Khám phá ngôi chùa mang tên gọi giản dị nhưng ẩn chứa bề dày lịch sử, nơi mà danh xưng “Bà Già” không chỉ là một địa danh mà còn là chìa khóa mở ra những câu chuyện huyền bí từ thuở xa xưa. Liệu đằng sau cái tên quen thuộc ấy là gì, và quá trình hình thành chốn tâm linh này đã trải qua những biến thiên ra sao? Hành trình tìm hiểu sâu hơn về chiasedaophat.com sẽ giúp bạn giải mã những bí ẩn này.
Nguồn gốc tên gọi “Chùa Bà Già”
Ngôi chùa tọa lạc tại thôn Bà Già nên được gọi với cái tên quen thuộc là chùa Bà Già. Tuy nhiên, ý nghĩa thực sự đằng sau tên gọi “Bà Già” và những huyền tích liên quan đến nhân vật này lại ít được ghi chép và giải thích rõ ràng.
Năm 1985, nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc, qua việc nghiên cứu quyển “Bản xã thần ký” ghi chép về thần phả của làng Phú Gia, đã giải mã được một số thông tin lịch sử liên quan đến địa danh “thôn Bà Già”.
Theo lời kể của các bậc cao niên trong làng, vào những năm 1980, một vị cao tuổi tại làng Phú Gia đã dịch cuốn “Bản xã thần ký”. Nội dung của thần tích cho biết, vào thời xa xưa, vùng đất này có tên gọi là Bà Già hương. Đến thời kỳ nước ta bị nhà Đường đô hộ (khoảng thế kỷ VIII), Bà Già hương được đổi tên thành An Dưỡng phường.
Lịch sử hình thành và phát triển của chùa
Vào thế kỷ XIII, dưới thời nhà Trần, vua đã huy động dân cư của phường An Dưỡng tham gia sửa chữa bến Đông Bộ Đầu và đắp thành Đại La nhằm mục đích chống lại quân Nguyên xâm lược. Sau đó, An Dưỡng phường được đổi tên thành An Dưỡng thành Phú Gia.
Tại Phú Gia, ngay từ thời kỳ Bắc thuộc, đã có nhiều miếu thờ thổ thần và đền thờ. Một trong số đó là ngôi đền thờ thổ thần có lịch sử lâu đời. Đến niên hiệu Thiệu Long, đời vua Trần Thánh Tông (1258-1272), Thiền sư Văn Thao đã tiến hành trùng tu ngôi đền này và đổi tên thành chùa An Dưỡng. Tuy nhiên, sau đó chùa bị hư hỏng nặng và đã được dời về gò Con Quy.
Tiếp tục theo thần tích xã Phú Gia, vào thời Hồng Đức (1470-1497) dưới triều nhà Lê, một người dân Phú Gia tên là Nghĩa Đạt đã đỗ Nhất giáp Tiến sĩ. Ông giữ chức Phó đô ngự sử và đã có công lớn trong việc chuyển đổi vị trí của đình làng từ khu vực giáp làng Quán La về. Ông đặt tên khu vực này là “hình nhân bái tướng”. Chùa An Dưỡng (nay là chùa Bà Già) được xây dựng cạnh đình, trên khu đất gò Con Quy.
Theo “Đại Việt Sử ký Toàn thư”, thôn Bà Già từng là nơi các vị vua nhà Trần ghé thăm. Một bộ phận tù binh Chiêm Thành (Champa) được đưa từ phía Nam ra đã xây dựng nên ngôi chùa mà trong sách được phiên âm là Đa-da-li. Thái úy Trần Nhật Duật (1254 – 1330) thường xuyên cưỡi voi đến đây để trao đổi với vị sư trụ trì người Champa. Có giả thuyết cho rằng tên gọi “Bà Già” có thể bắt nguồn từ âm “Đa-da-li” này.
Giá trị lịch sử và văn hóa của chuông chùa Bà Già
Tại hội thảo khoa học tháng 11 năm 1999 với chủ đề “Thăng Long, Đông Đô, Đông Kinh, Hà Nội”, Giáo sư Trần Quốc Vượng đã có phần trình bày về chuông chùa Bà Già, khẳng định đây là một loại chuông quý hiếm, rất ít thấy tại Hà Nội.
Trên thân chuông có khắc chữ Việt với nội dung: “Tiết cuối đông Ất Hợi Chinh Hòa, nho sinh thợ Liễu Tràng khắc chữ. Ông Nhã Lương, người đậu khoa thi Tam Trường Mậu Thìn soạn văn. Nguyễn Thắng Khôi chức tài phó bá, cục Chinh tài người làng Thái Tự Thượng, xã Đế Cầu cùng hiệp hội thợ tổ chức đúc chuông.”
Bài Minh trên chuông có những câu thơ ý nghĩa:
- Tiếng chuông răn đời
- Vật báu đất nước
- Âm vang muôn nơi
- Cỏ cây đua mọc
- Mùa xuân xinh tươi
- Tụng niệm kinh Phật
- Chăm chú đời đời
- Công đức to nhỏ
- Quả phúc vàng mười.
Tiếng chuông chùa Bà Già vang vọng khắp thôn, nơi được mô tả là một danh lam thắng cảnh với thế đất “Quy Bộ đầu” (rùa chầu rồng bay, hổ phục, lân xòe, phượng múa). Ngôi chùa, từng tọa lạc nơi cánh đồng, nay đã chuyển đến vùng đất cao ráo, có ao trong, cây cổ thụ bóng mát, xung quanh nhà cửa san sát, làng xóm trù phú. Mỗi sớm mai, tiếng chuông vang lên như xua tan màn mây, gợi nhớ về miền Tây Trúc. Đạo Phật, với thông điệp bình yên, hướng thiện, trừ ác và mang lại phúc lành, luôn hiện hữu trong tâm thức mỗi người. Vào những ngày Rằm, mồng Một, chùa đón rất đông người đến lễ bái.

Chùa Bà Già. Ảnh: St
Việc đúc chuông, tô tượng, sửa chùa là tâm nguyện chung của mọi người, từ quan viên, hương trưởng, lão điền đến bà vãi, tăng ni, không phân biệt giàu nghèo. Họ đều phát tâm Bồ đề, đóng góp công sức và của cải, tin rằng điều đó sẽ mang lại quả phúc lớn cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
(Bản dịch của TS Nguyễn Hồng Lam).
Chuông được đúc vào năm Chính Hòa (1665) thời Hậu Lê, với 303 chữ được khắc trên bốn mặt. Theo nhà nghiên cứu quá cố Đỗ Thỉnh, vào thế kỷ XVII, tại vùng Từ Liêm xưa, trải dài từ sông Tô đến sông Nhuệ, chỉ có hai quả chuông loại này, một ở chùa Bà Già và một ở chùa Trung Kính (phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy).
Chuông có chiều cao 129cm, chu vi miệng 70cm, tỷ lệ chiều cao so với chiều ngang là 1,84. Quai chuông được tạo hình hai con rồng đấu lưng, thân rồng mập mạp. Chuông có 6 núm tròn, dùng để gõ trên 4 núm và dưới 2 núm. Tên chuông được khắc chìm trong họa tiết lá với 8 chữ, theo kiểu chùa Mui (Hà Tây), chùa Nành (Hà Nội), chùa Cam (Ninh Bình). Bài Minh trên chuông cho biết những người thợ đúc là những người tài hoa từ xã Đế Cầu, phủ Thuận An, Kinh Bắc. Xã Đế Cầu bao gồm các làng: Mé Co (Châu Mỹ), Điền (Điền Tiến), Ri Hj (Hạ), Ri Thượng (Thượng). Ngày nay, khu vực này thuộc xã Nguyệt Đức, Thuận Thành, Bắc Ninh.
Những người thợ này sau đó đã di cư và lập nên làng Ngũ Xã thuộc quận Ba Đình. Họ đã đúc nhiều hiện vật quý, trong đó có tượng A Di Đà tại chùa Thần Quang. Dòng họ Ông Nghĩa Đạt, vị tiến sĩ năm 1475 có công chuyển đình, chùa Phú Gia từ cánh đồng giáp Quán La về đất Quy Bộ Đầu, cũng có mối liên hệ với nghề đúc đồng này. Dòng họ này ban đầu thờ Tự Đức (188-1883) và sau đó đổi sang họ Công. Hiện nay, dòng họ này có nhiều chi phái như: Công Văn, Công Nghĩa, Công Doãn. Nhà bà Công Thị Tý từng là trụ sở in báo “Cờ giải phóng” trong thời kỳ tiền khởi nghĩa. Công Doãn Đương là người lái trực thăng cho Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1962-1963. Gia đình đồng chí Kha đã vinh dự hai lần đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm vào ngày 24/8/1945 và 24/11/1946. Hiện nay, gia đình đã hiến ngôi nhà cổ làm nhà lưu niệm. Cụ Nguyễn Thị An, người từng mời cơm Bác Hồ năm xưa, hưởng thọ 104 tuổi (đã khuất) và được trao tặng “Huy chương kháng chiến hạng II”.
Khám phá thêm những giá trị lịch sử và văn hóa sâu sắc, cũng như những lời dạy ý nghĩa của nhà Phật trong chuyên mục Đạo phật.
