khi thấy người gặp nguy nan, ông ra tay cứu giúp, ban tặng thuốc chữa bệnh, chia sẻ tài vật cho người đói khổ. Ở những nơi thiên tai, ông giúp đỡ mọi người bình an, tái dựng cơ nghiệp. Dù là lũ lụt, hỏa hoạn hay hạn hán, sự hiện diện của Hiền Nhân mang lại sự yên tâm và tiêu diệt mọi tai họa.

Cùng thời điểm đó, tại một quốc gia giàu có, vua Lâm Đạt thường giao phó triều chính cho bốn vị cận thần. Tuy nhiên, bốn vị này lại chuyên tâm vào việc tà siểm, hưởng thụ, gian dối và bóc lột dân chúng. Dân chúng lầm than oán thán, nhưng nhà vua lại không hay biết. Hiền Nhân thương xót, đã ra ngoài thành, tạm trú tại nhà một đạo sĩ trong bảy ngày. Đến ngày thứ tám, ông vào thành khất thực.

TRỌNG BẬC HIỀN TÀI

Từ trong vương thành, Vua Lâm Đạt nhìn thấy Hiền Nhân, một người trẻ tuổi với phong thái ung dung, đoan chính, cốt cách phi thường, và lập tức sinh lòng quý mến. Nhà vua xuống xe, đến thỉnh cầu: “Xin ngài đạo nhân lưu lại thành này. Tôi có một tu viện ngay bên ngoài thành, xin ngài hoan hỷ ở lại đó, tôi sẽ cúng dường đầy đủ mọi nhu yếu phẩm để ngài tu tập và làm lợi ích cho đời.”

Hiền Nhân nhận lời. Nhà vua trở về hoàng cung và nói với phu nhân: “Ta vừa gặp một vị đạo nhân có cốt cách phi thường, sáng mai ta và ái khanh sẽ cùng diện kiến ngài.” Phu nhân vui mừng khôn xiết. Con chó của nhà vua nằm dưới gầm giường cũng mừng rỡ vẫy đuôi.

Sáng hôm sau, Hiền Nhân vào cung. Nhà vua và phu nhân cung kính nghênh tiếp, đảnh lễ và cúng dường trai tăng. Sau bữa cơm, nhà vua mời Hiền Nhân về Tinh xá và thỉnh cầu ông cùng chung sức, chung lòng với bốn vị đại thần để phát triển đất nước. Hiền Nhân hoan hỷ nhận lời.

NỊNH THẦN PHẢI THUA TÀI ĐỨC

Bốn vị cận thần, ỷ lại vào sự sủng ái của nhà vua, chỉ quen hưởng thụ, tham ô, bóc lột, không có tâm huyết với quốc gia. Họ theo đuổi những tà kiến và chủ trương sai lầm:

  • Quan thứ nhất cho rằng: “Sau khi chết, tâm thức cũng chấm dứt, không còn tái sinh nữa.”
  • Quan thứ hai lại chủ trương: “Giàu nghèo, vui khổ, mọi thứ trên đời đều do trời định.”
  • Theo quan thứ ba: “Làm lành không được phước, làm dữ không gặp họa, mọi thứ đều ngẫu nhiên.”
  • Quan thứ tư dựa vào địa lý, thiên văn, bói toán để hành sự, không lo triều chính. Tất cả đều tham lam và thích nghe lời nịnh hót.

Từ khi Hiền Nhân vào triều giúp vua, ông đã thực hiện nhiều việc lợi ích cho bá tánh. Ông thông minh, tài cao, đức lớn, nhân hậu, trung nghĩa, khiêm tốn và hài hòa. Mỗi lời nói của ông luôn mang theo nụ cười, và cách tiếp đãi mọi người luôn khiến họ hài lòng.

Cuộc đời Hiền Nhân trong sạch, ít ham muốn, biết đủ, không màng danh lợi, không đắm nhiễm thế gian, sống chân thật và giản dị. Ông trị nước theo phép tắc không làm phiền dân. Nhờ tầm nhìn xa, ông biết trước những việc tiềm ẩn, cứu người khỏi tai họa và thương dân như con.

Ông dùng đạo đức để dạy dân sống tốt. Ông khuyên mọi người từ bỏ rượu, thịt, không săn bắn, không giết hại sinh vật; không sát sinh, trộm cắp, dâm ô, dối trá, nói lời thô tục, gièm pha, đánh lộn, gian nịnh, ganh ghét, gây sự, giận dữ, yêu nghiệt, hay nghi ngờ. Nhờ có Hiền Nhân, nhân dân trong nước trở nên hiền lương, đất nước thanh bình và xã hội phát triển.

HẠI NHAU BẰNG VU KHỐNG

Từ khi Hiền Nhân phò vua giúp nước, triều chính trở nên yên ổn, đất nước thanh bình, mùa màng bội thu, nhân dân hạnh phúc. Các quan lại trên dưới không dám lộng hành, phạm luật, hại dân như trước.

Tuy nhiên, vì điều này, bốn vị cận thần dần mất đi ảnh hưởng, sinh lòng đố kỵ và mưu hại Hiền Nhân. Họ dùng vàng bạc mua chuộc hoàng hậu, bày mưu đặt kế để hoàng hậu vu khống Hiền Nhân có ý tư thông với bà, âm mưu hại vua để soán ngôi. Tin lời hoàng hậu mà không kiểm chứng, cộng với sự sợ hãi, vua và hoàng hậu đã lập kế đuổi Hiền Nhân khỏi triều, thể hiện thái độ khinh miệt ra mặt.

Sáng hôm sau, khi Hiền Nhân vào cung, con chó của vua gầm gừ sủa lớn. Hoàng hậu giả vờ chào hỏi qua loa, mọi sự bày biện đều khác thường ngày. Hiểu ra vấn đề, Hiền Nhân suy nghĩ: “Ta không hại ai, mà người lại muốn hại ta. Chi bằng lánh mặt, vào núi tu hành. Để người oán mình, tất sinh thù lớn, không nên khinh thường.”

THỊNH SUY LÀ QUY LUẬT

Nghĩ vậy, Hiền Nhân cất lời cảm thán:

“Quy luật ở đời có thịnh có suy, có hợp có tan, vô thường thay đổi, lành dữ, họa phúc tự mình chuốc lấy. Kết bạn không tốt thì không nên thân thiết. Thân thiết không chừng mực, sẽ sinh khinh nhờn. Như múc nước giếng, múc sâu vướng cặn. Gần gũi người hiền tăng trưởng trí tuệ; sống với kẻ ngu càng thêm vô minh. Gặp nhau thường xuyên thì sinh khinh nhờn, xa nhau quá lâu thì trở nên thờ ơ. Giao tiếp với người cần có chừng mực, trước sau cung kính, tình thân mới bền lâu. Với kẻ bất lương, lối sống không thực, lời ngon tiếng ngọt chỉ là để lợi dụng, dù có kết hợp, cũng không nên tin. Vua lấy lễ nghĩa tiếp đãi trọng hậu, tôi kính đáp lại bằng lòng chân thành, phụng sự hết mực.

Nay vua không cần, khinh dễ, miệt thị thì nên lánh xa. Thói đời thông thường, thương thì nhờ cậy, ghét thì chẳng muốn gần, không trách làm gì. Lấy sự tương kính để làm thân nhau. Dùng lời khuyên tốt giúp người xa lánh điều ác. Ai không phân biệt được cái nào là ác, cái nào là thiện, vốn chẳng phải là đạo để an thân. Người không có lỗi thì không nên vu oan cho họ. Người muốn xa ta thì ta không nên miễn cưỡng gần họ. Tình thân đã lìa thì đừng tiếc nuối, mạnh dạn quên đi.”

KHÔNG TIẾC CÁI ĐÃ MẤT

Hiền Nhân suy nghĩ: “Con chim lỡ đậu phải cành gãy còn biết đi tìm cành vững để đậu. Con người qua lại phải có sự tương quan, hà tất phải chấp nhất, giận nhau làm gì. Người khôn không bám vào cành cây đã mục. Người bị loạn ý, chẳng nên gần gũi họ. Kẻ muốn gieo điều xấu, thấy ta không vui. Ta khởi xướng một mình, người không phụ họa, đó là tình bạc. Muốn đem việc lành giúp đỡ cho nhau, dù chậm vẫn tiến bước. Ai nhắc nhở nhau bằng lời trung nghĩa là người có hậu.

Cũng có hạng người không gần người hiền, chẳng lánh kẻ ác, trước kính sau khinh, không phân biệt được kẻ ngu người trí. Trong hoàn cảnh đó, nếu ta không đi, đợi đến bao giờ! Lúc đầu, hoàng hậu cung kính đảnh lễ, nay chỉ khoanh tay, nếu ta không đi, đợi bị mắng đuổi rồi mới đi sao? Ban đầu giường vàng, nay còn giường tre, lúc trước tiếp nhau bằng đũa ngà chén ngọc, nay còn sành tre, ban đầu cơm ngon, nay cơm hẩm tấm. Không quyết tâm đi, đợi đến cơm đổ, mới đi hay sao?

Bạn trí gặp nhau như chủ đãi khách, đêm đầu quý trọng bạn hiền như vàng, đêm nhì làm lơ, xem bạn như bạc, đêm ba nhạt nhẽo, lạnh ngắt như đồng. Chứng cớ rõ ràng, nếu ta không đi, đợi đến bao giờ?”

BỐN ĐIỀU TỰ HOẠI

Sau khi nghe những lời tự sự của ngài Hiền Nhân, nhà vua thấy hổ thẹn và cảm động thưa rằng: “Nước ta thái bình, nhân dân thịnh vượng là nhờ có Ngài. Nếu Ngài bỏ đi, nước nhà sẽ nguy khốn, thật là bất hạnh.”

Hiền Nhân từ tốn đáp lại lời vua: “Kính thưa Đại vương, trên đời có bốn điều tự hoại: Một là cây nào có hoa trái nặng dễ bị gãy nhánh. Hai là loại rắn tự ngậm nọc độc, nọc độc sẽ hại chính nó. Ba là làm tôi mà không hiền đức sẽ hại nước nhà. Bốn là người ác, vi phạm luật pháp, làm việc bất thiện… sẽ chết sa địa ngục. Trong kinh Phật dạy: ‘Các sự độc ác do tâm sinh ra, sẽ trở lại hại tâm, cũng như cây sắt sinh ra chất sét, chất sét sẽ trở lại làm hủy hoại sắt.'”

BỐN LOẠI BẠN

Hiền Nhân tiếp tục dạy: “Bạn bè có bốn loại. Một, bạn như hoa. Hai, bạn như cân. Ba, bạn như núi. Bốn, bạn như đất.

Xem thêm: Giải phóng tâm hồn: Sức mạnh diệu kỳ của buông bỏ và tìm thấy bình yên đích thực

Thế nào gọi là kết bạn như hoa? Khi hoa tươi tốt thì được cài trên đầu, đến lúc khô héo thì liền bị bỏ đi. Bạn này cũng thế, hễ thấy giàu sang thì xu phụ theo, đến khi nghèo nàn thì lại làm lơ như chưa từng quen biết.

Thế nào gọi là kết bạn như cân? Trên một cán cân, để vật nặng thì đầu cân gục xuống, để vật nhẹ thì đầu cân vổng lên. Có qua lại thì cung kính nhau, không có qua lại thì khinh thường nhau.

Thế nào gọi là kết bạn như núi? Ở hòn núi vàng, chim thú tụ về, lông cánh của chúng cũng nhờ vào đó mà thêm phần rực rỡ. Kết bạn cũng thế, khi sang cùng sang, khi vui đồng vui.

Thế nào gọi là kết bạn như đất? Tất cả mọi vật đều nương dựa vào đất mà được sinh trưởng. Làm bạn chân thành là để nuôi dưỡng, ủng hộ, giúp đỡ, không hề quên nhau.”

BỐN HẠNG NGƯỜI KHÔNG NÊN TIN

Nhà vua thưa rằng: “Nay trẫm nhận ra, do trí hạn hẹp, tin lời gièm siểm, khiến Ngài ra đi… Mong ngài quay lại.”

Hiền Nhân đáp rằng: “Người có trí tuệ không tin bốn điều: Một, bạn tà ngụy. Hai, bề tôi nịnh siểm. Ba, vợ yêu nghiệt. Bốn, con bất hiếu.”

“Vì thế, kinh dạy: ‘Bạn tà hại người; tôi nịnh hại triều; người vợ yêu nghiệt phá nhà, hại chồng; và con bất hiếu hại cả cha mẹ.'”

MƯỜI CỬ CHỈ SỐNG CÓ HẬU

Về các cử chỉ của người có hậu, Hiền Nhân dạy rằng:

“Có mười cử chỉ được cho là có yêu quý, hậu trọng: Một là xa nhau lâu nhưng không quên. Hai là thấy nhau thì lòng vui mừng. Ba là nhớ nhau, chia sẻ món ngon. Bốn là lỡ lời thì đừng chấp trách. Năm là nghe biết việc lành thì vui. Sáu là can gián người làm việc xấu. Bảy là làm được những việc khó làm. Tám là không đem chuyện riêng nói với người khác. Chín là khi gặp bối rối, khó khăn thì gắng giúp đỡ. Mười là nghèo khổ thì không bỏ nhau.

Nên trong kinh dạy: ‘Bỏ dữ làm lành, tu tập chánh Pháp, đem lời trung chánh dạy dỗ lẫn nhau, lối sống nghĩa hiệp, trọng đạo, mến đức’.

TÁM ĐIỀU KHÔNG ƯA NHAU

Có tám việc biết là không ưa nhau: Một là thấy nhau sắc mặt thay đổi. Hai là liếc ngó, không chịu nhìn thẳng. Ba là lời nói không có ôn hòa. Bốn là việc phải thì cho là quấy. Năm là việc xấu thì lòng vui thích. Sáu là việc tốt thì tâm không vui. Bảy là chê bai việc tốt của người. Tám là tán thành những điều phạm pháp.

Nên kinh dạy rằng: ‘Lỡ đánh chết người, tội còn dung thứ; người dùng tâm độc âm mưu hại người, thì không nên gần gũi.'”

MƯỜI DẤU HIỆU CỦA NGƯỜI TRÍ

“Kính thưa Đại vương, có mười sự việc chứng tỏ người trí: Một là nhận biết kẻ hiền, người ngu. Hai là biết rõ kẻ sang, người hèn. Ba là biết rõ kẻ giàu, người nghèo. Bốn là biết rõ việc khó, việc dễ. Năm là biết rõ việc nào đáng bỏ, việc nào nên làm. Sáu là có trách nhiệm với việc được giao. Bảy là hiểu rõ phong tục, tập quán ở nơi mình đến. Tám là biết rõ cội nguồn trở về. Chín là kiến thức học rộng, hiểu nhiều. Mười là biết được kiếp sống quá khứ.

Nên Kinh dạy rằng: ‘Khi gặp tai nạn mới biết được lòng bạn. Có đánh lộn nhau mới biết mạnh yếu. Có luận nghị nhau mới biết trí ngu. Những lúc cơm thua, gạo kém mới biết người có lòng nhân.'”

TÁM ĐIỀU AN ỔN

“Kính thưa Đại vương, có tám điều kiện để được an ổn: Một là thừa kế gia tài cha mẹ. Hai là có nghề, có thể tự lập. Ba là có học thức, nhìn xa, trông rộng. Bốn là giao du với bạn hiền tài. Năm là kết hôn với người chung thủy. Sáu là có được các con hiếu thảo. Bảy là tôi tớ chân thật, hòa thuận. Tám là lìa xa các việc xấu ác.”

TÁM ĐIỀU ƯA THÍCH

“Kính thưa Đại vương, có tám điều đáng ưa thích. Một là được làm việc với người hiền. Hai là được học với bậc thánh nhân. Ba là có tánh tình từ hòa, nhân hậu. Bốn là sự nghiệp ngày càng hưng thịnh. Năm là vượt qua thói quen giận dữ. Sáu là biết cách phòng ngừa tai nạn. Bảy là biết nương tựa vào Phật, Pháp và Tăng. Tám là bạn bè không dối gạt nhau.”

MƯỜI TRƯỜNG HỢP KHÓ KHUYÊN

“Kính thưa Đại vương, có mười trường hợp khó có thể khuyên can: Một là tham lam che mất lương tâm. Hai là tham đắm sắc đẹp, ngoại hình. Ba là tham danh, chạy theo địa vị. Bốn là ngang tàng, ứng xử bạo ngược. Năm là nhút nhát, không dám quyết đoán. Sáu là khờ khạo, lừ đừ, chậm chạp. Bảy là kiêu ngạo, buông lung vô độ. Tám là đấu tranh, không tương nhượng ai. Chín là chấp chặt tập tục mê tín. Mười là tiểu nhân, hãm hại người tốt.

Nên Kinh dạy rằng: ‘Trình bày chánh pháp cho người ngu nghe như nói với kẻ điếc. Người không lắng nghe thì khó khuyên can.'”

MƯỜI TÌNH HUỐNG KHÔNG NÊN NÓI

“Kính thưa Đại vương, có mười hạng người mà mình không nên chia sẻ, giải bày: Một, kẻ ngạo mạn. Hai, kẻ ngu độn. Ba, kẻ lo sợ. Bốn, kẻ ham vui. Năm, kẻ e lệ. Sáu, kẻ câm ngọng. Bảy, kẻ thù hận. Tám, kẻ đói lạnh. Chín, kẻ bận việc. Mười là những người đang tu thiền định.

Trong kinh có câu: ‘Những gì làm được thì hãy nên nói. Điều làm không được thì đừng nói suông. Một lời hư ngụy, không thành tín thì các bậc minh triết không thèm đoái hoài.'”

MƯỜI DẤU HIỆU KHÔNG ĐOAN CHÍNH

“Kính thưa Đại vương, có mười dấu hiệu cho chúng ta thấy người không đoan chính: Một là đầu tóc rối bời một bên. Hai là sắc mặt thường hay thay đổi. Ba là lớn tiếng, nói cười huyên thuyên. Bốn là liếc ngó, đang khi giao tiếp. Năm là trang sức lộng lẫy, quá mức. Sáu là nhìn trộm qua kẽ vách, nhà. Bảy là đứng ngồi không yên. Tám là dạo chơi đầu đường, ngõ phố. Chín là thích dạo ở nơi vắng vẻ. Mười là giao thiệp với hạng người không đứng đắn.

NĂM ĐIỀU ĐÁNG GHÉT VÀ ĐÁNG KÍNH

“Kính thưa Đại vương, có năm điều đáng ghét: Một là ác khẩu, phun lời độc hại người. Hai là gièm pha, thúc giục sự đấu tranh. Ba là cãi cọ, không sống hài hòa. Bốn là ganh ghét, trù rủa, chỉ trích. Năm là nói lời hai lưỡi, hại người.

“Kính thưa Đại vương, có năm tính tốt thì được cung kính: Một là nhu hòa, nhẫn nhục tích cực. Hai là cung kính, tín tâm, chính trực. Ba là mau mắn, ít nói, làm nhiều. Bốn là lời nói đi đôi với hành động. Năm là với bạn càng lâu càng thêm gắn bó.

Trong kinh dạy rằng: ‘Nếu biết thương mình phải biết giữ mình. Các bậc hiền tài có chí hướng thượng, sở học thấu đáo, nên không lầm lạc.'”

HẠNG NGƯỜI KHÔNG NÊN THÂN

“Kính thưa Đại vương, có mười loại người không nên mời về nhà: Một là thầy tà đạo. Hai là bạn xấu. Ba là những kẻ khinh thường thánh nhân. Bốn là những kẻ ăn nói tráo trở. Năm là kẻ dâm dục. Sáu là những kẻ nghiện rượu, ma túy. Bảy là những kẻ có tánh xấu ác. Tám là những người không biết ơn nghĩa. Chín là người nữ mất nết, hư dối. Mười là kẻ hầu hạ thích trang sức thái quá.”

TÁM ĐIỀU AN VUI

“Kính thưa Đại vương, có tám điều kiện để được an vui: Một là kính thờ các bậc sư trưởng. Hai là hướng dẫn hiếu thuận cho dân. Ba là khiêm cung, kính trên, nhường dưới. Bốn là tánh cách nhân hậu, ôn hòa. Năm là cứu người trong cơn nguy khốn. Sáu là quên mình vì các việc nghĩa. Bảy là tiết kiệm, sống có chừng mực. Tám là biết bỏ các hận thù xưa.

Trong kinh có câu: ‘Người tu công đức, nghĩ trước làm sau, giúp người bần khổ, không chút từ nan thì trọn đời này sống trong an vui.'”

MƯỜI HAI ĐIỀU KHÔNG NÊN QUÊN

“Kính thưa Đại vương, bậc trí thường ghi nhớ mười hai điều sau: Một là sáng sớm nghĩ tới tội lỗi, nên siêng làm phước. Hai là hiếu kính, đền ơn cha mẹ. Ba là việc gì cũng trù bị trước. Bốn là lánh xa các điều nguy hại. Năm là trước khi làm gì, suy nghĩ thật kỹ. Sáu là khuyên ngăn những kẻ lầm lạc. Bảy là giúp đỡ những kẻ bần cùng. Tám là bố thí, giúp người bất hạnh. Chín là ăn uống luôn có chừng mực. Mười là phân xử có tính công bình. Mười một là ban rải ân đức cho đời. Mười hai là làm quan biết huấn luyện lính.

Trong kinh dạy rằng: ‘Phàm làm việc gì phải lo liệu trước. Người biết chu toàn, sự nghiệp phát triển, không bị thất bại.'”

MƯỜI HẠNH TỐT CỦA BẬC HIỀN

“Kính thưa Đại vương, người hiền thật sự có mười hạnh tốt: Một là kiến thức học rộng, hiểu nhiều. Hai là không phạm pháp luật, đạo đức. Ba là kính thờ Phật, Pháp và Tăng. Bốn là học pháp, ghi nhớ, thực hành. Năm là khắc phục được tham sân si. Sáu là tu tập bốn tâm bình đẳng. Bảy là ưa làm các việc ân đức. Tám là không hại tất cả chúng sinh. Chín là hóa độ được người bất nghĩa. Mười là không lẫn lộn các việc lành ác.”

MƯỜI LĂM TỘI ÁC

“Kính thưa Đại vương, những kẻ tội ác thường hay biểu hiện mười lăm tội nặng: Một là sát sinh. Hai là trộm cắp. Ba là dâm ô. Bốn là dối trá. Năm là nịnh hót. Sáu là nói lời quanh co. Bảy là gièm pha. Tám là khinh thường các bậc hiền sĩ. Chín là ô uế. Mười là buông lung. Mười một là say sưa. Mười hai là ganh ghét. Mười ba là thường hay hủy báng đạo đức. Mười bốn là người phá hoại thánh nhân. Mười lăm là không biết sợ tội lỗi.”

MƯỜI ĐIỀU HỔ THẸN

Tìm hiểu thêm: Địa Tạng Vương Bồ Tát: Danh xưng và vai trò bí ẩn, liệu có liên hệ với Đường Tăng?

“Kính thưa Đại vương, có mười điều đáng hổ thẹn: Một là làm vua không hiểu chính trị. Hai là tôi thần không lo việc nước. Ba là mang ân mà không báo đáp. Bốn là có tội không chịu sám hối. Năm là đa thê, hoặc đa phu. Sáu là chưa cưới mà đã có thai. Bảy là tập hợp mà không thành tựu. Tám là có binh mà không thể chiến đấu. Chín là bủn xỉn không chịu bố thí. Mười là tôi tớ mà không sai khiến được.

MƯỜI HAI ĐIỀU KHÓ

“Kính thưa Đại vương, mười hai điều sau được gọi là khó: Một là làm việc với những người ngu. Hai là yếu đuối, đầu hàng, bỏ cuộc. Ba là thù nhau mà thường gặp mặt. Bốn là học ít mà thích tranh luận. Năm là nghèo hèn mà trả được nợ. Sáu là ra trận không có tướng sĩ. Bảy là trung thành với một chính thể. Tám là học đạo mà mất tín tâm. Chín là làm ác mà muốn hạnh phúc. Mười là sinh ra được gặp Phật tổ. Mười một là được nghe chánh pháp của Phật. Mười hai là hiểu rõ, thực tập chánh pháp.”

BỐN MƯƠI BỐN DẤU HIỆU CỦA BẬC TRÍ

“Kính thưa Đại vương, người có trí tuệ biết rõ tường tận bốn mươi bốn việc:

  1. Biết cách sửa sang nhà cửa.
  2. Tạo dựng không khí hòa hợp.
  3. Giao thân với người xung quanh.
  4. Tin tưởng vào bạn bè tốt.
  5. Theo học với bậc minh sư.
  6. Quyết tâm thành tựu mọi việc.
  7. Có tài trí cao viễn hơn người.
  8. Tâm ý, thực hành hướng thượng.
  9. Giàu sang thì làm việc đức.
  10. Thận trọng sửa sang, tạo tác.
  11. Có của phải mở mang sự nghiệp.
  12. Không giao thừa kế cho con tất cả sở hữu.
  13. Thường hay kết bạn với người hiền.
  14. Không tin người mới quen biết.
  15. Đừng để tiền bạc ở quan huyện.
  16. Mua bán thật thà, uy tín.
  17. Dời chỗ phải nghiên cứu kỹ.
  18. Đến đâu biết rõ giàu nghèo, cũng như quý tiện.
  19. Giao thiệp chỉ với người lành.
  20. Nương tựa vào thế lực đúng đắn.
  21. Không tranh chấp với kẻ cường bạo.
  22. Tin tưởng phục hồi cơ nghiệp.
  23. Bần khổ không mong cầu to tát.
  24. Có của không keo kiệt với người.
  25. Bí mật đừng nói cho vợ nghe.
  26. Làm vua trọng người hiền đức.
  27. Ăn ở phải có hậu với người trung chính.
  28. Thanh liêm, trị nước, yên dân.
  29. Năng nổ, cố gắng lập công.
  30. Hiếu thuận là đạo làm người.
  31. Quý trọng, đối xử ôn hòa, được mọi người mến.
  32. Phải dạy học trò trung nghĩa.
  33. Làm thuốc phải thật rành nghề, không khinh mạng sống.
  34. Đau ốm phải nghe lời thầy thuốc.
  35. Ăn uống phải có độ lượng.
  36. Của ngon chia sẻ cho nhau, không chút luyến tiếc.
  37. Tài sản cho mượn, ban tặng, hãy tự tay làm.
  38. Không nên vu oan cho kẻ vô tội.
  39. Hòa giải, giúp người hòa hợp.
  40. Kiên trì xa lánh việc ác.
  41. Với người, không phân biệt giàu nghèo.
  42. Ứng xử, hòa thuận làm quý.
  43. Tự nguyện giữ gìn các đạo đức.
  44. Thanh tâm là điều cao quý nhất.

BẢN CHẤT CỦA NIẾT-BÀN

Kính thưa Đại vương, trong cõi đời này, chỉ có Niết-bàn là cao quý nhất. Bởi Niết-bàn là cõi không có sinh, già, bệnh, chết, đói lạnh, không họa nước lửa, không có oan gia, không trộm cắp, không dục vọng, không còn buồn khổ, không có hoạn nạn, là sự an lạc tuyệt đối, tự tại, giải thoát. Bản chất của Niết-bàn là hoàn toàn an vui, thanh tịnh vô biên, không bị vô thường, không phụ thuộc điều kiện, không mất đi. Phải chứng ngộ Niết-bàn ngay trong cuộc đời này, khi còn sống. Phải kiến tạo Niết-bàn ngay trong cuộc sống này, cho bản thân mình và cho các chúng sinh. Bệ hạ phải tự lo liệu, tự tu tập, tự tỉnh thức; không ai làm thay được. Bệ hạ phải tự thương mình, tự cứu mình.”

ỨNG XỬ CỦA BẬC TRÍ

“Kính thưa Đại vương, chỗ đất bị lở bởi nước xoáy mạnh, dù trăm năm sau, cũng không nên dựng cái gì trên ấy, vì không bền vững, mà chỉ vô ích. Bởi dòng nước xoáy sẽ cuốn trôi tất cả. Người có ác tâm, dù sống giả nghĩa, kêu mình làm lành, thì không nên tin vội. Tâm ác chưa diệt, kẻ sống giả nghĩa sẽ tiếp tục làm ác, ta nên cẩn trọng. Phàm làm việc gì phải đi từng bước, như người đào giếng, đào sâu mới có nước; không thể vội vã sẽ hư hỏng việc lớn. Các bậc tài trí thấy sự bất bình giữa đời loạn lạc nên ra tay giúp đỡ, cũng như người bơi vượt dòng nước mạnh.

Về cách vấn đáp, người trí có sự khác biệt. Lời nói của họ luôn hướng đến việc lành. Bậc thầy trí tuệ luôn hành động chính đáng. Bậc trí mềm mỏng, nhân từ, cẩn trọng, ôn hòa, nhã nhặn, ăn nói hoạt bát, khởi xướng việc lành. Nghe lời, thấy việc của các bậc trí, tâm và miệng luôn nhất quán. Xem cách cư xử, thái độ giao tiếp, cách thức đi, đứng của các bậc trí là không giả dối.”

TRÍ TUỆ CỦA BẬC TRÍ

“Kính thưa Đại vương, đối với bậc trí, hãy thể hiện sự trọng kính, chớ đừng khinh thường, nghe lời phải đạo thì cố gắng làm theo. Người trí hiểu đúng, thể theo chánh đạo, tâm không tham cầu, thấu suốt quá khứ, hiện tại, tương lai. Tầm mắt bậc trí nhìn xa, thấy rộng, thấy rõ muôn vật trong không gian và thời gian chỉ là sự biến hiện, muôn pháp quy về một, vắng lặng từ xưa đến nay.

Kẻ trí thấy rõ đời là vô thường, thay đổi không ngừng. Trẻ rồi già nua; khỏe rồi bệnh tật; sống rồi sẽ chết; giàu sang như mây nổi, tất cả đều vô thường. Đang thời an ổn, nghĩ đến nguy khó. Lúc được hưng thịnh, nghĩ đến vô thường. Kính mến người lành, lánh xa người ác. Khi giận hờn ai nên sớm bỏ qua, không nên gây ác, làm não hại người. Thể hiện sự nhu hòa nhưng khó xâm phạm, bề ngoài yếu đuối mà khó bị đánh bại.

Người trí luôn tuân theo pháp của thánh hiền, làm việc nhân từ, giáo hóa kẻ ngu, giúp cho họ sáng suốt. Người biết trị nước nên ban ân huệ cho người làm lành. Các bậc tu hành dẫn dắt quần chúng trở về chánh đạo. Khi đất nước lâm nguy, mọi người cùng góp sức, tìm ra giải pháp. Đến lui biết thời cơ khỏi bị nghi ngờ. Tuy có ơn đức đối với người khác, không cầu báo đáp. Tôn thờ, giúp đỡ các bậc hiền trí sẽ được phước báu, không gặp tai nạn. Bệ hạ chớ nên nghi ngờ. Con đường chính trị không nên trái đạo. Dạy dân làm lành, đất nước sẽ phát triển, xã hội sẽ bình yên.”

MỖI NGƯỜI CÓ NGHIỆP RIÊNG

“Kính thưa Đại vương, Hiền Nhân này chính là Ta. Đạo của Hiền Nhân không thể lẫn lộn với đời phàm tục. Lửa cháy ngoài đồng, những cây gần bên sẽ bị cháy sém. Chỗ nào nước xoáy thì thuyền dễ bị lật. Hễ là độc trùng thì tất hại người. Hiền Nhân tìm sự giúp đỡ từ người trí tuệ, để khỏi bị kẻ hèn quấy nhiễu. Về loài thảo mộc, mỗi loài mỗi khác. Chim có nhiều loại, bạch hạc lông trắng, chim quạ lông đen. Nhân cách con người cũng có phần khác biệt. Mặc áo gấm lụa cho người quê mùa thực là vô ích, vì người nhà quê chỉ quen bùn đất, không biết giá trị, và dù có mặc cũng chỉ làm hư hỏng.

NHƯ CÂY PHẢN LỆ

Kính thưa Đại vương, trong nhân gian có cây Phản Lệ. Chủ trồng cây này không ăn được trái, kẻ muốn hái trộm, trái lại sinh ra. Vua không sáng suốt thường bị sàm tấu. Bậc trung thần giúp nước cho được an ổn thì bị đuổi xô; kẻ nịnh thần gian ác, phá hoại triều chính lại được ăn bổng lộc. Khách ở nhà lâu, chủ sinh nhàm chán.

Nhà vua kính cẩn thưa: “Mạng người quý trọng, xin Ngài mở lòng, thương nghĩ đến trẫm. Trẫm xin đem thân mạng thờ Ngài hơn xưa.”

GẶP NHAU LÀ NHÂN DUYÊN

Hiền Nhân trình thưa: “Bệ hạ muốn thế, chưa chắc đã làm được. Hoàng hậu khác biệt, dễ gì chấp nhận. Hiền Nhân chỉ là một vị Sa-môn, cầm bát khất thực, tự vui với chánh đạo, dứt trừ tham vọng, giữ giới thanh cao, xa lìa tội lỗi, giúp đời an vui. Đây là con đường Hiền Nhân thực tập. Các khuynh hướng khác sẽ không phù hợp.

Nếu như Bệ hạ và Hiền Nhân này luôn được mạnh khỏe, ắt sẽ gặp nhau. Hiền Nhân vào núi tu dưỡng tâm linh, rèn luyện trí tuệ. Gần nhau mà chỉ gặp toàn chuyện ác, chi bằng xa nhau mà vẫn nhớ nhau trong tâm niệm tốt.”

VIỆC ĐẠO, VIỆC ĐỜI

Kính thưa Đại vương, người trí khi nghe thí dụ đã rõ. “Như người lấy mật xoa vào lưỡi dao, đưa cho chó liếm, vì tham chút ngọt, chó bị đứt lưỡi, đau đớn vô cùng.” Nay bốn cận thần, miệng nói ngon ngọt, tâm dường dao bén. Bệ hạ hãy cẩn trọng, đề phòng chánh niệm, để tránh bất trắc xảy ra không hay. Gặp điều sợ hãi, bệ hạ hãy nhớ đến lời Phật dạy, sợ hãi sẽ tiêu tan.

Chim cú, chim mèo ưa thích bụi rậm. Các con chuột bọ núp dưới rơm, rác. Loài chim đậu cành, hạc ưa ao đục. Mỗi chủng loại vật đều có nghiệp riêng, khuynh hướng bất đồng. Hiền Nhân mến đạo, Bệ hạ bận rộn với việc trị dân, đó là sự khác biệt.

Những vật thô xấu cũng có chỗ dùng, không nên phí bỏ. Hạng người ngu nghèo, không nên hắt hủi, đều có chỗ dùng. Nghệ thuật dùng người cũng như dùng cây, không gì là vô ích. Ta nên biết người, biết suy nghĩ của họ, biết lời nói của họ, biết hành động của họ, không nên hời hợt. Có những dấu hiệu dự báo tương lai. Con chim ban đầu đậu ở cành thấp, sau nhảy lên nhánh cao. Chó của chủ nhà sủa người khách quen, biết là có chuyện, lòng sinh chán ngán. Nói xong, Hiền Nhân đứng dậy mang bát, bước ra khỏi thành. Vua và thần dân, vọng bái, tiễn đưa.

ĐẤT NƯỚC BẤT ỔN

Sau khi Hiền Nhân ra đi, những người trung thần dần giảm bớt, loạn thần được dịp tung hoành gian nịnh. Bốn vị cận thần cậy thế ép dân, người của hoàng gia dùng thói yêu nghiệt, làm vua mê hoặc, không nghĩ việc nước, ngày đêm vùi mình trong lạc thú. Chính quyền quan liêu, bóp nghẹt tự do, thu thuế quá đáng, không chút nhân từ với người bất hạnh. Kẻ mạnh hiếp yếu, bóc lột lẫn nhau, không màng pháp luật. Xã hội rối ren.

Nhiều phụ nữ bị cưỡng bức, trở thành nô lệ. Nhiều gia đình thân thuộc ly tán, mỗi người mỗi nơi, tai họa ập đến, vua nào hay biết. Mưa gió trái thời, nông nghiệp mất mùa, nước loạn dân nghèo, đói khát phát sinh, oán than khắp chốn. Nhân dân sầu khổ, lo sợ bệnh tật, người thì than khóc, người thì kêu ca, ai cũng mong rằng có bậc tài đức ra tay cứu giúp.

DÁM NHÌN NHẬN SỰ THẬT

Trong tình hình đó, có một vị Đạo Nhân, cháu của Hiền Nhân, thấy nước loạn lạc, xóm làng nghèo khó, nhân dân khốn cùng, mạnh dạn vào cung, tâu với nhà vua: “Kính tâu Đại vương, các quan đại thần làm việc phi pháp, tham ô, lũng đoạn, bắt kẻ vô tội, cưỡng bức người hiền, tàn hại nhân gian, thật là vô nhân đạo. Muôn dân than khóc, quỷ thần giận dữ với nhiều tai họa. Cảnh khổ lan tràn, bệ hạ không hay. Nếu không sớm trừ diệt bọn gian thần, đất nước chúng ta sẽ không còn lương dân.

Nghe qua sự tình, nhà vua kinh hãi, đánh giá sự việc: ‘Trẫm đã lỡ dùng bốn tên loạn thần, phá nước hại dân, có khác gì cảnh thả chó sói dữ vào bầy cừu non, thật là tội nghiệp. Dân chúng khốn khổ, đất nước lâm nguy. Trẫm đã buông cương, mặc cho ngựa điên kéo xe trị quốc, lọt xuống hố sâu. Thật là tai hại. Nay ngài đến đây, giúp trẫm thức tỉnh.

Ngài có phương cách giải quyết mối nguy, trị an xã tắc không?”

Đạo Nhân thưa rằng: “Từ khi Hiền Nhân bỏ nước ra đi, nước bị rối loạn, do bọn gian thần. Bệ hạ cần phải phục hưng tổ quốc, giúp đỡ người dân, sống trong hạnh phúc. Bệ hạ cùng thần du hành một phen, để tận mắt thấy điều khổ sở, nghe điều bất công, đúng như sự thật đã từng diễn ra.”

PHỤ NỮ RÁCH RƯỚI

Nghe theo lời khuyên, nhà vua cải trang, cùng với Đạo Nhân đi khắp dân gian, thị sát tình hình. Vừa ra khỏi thành, vua đã nhìn thấy một nhóm phụ nữ, áo quần rách rưới, vừa đi vừa khóc. Đạo Nhân liền hỏi: “Vì sao các chị khổ sở rách rưới? Sao không làm ăn, hoặc đi lấy chồng, để thoát cảnh cơ cực?”

Một cô trả lời: “Sở dĩ chúng tôi ra nông nỗi này đều do nhà vua, chẳng lo quốc sự, bỏ mặc người dân sống trong đau khổ. Giá mà nhà vua nghèo đói, rách rưới thì mới bõ ghét.”

Đạo Nhân khuyên bảo: “Các chị trách thế là không phải lẽ. Vua lo việc nước, lớn lao hơn nhiều, đâu có thời gian lo cho chị được. Các chị phải tự làm để sinh sống.”

Một chị không vui, liền lên tiếng nói: “Không phải thế đâu. Do vua trị nước có điều bất minh, nên dân đói rách, chịu cảnh khốn cùng. Ngày thì khốn khổ với các bọn quan tham, đêm thì khốn đốn với giặc trộm cướp; cơm không đủ no, áo không đủ mặc, như thế thì còn ai muốn cưới gả chúng tôi.”

BÀ LÃO MÙ LÒA

Đi một quãng nữa, vua gặp một bà lão, áo quần rách rưới, hình hài gầy yếu, mắt mờ lòa, vừa đi vừa khóc. Đạo Nhân liền hỏi: “Bà lo việc gì mà khóc khổ vậy?”

Bà lão ngẩng lên đáp: “Vì nhà vua cả. Giá mà nhà vua mù như lão đây thì mới đáng kiếp, lão sung sướng lắm.”

Khám phá: Dược Sư Quán Đảnh Chân Ngôn: Giải Nghiệp, Vạn An, Phước Lành Tối Ưu

Đạo Nhân phân trần: “Bà nói như thế không có chỗ đúng. Người già mắt mờ, nhà vua lỗi chi mà bị chỉ trích?”

Bà lão giải thích: “Đêm bị giặc cướp, không chút an tâm, ngày bị quan tham hiếp bức, bóc lột, chịu cảnh nghèo đói, nên lão tôi đây mới phải hái rau, lượm củi đổi gạo, để nuôi sống mình, đạp phải độc trùng, vướng phải độc khí, nên mới mù què, đau khổ như thế. Nếu không phải lỗi của nhà vua kia thì lỗi tại ai?”

BÀ LÃO BỊ BÒ ĐÁ

Đến một quãng đường, vua thấy một bà lão, nghèo rách mướp. Con bò đá bà, bà ngã xuống đất, lòm khòm bò dậy, mắng chửi lia lịa: “Phải chi mày đá Hoàng hậu một cái, đau cho bỏ ghét. Mày lại đá tao làm cái gì chớ!”

Đạo Nhân chia sẻ: “Bò dữ đá bà, đâu phải Hoàng hậu mà bà quy lỗi?”

Bà lão trách móc: “Nhà vua không biết chỉ dùng nịnh thần, hoàng hậu gièm pha, nước nhà mới loạn, quan không ngăn cướp, không giữ an ninh, nên có sự tình người bị bò đá, đau điếng cả người. Tất cả tại Vua.”

Đạo Nhân chỉ bảo: “Tại bà không biết cách vắt sữa bò nên bị bò đá, là chuyện thường tình.”

Bà lão đáp lại: “Không phải thế đâu! Nếu nhà vua khéo sử dụng hiền tài, Hiền Nhân ở lại, giúp vua trị nước, nước nhà thái bình, không bị loạn lạc.”

CON CHIM MỔ ẾCH

Đi một đoạn nữa, đến bên đồng ruộng, vua thấy con chim đang mổ con ếch. Con ếch đau đớn, lún núp vào bùn, buông lời mắng trách: “Phải chi mày mổ vua một cái đau thì tao mới thích. Mày đừng mổ tao.”

Đạo Nhân bảo ếch: “Ngươi bị chim mổ, lỗi không do vua, ngươi phải tự vệ, không trách ai được.”

Con ếch đáp lời: “Tôi không hề mong vua bảo hộ tôi. Vua không trị nước, bỏ bê triều chính, pháp luật không minh, không chịu chỉ đạo dẫn thủy nhập điền, nên trời hạn hán, nước khô như vậy, thân tôi bày ra, nên chim mới mổ.”

Con ếch lại than: “Nếu vua biết cách giữ đạo quyền chính, loại một người ác, lợi cho một nhà; bỏ một nhà ác, lợi cho một làng, bỏ một làng ác, lợi cho quốc gia. Vua không chấp chính nên dân khổ sở, thiên hạ kêu ca.”

Đạo Nhân tâu vua: “Đại vương xét kỹ, trăm họ vô tội, khốn đốn khóc than, động đến trời đất, đến nỗi con ếch còn thốt lời than. Đại vương đã thấy. Kính mong Đại vương, sớm đuổi kẻ ác, tái thiết quốc gia trên con đường chính, giúp cho nhân dân sống cảnh thái bình. Kính thưa Đại vương, bây giờ gieo giống, mưa thuận gió hòa, mùa màng sẽ trúng, cuộc sống bình an.”

Nhà vua liền hỏi: “Vậy theo ý Ngài, ta nên giao phó trách nhiệm cho ai?”

“Kính thưa bệ hạ, hãy mau thỉnh mời Hiền Nhân trở về. Ngài biết thời cơ, nếu trở về nước, đất nước sẽ bình an.”

Nghe lời tư vấn, nhà vua đi đến chỗ Hiền Nhân ở, đảnh lễ, thỉnh cầu Hiền Nhân trở về. Sau khi thăm hỏi, vua ngồi một bên, chấp tay tạ tội, thưa với Hiền Nhân: “Trẫm vì sơ suất, suy nghĩ nông cạn, lỡ hại trăm dân, nên họ oán trách. Nay trẫm một lòng sám hối nghiệp trước, xin ngài bỏ qua, trở về giúp nước.”

KHÔNG TIN NHÂN QUẢ LÀ TỰ MÊ HOẶC

Hiền Nhân đáp lễ: “Người nào có tội mà biết sám hối thật đáng tán dương.”

Khi trở về cung, thấy bốn cận thần đang kề tai nói nhỏ, Hiền Nhân trình bày:

“Người tự mê hoặc, không phân biệt chân tà, sẽ gặp khổ nguy. Mọi việc trên đời, hạnh phúc, khổ đau đều do nhân quả, không thể tránh được. Ai làm việc ác, ác quả sẽ đeo bám; ai làm điều lành, quả tốt sẽ đền trả, trọn đời không mất. Họa phúc theo ta như hình với bóng, kẻ ngu chẳng biết. Họa phúc rõ ràng cũng như tiếng vang bám theo âm thanh, như bóng theo hình, không thể ngẫu nhiên mà có, không phải từ trời rơi xuống. Các ngươi làm ác mà không hối cải, không thể che giấu.

Trong số các vị, có người cho rằng: ‘Sau khi chết đi, thần thức cũng chết theo, cuộc sống kết thúc.’ Cũng có người nói: ‘Không có tội phước với các hành động.’

Trong vũ trụ này, mọi việc đều rõ ràng, đều theo quy luật của nhân và quả. Chết không phải là kết thúc sự sống con người. Con người tái sinh chạy theo dòng nghiệp. Nhân quả tốt xấu sẽ đeo bám ta, không thể khinh thường.” Bốn vị cận thần nghe lời chí lý, lẳng lặng làm thinh, không biết nói gì.

NHÂN QUẢ ĐẠO ĐỨC

Hiền Nhân nói tiếp:

“Tất cả hiện tượng trong vũ trụ này đều do nhân quả, sự sống con người đều do tội phước. Làm lành hay ác đều có quả báo, như bóng theo hình. Người chết bỏ thân, nghiệp vẫn còn nguyên. Gieo giống xuống đất, sẽ sinh nhánh lá, kết hạt trên ngọn. Thắp đèn tim lụn, lửa vẫn đỏ mãi. Hành vi tội phước vẫn còn với ta, như người viết chữ bên ánh đèn khuya, khi đèn tắt đi, chữ vẫn còn nguyên. Tâm thức con người, sau khi chết đi, tái sinh theo nghiệp, có mặt trong thai, đời này sang đời khác, không hề kết thúc. Những việc làm ác không thể tránh khỏi các quả đau khổ, giết cha mẹ chết không thể vô tội!”

Bốn vị cận thần đáp rằng: “Một nhánh cây nhỏ còn không nên hái, huống hồ giết chết cha mẹ của mình sao lại vô tội được.”

Hiền Nhân đáp lại: “Người giả bên ngoài làm lành lánh dữ, trong thì uẩn khúc, làm việc gian ác, thật là nguy hại. Cũng như vàng giả, bề ngoài mạ vàng, trong toàn là đồng. Bề ngoài tốt đẹp, tâm toàn tà ngụy là điều nên tránh. Việc này khác gì những con chó sói lẫn vào bầy dê, ngấm ngầm giết thịt các con dê con, mà không hề hay biết.”

Nhiều kẻ ác độc tự xưng đạo đức, giả trang khổ hạnh, diễn giải kinh sách, làm hoa mắt người, nhưng bên trong thì tâm luôn tà ngụy, cầu mong danh lợi, không chút xấu hổ. Người không có kinh nghiệm dễ dàng bị lừa, quay đầu tin phục. Như nước sông lụt, chưa chảy ra biển, làm hại nhiều người. Các bậc thánh nhân cứu giúp thiên hạ, chuyển hóa nghiệp xấu, siêng làm việc lành, giữ tâm thanh tịnh, mọi người đều được lợi lạc.

Quả báo của nghiệp là rất rõ ràng. Làm dữ bị họa, mọi người đều ghét, không chóng thì chầy, khổ đau sẽ đến. Làm việc phước đức, tuy không ai biết, phước lành sẽ trổ quả, mọi người khen ngợi. Như bánh xe tròn, lăn mãi không dứt. Nghiệp của con người, trải qua nhiều kiếp, tái sinh nhiều nơi, không thể mất đi. Phải tin vào tội phước, để không gian dối, không gây hại ai. Làm người hạnh phúc phải biết cẩn trọng, lánh xa kẻ ác, sám hối lỗi lầm.

Nếu mọi người đều làm lành lánh dữ như bản tánh của họ thì trên đời này quả phước sẽ giống nhau. Tuy nhiên, người làm ác ở đâu cũng có, nên quả báo khác nhau. Từ nghiệp khác nhau, tình huống khác nhau: người thọ, kẻ yểu, người khỏe, kẻ bệnh, người tốt, kẻ xấu, người giàu, kẻ hèn, người khôn, kẻ ngu, người có tướng mạo đẹp, kẻ què, tàn tật, người đủ giác quan, kẻ đui, điếc, câm… Tất cả đều do nhân duyên kiếp trước, nhân quả kiếp này mà có quả báo vô cùng khác biệt.

Những người đức hạnh, trung trực, hiền lành, trí tuệ, từ bi, sống đời cao thượng, giàu có, hạnh phúc là do nghiệp lành. Nhân quả rõ ràng như một quy luật, không do trời định, không phải ngẫu nhiên, không do hên xui. Hãy suy nghĩ kỹ, tất cả kết quả, dù tốt hay xấu, đều có nguyên nhân cộng với các duyên tác động qua lại. Đừng nên lầm lạc, phủ định nhân quả, thật là bất hạnh.

THUẬT QUẢN TRỊ QUỐC GIA

Hiền Nhân nói tiếp: “Kính thưa Đại vương, trong nước có vua, vua ban pháp luật, sống thuận đạo lý, giao cho người hiền, phó việc cho người tài trí, ban thưởng người lành, trừng phạt kẻ ác.” Nhờ kỷ cương này, đất nước sẽ an bình, xã hội phát triển, nhân dân hạnh phúc.

“Kính thưa Đại vương, ngày xưa có vua tên là Cẩu Lạp, có một cái ao trong thành, nuôi nhiều cá ngon. Một vị quan giám ngư được vua giao trông coi ao cá. Mỗi ngày, giám ngư dâng vua tám con cá, nhưng sau lưng vua, ông ta lại trộm tám con khác. Biết cá bị mất, nhà vua ra lệnh thêm tám vị giám ngư nữa để giữ gìn ao cá. Tám vị giám ngư mới cấu kết với người cũ, mỗi ngày ăn cắp thêm nhiều con nữa. Sự thật đau lòng, nhiều người giữ cá, cá lại mất nhiều hơn, do người giữ cá chính là kẻ ăn cắp.

Giao một nhiệm vụ cho quá nhiều người, không hẳn đã tốt, mà còn khiến nước thêm rối loạn. Cũng như tình trạng người hái quả non, ăn không có mùi vị, lại càng làm mất giống; nhà vua trị nước, không dùng hiền tài, thiệt hại đất nước, nguy hại cho dân, tiếng tăm mất dần, phước phần tổn giảm. Trị nước không nghiêm, trái với luật pháp, làm cho thiên hạ khởi tâm tranh chấp, bất ổn xã hội, khác nào muốn giàu, phát triển sự nghiệp, mà không dụng tâm thì của cải có, mỗi ngày sẽ tổn giảm, đó là điều tất yếu.

Trong một đất nước có nhiều tướng binh, không chịu tập trận, không lo phát triển, nước sẽ yếu dần. Làm vua một nước không trọng luật pháp, không theo đạo đức, không thờ thánh nhân, không dùng hiền tài thì hiện tại này sẽ không có người giúp đỡ, trong tương lai tới, không thể hạnh phúc; bá tánh kêu ca, tai ương tới tấp, sống để tiếng dơ, chết tái sinh vào cảnh xấu.

Trị nước theo luật và chánh pháp Phật thì được lòng người. Kính bậc đạo đức, hiếu thuận cha mẹ, thương yêu trẻ thơ, siêng làm việc lành, thì hiện tại này sống được bình an, kiếp sau hạnh phúc. Làm việc trung nghĩa như đi thẳng đường. Công bằng, chính trực ai nấy đều phục. Sống phải sáng suốt, tích lũy kiến thức từ các cổ thánh để làm kinh nghiệm sống của kiếp này, động tĩnh biết thời, ân oán có nguyên nhân, ban tặng ân phước, giúp dân lập nghiệp, bố thí bình đẳng, tái thiết thái bình. Làm được như thế, đời này sẽ an lạc, đời sau sẽ có phước quả. Quyết chí tu hành, sẽ chứng đắc đạo giác.

Nghe Hiền Nhân dạy, mọi người mừng rỡ, vâng phục làm theo. Nhà vua đứng dậy, cúi đầu thưa rằng: “Được nghe Ngài dạy, trẫm thấy nhẹ lòng, như cơn gió mạnh xua tan mây mù. Xin Ngài từ bi, thương đất nước này, giáo hóa quốc dân, giúp trẫm trị nước, như trước đây vậy.”

Cảm động trước tấm lòng của một Đại vương, Hiền Nhân nhận lời. Ngài liền đứng dậy, theo vua về cung, luận bàn triều chính.

Bốn vị cận thần bị phát hiện ra có nhiều sai phạm, nên đã bị trừng phạt. Hiền Nhân giúp nước, phước thấm muôn dân, mưa nắng đúng thời, mùa màng bội thu, nhân dân hoan hỷ, bốn biển thanh bình, trên dưới hòa thuận, chung sức đồng lòng, xây dựng cuộc sống ngày một thái bình, giàu sang, hạnh phúc.

LIÊN HỆ KIẾP SỐNG

Sau khi kể xong câu chuyện Hiền Nhân, Đức Phật ngừng lại, nhìn về đại chúng, rồi dạy tiếp rằng:

“Này các đệ tử! Hiền Nhân đời trước chính là Ta đây. Còn Đạo Nhân kia là A-nan-đà. Vua Lâm Đạt đó không ai khác hơn là vua Tỳ-tiên-nặc. Hoàng hậu thuở đó là Tôn-đà-ly. Con chó nhà vua là ông Sa-nặc. Bốn vị cận thần là bốn kẻ ngoại đạo đã giết Tôn-đà-ly. Mọi việc trên đời đều có liên hệ, không hề ngẫu nhiên, nên hãy nhớ nhân quả, để sống thật tốt, an vui, hạnh phúc.”

Nghe Thế Tôn dạy kinh nghĩa sâu xa, hơn ba ức người đã hiểu được lý đạo, phát nguyện vâng giữ năm điều đạo đức, phát nguyện thực tập, và truyền bá Kinh này.

Hy vọng những lời dạy từ kinh nghiệm sống của bậc Hiền Nhân sẽ giúp bạn vững bước trên con đường tìm cầu chân lý. Khám phá thêm những bài học sâu sắc khác trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang