Bồ tát Thích Quảng Đức tự thiêu: Giải mã nguyên nhân sâu xa

1852 01c7d 0813 1
0
(0)

Bối cảnh lịch sử năm 1963 đầy biến động đã chứng kiến một sự kiện chấn động, khi Phật giáo Việt Nam lên tiếng đòi hỏi sự công bằng và bình đẳng trong xã hội. Trước những chính sách đàn áp khắc nghiệt, hành động tự thiêu của Bồ tát Thích Quảng Đức đã trở thành lời khẳng định mạnh mẽ về tinh thần đấu tranh bất bạo động, một minh chứng đau lòng cho sự vi phạm quyền tự do tín ngưỡng. Tìm hiểu sâu hơn về nguyên nhân và ý nghĩa của sự kiện lịch sử này tại Chiasedaophat.

Ngọn lửa Thích Quảng Đức và biến cố Phật Giáo 1963: Góc nhìn quốc tế

Bản Tuyên ngôn do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam ấn ký, gửi chính phủ ngày 10-5-1963, đã nêu rõ nguyên nhân của cuộc đấu tranh bất bạo động của Phật giáo là đòi hỏi công bằng xã hội và bình đẳng tôn giáo. Do đó, hành động tự thiêu của Bồ tát Thích Quảng Đức là hệ quả trực tiếp của chính sách hà khắc, đàn áp Phật giáo của chính quyền đương thời, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng và gây ra nhiều bất công. Bản Tuyên ngôn nhấn mạnh:

“Từ nhiều năm nay, Phật giáo đồ đã bị khủng bố đàn áp khắp nơi, chúng tôi vẫn nhẫn nhục, đương nhiên không phải hèn yếu, mà vì ý thức được hoàn cảnh dân tộc ta hiện tại. Nhưng đau đớn thay, một số đã lợi dụng quyền hành gây ra không biết bao nhiêu tang tóc đối với Tăng và tín đồ Phật giáo khắp trong nước, đối xử một cách bất công với một tôn giáo có hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc. Từ hành động này đến manh tâm khác, thậm chí đã chà đạp lên quyền lợi thiêng liêng nhất của Phật giáo đồ: Cờ Phật giáo quốc tế bị triệt hạ. Quyết định này đã trái với hiến pháp và ngang nhiên vi phạm quyền tự do tín ngưỡng. Trước những hành động bất công đó, Tăng và tín đồ khắp cả trong nước, chúng tôi bắt buộc phải đứng dậy tranh đấu cho lý tưởng của mình.”[10]

Ba chính sách bất bình đẳng chính – độc tôn Thiên Chúa giáo, Đạo dụ số 10, và việc triệt hạ cờ Phật giáo – đã trở thành những nguyên nhân sâu xa, châm ngòi cho cuộc đấu tranh bất bạo động của Phật giáo, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm.

Nguyên nhân tự thiêu của Bồ tát Thích Quảng Đức 1

Nguyên nhân tự thiêu của Bồ tát Thích Quảng Đức là vì chính sách hà khắc đàn áp Phật giáo của chính quyền, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của người dân, tạo ra nhiều hành động bất công đối với Phật giáo.

Xá lợi Bồ tát Thích Quảng Đức đã được an vị tại Việt Nam Quốc Tự.

1. Chính sách Độc tôn Thiên Chúa giáo

Chế độ Việt Nam Cộng hòa dưới thời Ngô Đình Diệm thực chất là một thể chế gia đình trị và Thiên Chúa giáo trị, với sự ảnh hưởng sâu sắc từ Tổng thống Ngô Đình Diệm, Tổng giám mục Ngô Đình Thục, cố vấn Ngô Đình Nhu và Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân.

Thượng Nghị sĩ Mỹ Mike Mansfield, người từng ủng hộ Ngô Đình Diệm, đã nhận định rằng: “chế độ ông Diệm là một chế độ độc tài, gia đình trị, Công giáo trị”.[11] Trong nỗ lực đưa Thiên Chúa giáo trở thành tôn giáo độc tôn tại miền Nam Việt Nam, chế độ này đã phát động chiến dịch đàn áp Phật giáo vào mùa Phật đản năm 1963, một sai lầm lớn dẫn đến sự suy vong của chế độ chỉ sau vài tháng.

Avro Manhattan đã mô tả chính xác sự tàn bạo của chế độ này: “Tổng thống Ngô Đình Diệm của Nam Việt Nam là một người theo đạo Công giáo cai trị Nam Việt Nam bằng một bàn tay sắt… Ông đã được hồng y Spellman và giáo hoàng Pius XII đưa vào ghế tổng thống. Ông đã biến chức vụ tổng thống thành một nhà độc tài Công giáo, tàn nhẫn nghiền nát mọi đối lập chính trị và tôn giáo.”[12]

Avro Manhattan cũng cung cấp những số liệu đáng báo động về tội ác của chính quyền Ngô Đình Diệm trong giai đoạn 1955-1960: “Ít nhất là có 24.000 người bị thương, 80.000 người bị hành quyết hoặc ám sát, 275.000 người bị cầm tù, thẩm vấn hoặc tra tấn, và khoảng 500.000 người bị đưa đi các trại tập trung. Đây chỉ là những con số ước tính bảo thủ, khiêm nhường.”[13]

Ký giả người Úc Denis Warner nhận xét: “Trong nhiều năm, chế độ bạo ngược chuyên chế mà Tây phương đồng minh ở Saigon (chế độ Ngô Đình Diệm) còn tệ hơn cả chế độ mà Tây phương đang chiến đấu chống lại (chế độ Cộng sản).” Ông cho biết Diệm và gia đình đã sát hại hoặc lưu đày tất cả những người đối lập, khiến ông “mất đi sự tin cậy và trung thành của dân chúng,” như Bộ trưởng McNamara đã đánh giá vào ngày 26 tháng 3 năm 1964.[14]

Trong tác phẩm “Thập giá và lưỡi gươm”, linh mục Trần Tam Tĩnh chỉ ra rằng trong suốt 8 năm cầm quyền, chính quyền Ngô Đình Diệm đã kìm hãm 90% người không theo Công giáo trong một chính phủ do người Công giáo lãnh đạo, đồng thời trao quyền thế bất công cho các cha xứ: “Từ năm 1955 đến 1963 là thời vàng son của chủ nghĩa cha chú, với những lợi ích thật chẳng có bao nhiêu, nhưng với những hà lạm gây nhiều tiếng tăm hơn, nhất là trong khi dân chúng gồm 90% là ngoài Công giáo mà bị kìm hãm dưới một thứ chính “Chính phủ Công giáo.” Khắp nơi, ở thành phố cũng như tại nông thôn chiếc áo chùng thâm là biểu tượng của quyền thế.”[15]

Để củng cố chính sách bất bình đẳng xã hội và tôn giáo, đưa Công giáo lên vị trí độc tôn tại miền Nam, Ngô Đình Diệm đã thành lập đảng Cần lao – Nhân vị. Đảng này chủ trương “Chủ nghĩa duy linh – nhân vị”, với mục tiêu chống cộng sản, chống Phật giáo và các đảng phái quốc gia. Phương châm hoạt động của đảng là “vì Chúa và cho Giáo hội Công giáo,” khuyến khích các linh mục và giáo dân “đem hết thể xác và linh hồn cho đến hơi thở cuối cùng để chống cộng sản vô thần, chống Phật giáo ma quỷ, chống các đảng phái quốc gia”.[17]

Nguyên nhân tự thiêu của Bồ tát Thích Quảng Đức 2

Chính sách “vì lẽ trị an” đã cho phép chính quyền Ngô Đình Diệm triệt hạ cờ Phật giáo thế giới vào mùa Phật đản 1963, một biểu tượng tâm linh toàn cầu, nhằm khẳng định vị thế “Công giáo” ở Việt Nam, dù đây thực chất chỉ là một tôn giáo thiểu số.

Về triết lý chính trị “Nhân vị” của Diệm, Bernard Newman nhận xét: “Bất kể hiến pháp viết như thế nào, Diệm cai trị như là một nhà độc tài. Triết lý chính trị của ông ta dẫn xuất từ một nhóm Công giáo Pháp, những người đã đặt ra thuyết Nhân Vị… Thuyết Nhân Vị như là “một pha trộn lộn xộn của những sắc lệnh của giáo hoàng và kinh tế mẫu giáo, tổ hợp với một sự nghi ngờ những tư nhân thương gia, một sự e ngại đầu tư ngoại quốc, và một quan niệm là không thể thành đạt được gì nhiều ở Việt Nam nếu không có sự kiểm soát của chính phủ.”[18]

Để đề cao Công giáo, chính quyền Ngô Đình Diệm đã tổ chức các lớp học về duy linh, xuyên tạc đạo Phật, và đe dọa, ép buộc các hội viên phải cải đạo sang Thiên Chúa giáo nếu không sẽ bị đi học tập dài hạn.[19] Bên cạnh đó, chính quyền còn áp dụng chính sách cưỡng bức cải đạo, đàn áp Phật tử và ban hành nhiều quy định bất hợp lý: “Đối với dân lương từ năm 1954 đến năm 1963, chế độ Ngô Đình Diệm đã giết chết, bắt giam, tra tấn Phật giáo đồ; dụ dỗ cải đạo, cấm Phật tử đi lễ chùa.”[20]

Theo Tướng Trần Văn Đôn, người tham gia đảo chính Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963, chính sách di cư vào Nam thực chất là chiêu bài đưa người Thiên Chúa giáo vào miền Nam để xây dựng “nước Chúa”. Trong số 887.895 người di cư sau năm 1954, có đến 754.710 người là tín đồ Thiên Chúa giáo (85%). Các chức vụ chủ chốt trong chính quyền Ngô Đình Diệm đều do người Công giáo nắm giữ.[21]

Chính sách toàn trị và Công giáo trị của Diệm được xem là một hình thức phát-xít mới tại Việt Nam: “Diệm muốn thống nhất cả nước thành một khối Công giáo và chuyển các tôn giáo và đảng phái sang Công giáo. Công giáo ở Việt Nam là chủ nghĩa tư bản. Giáo hội là đại diện của chính phủ. Nếu anh muốn giàu sang, nếu anh muốn trở thành sĩ quan, anh phải là Công giáo”.[22] Chính vì chủ trương này, Phật giáo đã trở thành đối tượng bị khủng bố và áp bức của chính quyền Ngô Đình Diệm.

2. Bất bình đẳng tôn giáo trong Đạo dụ số 10

Về mặt pháp lý, Đạo dụ số 10 được xem là nguồn gốc của sự bất bình đẳng tôn giáo, một công cụ mà chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng để ưu ái Thiên Chúa giáo và kìm hãm Phật giáo cùng các tôn giáo khác. Chính sách thiên vị này đã tồn tại từ thời Pháp thuộc và thời Quốc trưởng Bảo Đại, tiếp tục được Việt Nam Cộng hòa áp dụng với mục đích đàn áp Phật giáo và đề cao Thiên Chúa giáo.

Đạo dụ số 10, ban hành năm 1950 bởi Quốc trưởng Bảo Đại, quy định về việc thành lập các hội đoàn, bao gồm cả tôn giáo, nhưng loại trừ Thiên Chúa giáo. Mặc dù Đạo dụ này không còn hiệu lực pháp lý sau khi chế độ Bảo Đại sụp đổ, chính phủ Ngô Đình Diệm vẫn dựa vào nó từ năm 1954 đến 1963 để đàn áp Phật giáo, nhằm từng bước biến Thiên Chúa giáo thành quốc giáo.

Điều 7 của Đạo dụ số 10 cho phép chính quyền bác bỏ việc thành lập các hội đoàn mà “không cần phải nói rõ lý do” hoặc “bãi đi vì trái điều lệ hay vì lẽ trị an”.[23] Điều khoản mơ hồ về “lẽ trị an” này đã bị lạm dụng để phá vỡ công bằng xã hội và bình đẳng tôn giáo, khiến lãnh đạo Phật giáo Việt Nam nhận định: “Đạo dụ số 10 triệt hạ hết thảy giá trị tôn giáo.”[25]

Nguyên nhân tự thiêu của Bồ tát Thích Quảng Đức 3

Theo Thượng tọa Thích Trí Quang, lãnh đạo phong trào Phật giáo năm 1963, vụ triệt hạ cờ Phật giáo là “giọt nước tràn ly” trong một bát nước đã quá đầy.

Có lẽ, chính vì vin vào chính sách “vì lẽ trị an” mà chính quyền Ngô Đình Diệm có cớ triệt hạ cờ Phật giáo thế giới vào mùa Phật đản 1963, một biểu tượng tâm linh của Phật giáo toàn cầu, nhằm khẳng định vị thế “Công giáo” ở Việt Nam, dù đây thực chất chỉ là một tôn giáo thiểu số.

Điều 44 của Đạo dụ số 10 quy định một “chế độ đặc biệt cho các hội truyền giáo Thiên chúa và Gia-tô”, dựa trên “căn bản pháp lý của thực dân Pháp”.[26] Theo lãnh đạo Phật giáo Việt Nam năm 1963, các điều 10 và 12 đã tạo ra sự kiểm soát nghiêm ngặt đối với các tôn giáo ngoài Thiên Chúa giáo và Gia-tô giáo, cho phép bất kỳ nhân viên hành chính và tư pháp nào có thể can thiệp.[27] Việc duy trì Đạo dụ số 10 đã tạo ra tình trạng thiên vị, đàn áp Phật giáo, khủng bố Tăng Ni, bắt bớ tín đồ, gây bất ổn tôn giáo, chính trị và xã hội tại miền Nam Việt Nam.

3. Cấm treo cờ Phật giáo thế giới dịp Đại lễ Phật đản 1963

Bắt nguồn từ chủ trương “chống cộng sản vô thần, chống Phật giáo ma quỷ, chống các đảng phái quốc gia” và dựa trên tinh thần thiên vị Công giáo của Đạo dụ số 10, chính sách của Ngô Đình Diệm đã thẳng tay đàn áp Phật giáo. Khởi đầu là Công điện 9195 của Phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 6-5-1963, cấm treo cờ Phật giáo trong đại lễ Phật đản 1963. Thượng tọa Thích Trí Quang, một trong những lãnh đạo phong trào Phật giáo năm 1963, đã ví vụ triệt hạ cờ Phật giáo như “một giọt nước cũng thừa sức làm chảy tràn ra một bát nước vốn đã quá đầy”.[28]

Để cứu nguy Phật giáo, ngày 25-5-1963, Ban Trị sự TW Tổng hội Phật giáo Việt Nam đã triệu tập 11 giáo phái và hội đoàn Phật giáo, thành lập Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo. Ủy ban này do Thượng tọa Tâm Châu làm chủ tịch, dưới sự chứng minh tối cao của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết.

Ủy ban Liên phái đã gửi ba công điện. Công điện đầu tiên, gửi cộng đồng Phật giáo thế giới vào lúc 2 giờ sáng ngày 7-5-1963, kêu gọi can thiệp chính phủ Việt Nam Cộng hòa và đề nghị không triệt hạ cờ Phật giáo: “Cờ Phật giáo bị không cho treo tại các tự viện Phật giáo ngay trong ngày Đại lễ Phật đản quốc tế, yêu cầu can thiệp với chính phủ Việt Nam Cộng hòa”.

Công điện thứ hai gửi Ngô Đình Diệm, yêu cầu thu hồi Công điện 9195 một cách khéo léo: “Chúng tôi không tin rằng quyết định đó xuất phát từ Tổng thống. Thỉnh cầu Tổng thống ra lệnh điều tra và thu hồi công điện nói trên. Trân trọng”.

Công điện thứ ba gửi các hội đoàn Phật giáo Việt Nam, kêu gọi các sơ môn pháp phái Phật giáo sẵn sàng thống nhất hành động vì đại cuộc dân tộc và Phật giáo: “Cờ Phật giáo bị triệt hạ bởi Công điện số 9159. Đã điện cho Phật giáo thế giới can thiệp và đã điện cho Tổng thống thỉnh cầu đình chỉ. Nhưng các tập đoàn Phật giáo vẫn thông báo cho các đơn vị và chờ chỉ thị”.

Bất chấp các nỗ lực của Phật giáo Việt Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn ngang nhiên triệt hạ cờ Phật giáo thế giới. Sự kiện này đã châm ngòi cho cuộc biểu tình ở Thừa Thiên vào chiều ngày 7-5-1963. Vụ thảm sát của chính quyền tại Đài Phát thanh Huế vào ngày 8-5-1963, làm 8 Phật tử thiệt mạng (7 trẻ em và 1 người lớn), đã “đổ thêm dầu vào lửa” cho phong trào đấu tranh bất bạo động của Phật giáo, góp phần dẫn đến sự sụp đổ của chế độ độc tài kỳ thị tôn giáo Ngô Đình Diệm vào ngày 1-11-1963.

Nguyên nhân tự thiêu của Bồ tát Thích Quảng Đức 4

Trái tim bất diệt của Bồ tát Thích Quảng Đức.

Chùa cổ Thiên Tứ là nơi lưu giữ nhiều dấu ấn của Bồ Tát Thích Quảng Đức.

Truyền thông của chính quyền Ngô Đình Diệm vu cáo vụ thảm sát là do “Việt Cộng ném lựu đạn”,[30] nhưng thực tế là do binh sĩ và xe tăng của Thiếu tá Mathew Đặng Sĩ,[31] dưới lệnh của Tổng giám mục Ngô Đình Thục.[32] Lời bào chữa của Đặng Sĩ vào năm 1964 không thể giúp ông thoát khỏi án tử hình vì các tội danh “bắn vào đám đông không vũ trang, dùng xe bọc thép cán người biểu tình, và sử dụng chất nổ nguy hiểm để kiểm soát đám đông”.[33] Những sự kiện này đã dẫn đến cuộc tàn sát đẫm máu, khủng bố Tăng, tín đồ Phật giáo, và gây ra pháp nạn Phật giáo 1963, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ của Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa.

Xem thêm: Duyên nợ hay nỗ lực: Đâu mới là "chìa khóa" cho tình yêu vĩnh cửu?

Tìm hiểu thêm: Phật Tỳ Bà Thi: Bí ẩn phước lành và con đường giải thoát chuẩn phong thủy

Khám phá: Giải phóng bản ngã: Chinh phục chấp trước, chạm tới an lạc tuyệt đối

Để hiểu sâu hơn về bối cảnh lịch sử và ý nghĩa của những sự kiện này, mời bạn khám phá thêm trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang