Đôi khi, sự khiêm tốn lại là khởi nguồn của hiểu biết sâu sắc, thúc đẩy chúng ta không ngừng tìm tòi và khám phá. Cuốn sách “Biểu tượng thần thoại về Chư thiên và Linh vật Phật giáo” của nhà nghiên cứu Huỳnh Thanh Bình mở ra một thế giới quan mới, giúp người đọc nhận ra những kiến thức còn bỏ ngỏ về Phật giáo. Hãy cùng khám phá những khía cạnh huyền bí này qua Chiasedaophat.
Thời đi học, tôi từng đọc câu nói của Einstein: “Càng học thật cao càng thấy mình ngu dốt”. Câu nói này từng được tôi và bạn bè trao đổi, nhưng phải đến khi bước vào bậc đại học, tôi mới thực sự cảm nhận được sự sâu sắc của nó. Những kiến thức thu thập từ sách vở, thầy cô và trải nghiệm sống suốt hơn mười năm dường như trở nên nhỏ bé trước thực tế cuộc đời. Thay vì giữ sự mông lung, việc cầu tiến lại khiến ta cảm thấy lạc lõng giữa biển kiến thức bao la, đòi hỏi phải định hướng rõ ràng, tìm kiếm con đường và nỗ lực với quyết tâm cao độ. Tuy nhiên, chỉ nỗ lực thôi là chưa đủ, cần phải có tín niệm – niềm tin vững chắc vào những gì mình đang làm. Tín niệm này không thể chỉ dựa vào lời nói suông, bởi lẽ chỉ với lời nói, chúng ta khó lòng hoàn thành được bất kỳ việc gì ý nghĩa.

Bìa cuốn sách “Biểu tượng thần thoại về chư thiên & linh vật Phật giáo”
Khai thị cho chúng sinh con đường giải thoát
Việc suy ngẫm này dẫn tôi đến cuốn sách “Biểu tượng thần thoại về Chư thiên và Linh vật Phật giáo” (NXB Tổng hợp TP.HCM, 2018) của nhà nghiên cứu Huỳnh Thanh Bình. Đọc cuốn sách, tôi nhận ra lỗ hổng kiến thức của mình về Phật giáo còn khá lớn, dù đã dành gần hai mươi năm tìm hiểu qua nhiều kinh sách. “Biểu tượng thần thoại về Chư thiên và Linh vật Phật giáo” là tập hợp 30 bài viết, chủ yếu được đăng trên Nguyệt san Giác Ngộ.
Trong Tiểu Bộ kinh (Udàna), Đức Phật đã dạy: “Này chư tỳ kheo, đại dương chỉ có một vị duy nhất là vị mặn, cũng vậy giáo pháp của Như Lai chỉ có một vị duy nhất là vị giải thoát”. Mục đích cốt lõi của giáo lý Phật đà là sự giác ngộ. Toàn bộ hành trình phi thường của Ngài, từ việc từ bỏ cuộc sống vương giả để trở thành đạo sĩ khổ hạnh, cho đến khi chiến thắng Ma vương và đạt thành bậc Toàn giác, đều hướng đến một mục tiêu duy nhất: khai thị cho chúng sinh con đường thoát khỏi vô minh, ái dục, và mang lại cho họ một cuộc sống an lạc, hạnh phúc. Tuy nhiên, trên thực tế, có bao nhiêu người theo Phật, học Phật mà chỉ đặt mục tiêu giải thoát lên hàng đầu?
Theo quy y Tam Bảo, người Phật tử không quy y ngoại đạo, tà giáo, cũng không quy y trời, thần, quỷ, vật. Thế nhưng, tại Việt Nam, nhiều chùa không chỉ thờ Phật, mà còn thờ các vị Bồ tát, La hán, thậm chí cả Thánh, Mẫu. Nhiều vị thần của đạo Bà-la-môn, vốn được người Chăm thờ cúng từ xa xưa, cũng được một số chùa biến đổi thành Phật hoặc hộ pháp. Điều này đặt ra câu hỏi: Tại sao lại có sự dung hợp này?
Trước đây, khi đối diện với câu hỏi này, tôi thường trả lời một cách chung chung. Nhưng sau khi đọc “Biểu tượng thần thoại về Chư thiên và Linh vật Phật giáo” của Huỳnh Thanh Bình, kiến thức của tôi đã được bổ sung đáng kể. Trong bối cảnh hiện nay, việc một người trẻ tỉ mỉ nghiên cứu về những “Biểu tượng thần thoại về Chư thiên và Linh vật Phật giáo” thực sự rất đáng trân trọng.
Quỷ thần cũng là một dạng chúng sinh
Huỳnh Thanh Bình lý giải rằng: “Đặc trưng khác biệt lớn nhất của Phật giáo so với các tôn giáo khác là ở tính chất vô thần. Phật giáo xem xét thế giới từ góc độ nhân duyên, nhân quả, phủ nhận uy quyền của quỷ thần hoặc linh hồn chủ tể vĩnh hằng. Song đồng thời Phật giáo lại khẳng định sự sống là liên tục, không bao giờ chấm dứt, chẳng qua sự sống liên tục biến đổi vô thường, không ngừng tái diễn dưới sự chi phối của luật nhân quả. Mặt khác, tuy phủ nhận sự tồn tại của một đấng chủ tể tối cao của vũ trụ, nhưng Phật giáo vẫn thừa nhận sự hiện hữu của quỷ thần ở bên ngoài cõi người. Có điều Phật giáo cho rằng quỷ thần cũng là một dạng chúng sinh như loài người, cũng là loài hữu tình mà không có quyền uy chủ tể, có tác động quyết định đến số phận con người” (sđd, trang 9). Quan điểm này rất thú vị và phần nào giải thích được hiện tượng thờ phụng đa dạng tại một số ngôi chùa.
Trong nhiều kinh sách Phật giáo, tôi thường thấy nhắc đến Phạm Thiên, và hiểu theo cách diễn giải trong kinh điển. Tuy nhiên, qua “Biểu tượng thần thoại về Chư thiên và Linh vật Phật giáo”, tôi mới biết Phạm Thiên chính là thần sáng tạo Brahma trong hệ thống “Tam vị nhất thể” của Ấn Độ giáo. Cuốn sách giúp tôi tìm hiểu sâu hơn về thần Brahma (Phạm Thiên) trong tín niệm Hindu, nguồn gốc của hình tượng Brahma – Thần Bốn Mặt, và lý do Ngài trở thành đối tượng thờ tự của nhiều quốc gia châu Á. Đồng thời, sách cũng làm rõ vị trí của Phạm Thiên trong tín niệm Phật giáo. Một ví dụ khác là thần Vishnu – một trong ba vị thần tối cao của Ấn Độ giáo. Điều thú vị là Vishnu lại đảm nhận vai trò Hộ pháp trong các điện thờ Phật giáo, trong khi Hindu giáo lại xem Đức Phật là một hóa thân của thần Vishnu.
Hình ảnh Đức Phật ngồi thiền định, được rắn thần Naga Mucilinda che chở, trước đây tôi chỉ hiểu một cách mơ hồ. Qua những khảo sát và tài liệu của mình, Huỳnh Thanh Bình cho rằng tạo hình này có mối liên hệ với hình tượng Vishnu dựa trên rắn thần Sesha. Cụ thể, “Tượng đức Phật thiền định trên đài tọa là những cuộn tròn của thân rắn Mucilinda (còn gọi Muchalinda/ Mucalinda; âm Hán Việt: Mục Chân Lân Đà) và được Mucalinda vươn những chiếc đầu phủ che từ phía sau lưng. Hình tượng này ban đầu không có trong mỹ thuật Phật giáo Đại thừa truyền thống ở Việt Nam mà chỉ xuất hiện trong mỹ thuật Phật giáo Nam truyền của đồng bào Khmer Nam bộ. Đến những thập niên 30 của thế kỷ XIX, các hình tượng Phật – Rắn Mucilinda từ dòng gốm mỹ nghệ Biên Hòa đã đưa dạng tượng này, với kích thước nhỏ, đến gần hơn với công chúng. Cùng với sự phát triển của tông phái Phật giáo Nam truyền trong cộng đồng người Việt, tượng Phật – Rắn ngày càng trở nên phổ biến và hiện nay đã xuất hiện tại nhiều tu viện, thuộc cả Phật giáo Nam truyền lẫn Bắc truyền (…) Nhìn chung, so với các thần linh/ chư thiên gốc từ Hindu giáo được Phật giáo hóa, thần Vishnu/ Tỳ Nữu Thiên có phần ít phổ biến hơn; song đặc điểm đồ tượng của Vishnu lại có những biến tấu đặc dị trong tượng thờ Phật giáo” (sđd, trang 85-86).
Phật thoại ghi lại nhiều câu chuyện về rắn thần Naga Mucilinda, từ lúc Đức Phật đản sinh, việc che chở cho Ngài, bảo vệ xá lợi Phật, cho đến việc chứng đắc đạo quả. Theo Huỳnh Thanh Bình, “Trong kinh văn Phật giáo, các mô típ Naga thuộc truyền thống Hindu được tiếp nhận và biến cải ở nhiều mức độ khác nhau. Trong đó, sự thống thuộc Naga vào Bát bộ chúng/ Thiên long bát bộ – các vị thần bảo hộ Phật pháp là có phần hoàn bị. Đức Phật đã dùng oai đức cảm hóa cả 8 bộ chúng [Thiên (Deva/ Trời), Long (Naga/ Rồng), Dạ xoa (Yaksa/Quỷ, Chằn), Càn Thát Bà (Gandhava/ Hương thần/ Nhạc thần), Atula (Asura), Ca Lâu La (Garuda/ Kim xí điểu), Khẩn na la(Kimnara/ Phi nhân/ Ca nhân), Ma hầu La già (Mahoraga/ Đại mãn thần)] quy y trở thành quyến thuộc của Phật, hộ trì Phật và Phật pháp (…) Ở đó, nổi bật lên hàng đầu là tín niệm: dù bất cứ loài chúng sanh nào, kể cả loài hung dữ, độc hại như Naga/rắn, nếu biết phát khởi thiện tâm và chí nguyện theo thiện đạo thì chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ” (sđd, trg 356-360).
Nhìn chung, “Biểu tượng thần thoại về Chư thiên và Linh vật Phật giáo” là một cuốn sách vô cùng thú vị, mang đến cho tôi nhiều kiến thức mới mẻ, bổ ích. Tôi hy vọng rằng những người đọc khác cũng có những trải nghiệm tương tự.
Cuốn sách “Biểu tượng thần thoại Chư thiên và Linh vật trong Phật giáo” đã mở ra một góc nhìn mới về sự dung hợp văn hóa và tín ngưỡng trong Phật giáo, mời bạn đọc khám phá sâu hơn về những chủ đề này trong chuyên mục Đạo phật.
