Chúa Trời vs. Đức Phật: Khám phá những điểm khác biệt cốt lõi

duc phat va chua troi 1208 1
0
(0)

Trong khi nhiều người theo đạo Thiên Chúa tìm kiếm sự thấu hiểu về Đấng Sáng Tạo qua lời cầu nguyện và mặc khải thiêng liêng, những người theo đạo Phật lại tiếp cận thế giới tâm linh qua một lăng kính khác biệt. Sự đối lập này dẫn đến những nhận thức thú vị về hình ảnh của vị Thượng Đế được mô tả trong Kinh Thánh, gợi mở một cuộc đối chiếu sâu sắc với những phẩm hạnh cao quý của Đức Phật. Hãy cùng khám phá sự khác biệt này và làm sáng tỏ những ưu điểm vượt trội của bậc Giác Ngộ tại Chiasedaophat.

Mặc dù những người theo đạo Thiên Chúa không trực tiếp nhìn thấy Thượng Đế, họ tin rằng có thể thấu hiểu Ngài thông qua cầu nguyện và cảm nhận sự hiện diện của Ngài. Họ cũng cho rằng ý muốn của Thượng Đế được bày tỏ qua Kinh Thánh.

Đối với những người theo đạo Phật, việc không thực hành cầu nguyện hay công nhận một vị Thượng Đế theo quan niệm Thiên Chúa giáo khiến họ tiếp cận hình ảnh này chủ yếu qua việc đọc Kinh Thánh.

Tuy nhiên, khi đọc những mô tả về Thượng Đế trong Kinh Thánh, nhiều người Phật tử cảm thấy bất ngờ. Họ nhận thấy hình ảnh Thượng Đế được miêu tả trong Kinh Thánh có nhiều điểm khác biệt so với những gì họ nghe từ các tín đồ Thiên Chúa giáo.

Trong khi Phật tử bác bỏ khái niệm về Thượng Đế của Thiên Chúa giáo vì cho rằng nó thiếu tính hợp lý và căn cứ, họ còn thấy hình ảnh này kém phần tôn nghiêm khi so sánh với hình mẫu lý tưởng của Đức Phật. Bài viết này sẽ xem xét những gì Kinh Thánh nói về Thượng Đế và so sánh với kinh điển Phật giáo (kinh Tạng Tỳ Ni, Luật Tạng, và Kinh Tạng) để làm rõ những phẩm hạnh ưu việt của Đức Phật.

Ngoại hình và Diện mạo

Kinh Thánh cho rằng Thượng Đế đã tạo ra con người theo hình ảnh của Ngài (Sáng thế ký 1:26). Điều này gợi ý rằng Thượng Đế có hình dáng giống một người đàn ông. Kinh Thánh cũng mô tả Ngài có tay (Xuất hành 15:12), cánh tay (Đệ nhị luật 11:2), và ngón tay (Đệ nhị luật 13:7). Tuy nhiên, Thượng Đế không muốn con người nhìn thấy mặt Ngài, nhưng có thể thấy phần lưng của Ngài.

Những điểm khác biệt giữa Chúa Trời và Đức Phật 1

“Và khi ta cất tay đi, các ngươi sẽ thấy lưng Ta, nhưng mặt Ta thì các ngươi sẽ không thấy.” (Xuất hành 33:23).

Mặc dù có những đặc điểm giống con người, Thượng Đế trong Kinh Thánh đôi khi còn được miêu tả với hình ảnh đáng sợ, tương tự như các ác thần hay thần canh cửa trong các đền thờ ở Ấn Độ và Trung Quốc, với lửa bốc ra từ thân thể.

“Lửa sẽ đi trước Ngài và thiêu đốt kẻ thù xung quanh Ngài.” (Thi thiên 97:3).

“Thượng Đế chúng ta đến, Ngài sẽ không im lặng; trước mặt Ngài là lửa thiêu, chung quanh Ngài là bão tố nổi lên giận dữ.” (Thi thiên 50:3).

“Dân chúng kêu than về những khó khăn của họ trước mặt Chúa, và khi Chúa nghe, cơn thịnh nộ của Ngài bùng lên. Rồi lửa từ Chúa thiêu đốt họ, và hủy diệt một số người ở ngoại vi trại.” (Dân số ký 11:1).

Khi Thượng Đế nổi giận, điều dường như xảy ra khá thường xuyên, khói lửa phun ra từ thân thể Ngài.

“Đất rung chuyển và rung động, nền móng các núi non lay chuyển, chúng run sợ vì cơn thịnh nộ của Ngài. Khói bốc ra từ lỗ mũi Ngài, lửa đỏ phun ra từ miệng Ngài, làm thoát ra những than hồng rực sáng.” (Thi thiên 18:7-8).

Nhà tiên tri Ezekiel đã mô tả một viễn cảnh về Thượng Đế và các tùy tùng của Ngài:

Vào ngày mồng năm tháng Tư, năm thứ năm của cuộc lưu đày của Vua Jehoiachin, lời của Chúa đến với tiên tri Ezekiel, con trai của Buzi, gần sông Kebar thuộc xứ Babylon. Tay Chúa đặt trên vị tiên tri. Tôi nhìn, và thấy một cơn dông bão ào đến từ phương Bắc, một đám mây lớn với sấm sét rực rỡ và ánh sáng chói lòa bao quanh. Ở trung tâm của ngọn lửa, có thứ trông như kim loại lấp lánh, và trong ngọn lửa đó có bốn sinh vật mang hình dáng con người, nhưng mỗi sinh vật có bốn khuôn mặt và bốn cánh. Chân họ thẳng, bàn chân giống chân con bê và lấp lánh như đồng thiếc được đánh bóng. Dưới các cánh ở bốn phía, có bàn tay như tay người. Cả bốn sinh vật đều có mặt và cánh, và các cánh của họ tiếp xúc với nhau. Họ đi thẳng về phía trước; họ không quay người khi chuyển động.

Khuôn mặt của họ trông như thế này: Một trong bốn khuôn mặt là mặt người, bên phải là mặt sư tử, bên trái là mặt bò đực, và có cả khuôn mặt chim ưng. Đó là dáng vẻ khuôn mặt của họ. Các cánh của họ dang rộng lên cao; mỗi người có hai cánh tiếp xúc với hai cánh của sinh vật bên cạnh, và hai cánh để che phủ cơ thể. Họ đi thẳng về phía trước. Bất kỳ sinh vật siêu nhiên nào muốn đi đâu là họ đi theo mà không cần xoay trở. Dáng vẻ các sinh vật đó như than hồng rực rỡ hay như những ngọn đuốc. Lửa chuyển động tới lui giữa các sinh vật, lửa bùng sáng và sấm sét loé ra từ đó. Các sinh vật di chuyển tới lui như chớp giật. Khi nhìn các sinh vật đó, tôi thấy một bánh xe trên mặt đất bên cạnh mỗi sinh vật bốn mặt. Đây là hình dáng và cấu trúc của các bánh xe: chúng lấp lánh như ngọc bích, và cả bốn bánh xe đều giống nhau. Mỗi bánh xe được sắp đặt như thể bánh này giao nhau với bánh kia. (Ezekiel 1:4-21).

Những người theo đạo Thiên Chúa thường nhìn các vị thần có nhiều cánh tay và khuôn mặt dữ tợn trong các đền thờ Ấn Độ giáo và Lão giáo và khẳng định rằng những vị thần đó là quỷ dữ, không phải thánh thần. Tuy nhiên, như Kinh Thánh đã làm rõ, ngoại hình của Thượng Đế Thiên Chúa giáo cũng rất tương tự. Hơn nữa, nếu một vị thần Ấn Độ giáo hay Lão giáo mang nhiều vũ khí, thì Thượng Đế Thiên Chúa giáo cũng vậy.

“Vào ngày đó, Chúa sẽ trừng phạt bằng lưỡi gươm của Ngài, lưỡi gươm cuồng nộ, to lớn và mạnh mẽ của Ngài.” (Ê-sai 27:1).

Mặt trời và mặt trăng đứng yên trên bầu trời vì tia sáng phát ra từ các mũi tên đang bay của Ngài, vì ánh sáng ngọn giáo nung nóng của Ngài. Trong cơn cuồng nộ, Ngài vượt xuyên qua địa cầu và trong cơn giận dữ Ngài trừng phạt các dân tộc. (Ha-ba-cúc 3:11-12).

Từ trời cao, Chúa nổi sấm sét, giọng nói của Đấng Tối cao vang lên. Ngài bắn các mũi tên của Ngài làm kẻ thù tan nát. (Thi thiên 18:13-14).

“Nhưng Chúa sẽ bắn chúng bằng các mũi tên, thình lình chúng sẽ bị đốn ngã.” (Thi thiên 64:7).

“Thế rồi Chúa sẽ xuất hiện trên đầu chúng, các mũi tên của Ngài loé lên như tia chớp. Chúa tối cao sẽ nổi kèn xuất quân.” (Xa-cha-ri 9:14).

Một điểm thú vị khác là dáng vẻ của Thượng Đế khi di chuyển giống như các vị thần phi hành. Kinh Thánh cho rằng Thượng Đế di chuyển từ nơi này sang nơi khác bằng cách ngồi trên các đám mây (Ê-sai 19:1) hoặc cưỡi trên lưng một thiên thần (Thi thiên 18:10). Rõ ràng, từ những trích dẫn này, Thượng Đế có một dáng vẻ man rợ và kinh khiếp; một kết luận được xác minh bởi Kinh Thánh, trong đó con người được mô tả là cực kỳ sợ hãi trước bóng dáng của Thượng Đế.

“Hãy thờ phụng Chúa với sợ hãi và run sợ, hãy hôn chân Ngài nếu không Ngài sẽ nổi giận và các ngươi sẽ bị diệt vong, vì sự phẫn nộ của Ngài thì dễ bị kích động một cách nhanh chóng.” (Thi thiên 2:11).

“Vì thế, con khiếp sợ sự hiện diện của Ngài. Khi nghĩ đến Ngài là con kinh sợ Ngài, Chúa Trời đã làm cho tim con yếu ớt. Đấng Thượng Đế đã kinh động con.” (Gióp 23:15).

Giê-su thường nói rằng chúng ta phải kính sợ Thượng Đế (Lu-ca 12:4-5). Kinh Thánh cũng nói một cách đúng đắn rằng nơi nào có sợ hãi thì nơi đó không thể có yêu thương (1 Giăng 4:18). Do đó, nếu Thượng Đế đã làm cho con người sợ hãi thì thật khó hiểu làm sao mà đồng thời, con người có thể yêu thương Ngài một cách chân thành được.

Còn Đức Phật thì giống như thế nào?

Là con người, Đức Phật có thân thể của một người bình thường. Tuy nhiên, kinh điển Phật giáo thường mô tả Ngài có vẻ đẹp cao cả riêng.

“Ngài đẹp đẽ, xinh tươi, dễ nhìn, có một sắc đẹp tốt đẹp nhất, dáng vẻ và nét trang nghiêm của Ngài như Phạm Thiên, ngoại hình của Ngài đẹp đẽ.” (Trường Bộ Kinh, Kinh số 4).

“Ngài đẹp đẽ, gây được niềm tin, với ý thức điềm tĩnh và tâm trí thanh tịnh, trầm tĩnh và tự chủ, như một con voi được thuần phục một cách hoàn hảo.” (Tăng Chi Bộ Kinh, Kinh số 36).

Bất cứ khi nào người ta thấy Đức Phật, dáng vẻ điềm tĩnh của Ngài bao trùm lấy họ bằng sự an lành, và nụ cười nhẹ nhàng của Ngài an ủi họ. Giọng nói của Thượng Đế vang to và khủng khiếp như sấm (Thi thiên 68:33), thì giọng nói của Đức Phật lại nhẹ nhàng và êm dịu.

Khi ở tu viện, nếu Ngài đang giảng Pháp, Ngài đã không đề cao hay xem thường cử tọa. Trái lại, Ngài làm cho họ vui thích, được nâng cao, được hứng khởi và làm họ sung sướng với bài Pháp. Âm thanh giọng nói của Phật có tám đặc điểm; đó là dứt khoát và dễ hiểu, ngọt ngào và dễ nghe, lưu loát và trong sáng, sâu xa và âm vang. (Trung Bộ Kinh, Kinh số 19).

Thượng Đế mang vũ khí vì Ngài phải giết kẻ thù của mình và vì Ngài khống chế con người bằng bạo lực và đe dọa. Đức Phật, trái lại, chẳng tỏ ra thù hằn ai và có thể kiểm soát người khác bằng lý lẽ. Nói về Đức Phật, có lần Vua Pasenadi đã nói:

“Ta là vua, có thể thi hành những gì cần thi hành, trừng phạt những ai cần trừng phạt, hay lưu đày những ai cần lưu đày. Nhưng khi ta đang ngồi ở một phiên tòa, đôi lúc có người chận ngang cả ta. Ngay chính ta cũng không có cả cơ hội để nói “Đừng cắt lời ta! Hãy đợi ta nói xong đã.” Nhưng khi Đức Phật giảng Pháp, không có ngay cả một tiếng ho của thính chúng. Một lần nọ, trong khi ta ngồi nghe Ngài thuyết Pháp, bỗng có một môn đồ nào đó ho lên một tiếng, và một đồng môn đã gõ lên đầu gối kẻ nọ rồi nói, “Thưa bạn, hãy yên lặng, đừng làm ồn. Sư phụ chúng ta đang giảng Pháp”, và ta tự nghĩ, thật là kỳ diệu, thật là phi thường, các môn đồ đã được khéo dạy dỗ mà chẳng cần roi vọt hay gươm đao gì.” (Trung Bộ Kinh, Kinh số 89).

Chúng ta có thể tưởng tượng Thượng Đế sẽ phản ứng thế nào nếu một ai đó dại dột chen ngang khi Ngài đang nói. Chúng ta cũng có thể hiểu từ những điều nói trên rằng vóc dáng Đức Phật đã phản ánh sự trầm tĩnh và tình thương sâu xa bên trong. Người ta luôn say mê hứng khởi do vầng hào quang bình an bao bọc quanh Đức Phật.

Bản chất Trí tuệ

Chúng ta đã thấy rằng Phật tử không tin vào Thượng Đế bởi vì đối với họ, ý niệm về một vị “Chúa” là vô lý và trái ngược với hiện thực. Phật tử cũng bác bỏ “Chúa” của người Thiên Chúa giáo vì, nếu Kinh Thánh đúng, Thượng Đế có vẻ không được hoàn hảo lắm. Hầu hết những người có học thức không thể chấp nhận được những cảm xúc tiêu cực mà họ tìm thấy nơi Thượng Đế. Chúng ta hãy xem xét Kinh Thánh mô tả trí tuệ Thượng Đế như thế nào.

Tính tình nổi bật nhất của Thượng Đế, hơn hẳn những tính tình khác, là tính ghen tị. Ngay cả chính Ngài còn thừa nhận Ngài là kẻ tị hiềm: “Vì Chúa là một ngọn lửa hủy diệt, một Chúa Trời tị hiềm.” (Đệ nhị luật 4:24).

Không gì làm Thượng Đế đố kỵ bằng việc con người thờ phụng các thần linh khác, và thậm chí Ngài còn bảo chúng ta phải giết ngay con của mình nếu chúng theo các thần linh khác.

“Nếu anh em của ngươi, con trai con gái của ngươi, vợ ngươi hay bạn bè chí cốt của ngươi, bí mật dụ dỗ ngươi, bảo rằng, ‘chúng ta hãy thờ phụng thần linh khác’ mà ngươi hoặc cha ngươi chẳng hề biết các thần linh đó quanh ngươi dù xa dù gần, dù đầu này hay đầu kia trái đất, thì ngươi không được khuất phục hay nghe theo lời nó, cũng không thương xót, không tha thứ, không che giấu nó, nhưng ngươi phải giết nó mà thôi. Chính tay ngươi phải là bàn tay đầu tiên chống lại nó, giết nó và sau đó mọi kẻ khác có thể đánh đập nó.” (Đệ nhị luật 13:6).

Kinh Thánh còn cho chúng ta biết rằng Thượng Đế thường mất bình tĩnh và nổi giận.

“Hãy xem, ngày của Chúa đang đến – một ngày tàn bạo, với phẫn nộ và giận dữ ác liệt, để làm cho mặt đất hoang phế và hủy diệt những kẻ tội lỗi trên đó.” (Ê-sai 13:9).

“Thượng Đế giận dữ hàng ngày.” (Thi thiên 7:11).

“Chúa sẽ làm cho con người nghe giọng nói uy nghi của Ngài và sẽ làm cho họ thấy cánh tay Ngài giáng xuống với giận dữ điên cuồng và đầy lửa.” (Ê-sai 30:30).

“Cơn giận dữ của Ngài sẽ thiêu đốt các ngươi và Ngài sẽ hủy diệt các ngươi trên mặt đất.” (Đệ nhị luật 6:15).

Thượng Đế bảo chúng ta phải thương yêu, nhưng Ngài thì được mô tả như là kẻ hận thù và đầy ghê tởm.

“Các ngươi phải ghét tất cả ai làm điều sai trái. Các ngươi phải hủy diệt những ai nói dối, Chúa căm thù những kẻ khát máu và lừa lọc.” (Thi thiên 5:5-6).

Khám phá: Bính Dần 1986: Khai phá vận mệnh 2025 dưới ánh Sao Chiếu Mệnh

Ngài còn được mô tả thêm nữa là ghét nhiều thứ cũng như ghét con người (xem 16:22, Ma-la-chi 2:16; Lê-vi 26:30). Thượng Đế đặc biệt ghét sâu xa các tôn giáo khác, điều này có lẽ giải thích tại sao Thiên Chúa giáo đã luôn luôn là một tôn giáo bất khoan dung như thế. Ngài thường được mô tả đặc biệt thù ghét những ai không thờ phụng Ngài.

“Linh hồn ta thù ghét các lễ tiết và các lễ hội đã định của các ngươi.” (Ê-sai 1:14).

Đức Phật có lòng trắc ẩn đối với những kẻ hung dữ, Ngài tha thứ những ai đã làm điều sai quấy, và tôn trọng các tôn giáo khác. Chúng ta thấy Thượng Đế thì đố kỵ và căm ghét, có lòng thù hận, và chẳng ngạc nhiên khi Kinh Thánh thường đề cập đến sự trả thù của Chúa.

“Coi chừng, Chúa của các ngươi sẽ đến với sự báo thù.” (Ê-sai 35:4).

“Chúa đang báo thù và phẫn nộ, Chúa báo thù các đối phương của Ngài và phẫn nộ với các kẻ thù của Ngài.” (Na-hum 1:2).

“Bởi vì chúng ta biết Ngài là người nói rằng ‘Chính ta phải báo thù, ta phải báo oán’, và thêm nữa ‘Chúa sẽ phán xét dân Chúa’. Đấy là một điều khủng khiếp khi rơi vào tay Chúa.” (Hê-bơ-rơ 10:30-31). (Xem cả ở Rô-ma 1:8, 2:5-6, 12:19).

Sẽ có ích gì khi tôn sùng một vị Chúa Trời tâm hồn đầy vẩn đục, một sự vẩn đục mà chúng ta đang cố gắng vượt qua?

Trái với Thượng Đế, suốt bốn mươi năm sau khi giác ngộ, Đức Phật cố thuyết phục con người từ bỏ tính giận dữ, đố kỵ và bất khoan dung, và suốt đời không một lần nào Ngài không làm theo những gì Ngài đã dạy kẻ khác.

“Ngài làm điều Ngài dạy, và dạy điều Ngài làm, tri hành hợp nhất. Chúng ta không tìm ra một vị thầy nào khác hơn Ngài, người rất nhất quán về điều này dù chúng ta nghiên cứu trong quá khứ hay hiện tại.” (Trường Bộ Kinh, Kinh số 19).

Trong toàn bộ kinh điển Phật giáo, chẳng có một bằng chứng nào nói về Đức Phật biểu hiện tình cảm giận dữ, căm giận, đố kỵ v.v., cho nên vì hoàn hảo, Ngài đã thoát ra khỏi mọi tình cảm tiêu cực.

Thái độ đối với Chiến tranh

Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng có thời điểm cho hận thù và có thời điểm cho chiến tranh (Ê-sai 3:8), và ngày nay, ai cũng biết rằng hai điều xấu xa lớn lao này, hận thù và chiến tranh, thì phụ thuộc vào nhau. Như chúng ta đã thấy ở trên, Thượng Đế rất có khả năng giận dữ, cho nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi thấy Ngài dính líu đến chiến tranh.

“Chúa là một chiến binh.” (Xuất hành 15:3).

“Chúa ở trong ngươi, Chúa là một chiến binh mang lại chiến thắng.” (Xê-pha-ni 3:17).

“Chúa tiến tới như một người phi thường, như một chiến binh, Ngài khích động điên cuồng, Ngài hét lớn, la to, Ngài tỏ ra dũng mãnh chống lại kẻ thù.” (Ê-sai 42:13).

“Khi Ta mài nhọn thanh gươm nung nóng và tay Ta siết chặt nó lúc phán xét, Ta sẽ báo thù đối phương và báo oán những ai thù ghét Ta, Ta sẽ để những mũi tên của Ta say máu trong lúc thanh gươm của Ta ngấu nghiến máu thịt kẻ đã bị giết và xác những tù binh, ngấu nghiến đầu của những kẻ lãnh đạo thù địch.” (Đệ nhị luật 32:41-42).

Từ nhiều thế kỷ qua, tín đồ Thiên Chúa giáo được gợi hứng từ các đoạn văn đó trong Kinh Thánh, đã khuyến khích và thậm chí tuyên dương chiến tranh, đã sử dụng bạo lực để truyền bá tôn giáo của họ. Thậm chí cho đến ngày nay, Thiên Chúa giáo vẫn phảng phất mùi vị quân phiệt rõ rệt. Đội quân Thập tự chinh với phương châm “Máu và Lửa”; các thánh ca hát về “Tiến lên, hỡi các chiến binh Thiên Chúa giáo hãy xông ra sa trường”; “Vinh danh Chúa và hãy đưa đạn đây” v.v. Nội dung Kinh Thánh có hàng lô ví dụ về chuyện Chúa giúp những người mộ đạo chiếm đoạt các thành phố, tàn sát thường dân và đánh bại quân thù (ví dụ Dân số ký 21:1-3, Dân số ký 31:1-12, Đệ nhị luật 2:32-34, Đệ nhị luật 3:3-7, Giô-suê 11:6-11, v.v.).

Về vấn đề tù binh, Chúa bảo:

“Và các ngươi phải hủy diệt tất cả những người nào mà Chúa đã giao cho các ngươi, các ngươi không được xót thương họ.” (Đệ nhị luật 7:16).

“Khi Chúa giao họ cho các ngươi và các ngươi đánh bại được họ, thì các ngươi phải tiêu diệt toàn bộ và không được tỏ ra thương xót.” (Đệ nhị luật 7:2).

Ngay cả tín đồ Thiên Chúa giáo cũng thường bị sốc khi đọc các đoạn này. Còn Phật tử thì cảm thấy rõ ràng những đoạn đó đã xác quyết cho lý do vì sao họ không chấp nhận Thượng Đế và vì sao họ tin vào Đức Phật.

Thái độ đối với chiến tranh của Đức Phật là gì?

Chẳng hề có một ví dụ nào về Đức Phật tán dương chiến tranh, khuyến khích chiến tranh, hay tự gây chiến tranh. Ngược lại, Ngài được mô tả theo chủ trương sống trong hòa bình và hòa hợp. Và được mô tả như sau:

“Ngài là một nhà hòa giải những ai đang xích mích và cổ vũ những ai đang đoàn kết, hoan hỉ yêu thích vui thú trong hòa bình, Ngài là người đề cao hòa bình.” (Trường Bộ Kinh, Kinh số 1).

“Ngài là một gương mẫu về con người hòa bình.”

“Từ bỏ giết chóc, thầy Cù-đàm sống không sát sinh, chẳng có gậy gộc gươm đao, Ngài sống với chăm lo, tình thương, và đồng cảm với người khác.” (Trường Bộ Kinh, Kinh số 1).

Đức Phật không chỉ hài lòng với chuyện tuyên dương hòa bình hay tự làm cho mình an lạc. Ngài còn tích cực đẩy mạnh hòa bình bằng cách nỗ lực ngăn chặn chiến tranh. Khi bà con thân thích của Ngài sắp bước vào cuộc chiến tranh vì tranh chấp dòng nước sông Rohini, Đức Phật đã không đứng về phe nào, không động viên phe nào, không tư vấn chiến thuật cho phe nào, hay không bảo phe nào đừng thương xót kẻ thù như Thượng Đế đã làm. Thay vào đó, Ngài đứng giữa hai phe và nói “Máu hay nước, cái gì quý hơn?” Những người chiến binh bèn trả lời, “Thưa Ngài, máu quý hơn”. Thế rồi Đức Phật bảo “Thế thì đổ máu vì nước có đúng không?” Cả hai phe vội buông vũ khí và hòa bình được vãn hồi. (Pháp Cú Chuyện Luận, sách số 15, 1).

Đức Phật gạt hận thù sang một bên và tâm Ngài chứa đầy yêu thương và trắc ẩn, vì thế, đối với Ngài, tán đồng chiến tranh là điều không thể chấp nhận được.

Ý tưởng về Công lý

Công lý là phẩm chất của công bằng, và con người phải hành xử một cách công bằng và phù hợp với điều đúng. Tuy nhiên, ý tưởng về công bằng và đúng thì tùy thời và tùy người. Tín đồ Thiên Chúa giáo khẳng định rằng Thượng Đế của họ thì công bằng, vậy chúng ta thử xem các hành vi của Thượng Đế để thông qua đó mà biết ý tưởng về công lý của Ngài ra sao.

Thượng Đế bảo chúng ta rằng ai không vâng lời Ngài sẽ bị phạt đi phạt lại “bảy lần” (Lê-vi 26:18), có nghĩa là một tội sẽ bị phạt bảy lần. Dĩ nhiên Thượng Đế xem cách phạt này là công bằng và đúng. Ngài lại còn bảo chúng ta rằng Ngài sẽ trừng phạt con, cháu, và cả chắt của kẻ phạm tội.

“Ta là vị Chúa đố kỵ, ta sẽ trừng phạt những đứa trẻ vì tội của cha chúng, phạt cho đến thế hệ thứ ba thứ tư những ai dám khinh ghét ta.” (Đệ nhị luật 5:9).

Điều nói trên được biết như một cách trừng phạt tập thể: trừng phạt toàn gia tộc hay toàn nhóm chỉ vì một thành viên trong nhóm đó phạm tội. Ngày nay, trừng phạt tập thể đã bị lên án là không công bằng và không đúng đắn, nhưng hình như Thượng Đế thì vẫn xem biện pháp đó là hoàn toàn đúng.

Thượng Đế bảo chúng ta là ngay cả những vi phạm nhỏ cũng phải phạt tử hình. Ví dụ, những ai làm việc ngày Chủ nhật đều phải bị ném đá đến chết. Có lần, có một người đàn ông bị bắt gặp đang nhặt củi ngày Chủ nhật, Thượng Đế bèn phán cùng Moses và những người đã bắt được người đàn ông đó rằng:

“Người đàn ông đó phải chết. Toàn bộ các ngươi phải ném đá hắn bên ngoài lán trại.” Thế là tập thể đó đưa người đàn ông ra ngoài lán trại và ném đá y đến chết như lời Chúa đã phán cho Moses. (Dân số ký 15:32-36).

Quan niệm về công lý của Thượng Đế hình như không chấp nhận ý niệm rằng hình phạt phải tương xứng với tội phạm. Chúng ta đã nghe rằng tất cả những ai không kính yêu Thượng Đế thì sẽ bị trừng phạt trong hỏa ngục đời đời. Tuy nhiên, có nhiều người tốt bụng, trung thực, độ lượng, nhưng chỉ vì không tin Thượng Đế nên tất cả đều sẽ bị sa vào địa ngục. Như vậy có công bằng và đúng không? Có vẻ như Thượng Đế nghĩ rằng như thế là công bằng và đúng !.

Thế Đức Phật có công bằng không? Đức Phật đã đạt được sự tự do giác ngộ và Ngài dạy những kẻ khác làm thế nào để có thể cũng được giác ngộ như Ngài. Không như Thượng Đế, Đức Phật chủ yếu không phải là một người làm luật, không phải là một quan tòa, hay không phải là người thi hành hình phạt: Đức Phật là một vị Thầy. Trong mọi đối xử của Ngài với người khác, Ngài đều công bằng, dịu dàng và nhân từ, và Ngài thúc giục những đệ tử hành động theo cách thức đó. Nếu ai đó phạm lỗi lầm, Ngài dạy ta không nên vội vã trừng phạt người đó.

“Khi các con đang sống hòa thuận với nhau, một vị sư đồng môn có thể phạm giới. Nhưng các con không được vội vã quy tội người này, trước hết, vấn đề đó phải được xem xét thật cẩn trọng đã.” (Trung Bộ Kinh, Kinh số 103).

Thêm nữa, khi khảo xét một ai, Phật dạy ta không được để cho xu hướng hay thành kiến ảnh hưởng, mà phải nhìn trường hợp đó từ hai phía.

“Đừng phán xét vội vã, con người chỉ trở thành sáng suốt khi họ nghiên cứu tỉ mỉ cả hai phía. Người mà không phán quyết tùy tiện kẻ khác, nhưng phán quyết không thiên vị và phù hợp với các sự kiện, người đó là kẻ bảo vệ pháp luật và được đúng đắn gọi là công bằng.” (Pháp Cú 256-257).

Đối với hình phạt, Đức Phật cho rằng ném đá ai đến chết hay bất cứ hình thức xử phạt tử hình nào cũng đều tàn nhẫn cả. Bản thân Ngài luôn luôn sẵn sàng tha thứ. Có lần, có một người tên là Nigrodha đã lăng nhục Đức Phật, và sau đó nhận biết lỗi lầm của mình nên thú tội với Đức Phật. Đầy tình thương và khoan dung, Đức Phật nói với người này rằng:

Xem thêm: Kim cương trí tuệ: Chìa khóa giác ngộ và niềm tin vững chắc

“Này Nigrodha, lỗi lầm đã thắng con vì chính sự ngu dốt, mù quáng và ác tính đã làm cho con nói xấu ta như thế. Nhưng vì con đã nhận thức được lỗi lầm của mình và đã sửa đổi lại cho đúng, ta chấp nhận lời thú tội của con.” (Trường Bộ Kinh, Kinh số 25).

Đức Phật tha thứ tất cả dù họ chấp nhận việc truyền dạy của Ngài hay không, và thậm chí nếu Nigrodha có không tạ tội chăng nữa thì Đức Phật cũng sẽ không đe dọa trừng phạt Nigrodha. Đối với Đức Phật, phản ứng đúng đắn với tội lỗi không phải là đe dọa trừng phạt mà là giáo huấn và tha thứ. Như Ngài đã nói:

“Ta có thể biết được một người có khôn ngoan hay không là nhờ ba điều. Ba điều gì? Thứ nhất, họ có thấy được đúng lỗi lầm của họ không. Thứ nhì, khi họ đã thấy lỗi lầm, họ có sửa chữa không, và thứ ba, khi một kẻ khác đến thú tội, họ có làm điều đáng làm là tha thứ cho kẻ phạm tội không.” (Tăng Chi Bộ Kinh, Sách Ba Pháp, Kinh số 10).

Thái độ đối với Bệnh tật

Bệnh tật, ốm đau, dịch bệnh đã là thảm họa cho loài người từ nhiều thế kỷ nay, gây ra đau đớn và thống khổ không kể xiết. Nhưng Kinh Thánh lại trình bày cho chúng ta thấy rằng Thượng Đế luôn luôn xem bệnh tật như một cách thức hữu hiệu để bày tỏ sự giận dữ của Chúa, và dùng chúng để thực hiện sự báo thù của Ngài. Khi vua Ai Cập từ chối thả người Do Thái, Chúa đã gây ra ung nhọt mưng mủ khởi phát nơi “tất cả người Ai Cập” (Xuất hành 9:8-12). Thượng Đế đã dùng tai ương này để trừng phạt đàn ông, đàn bà, con nít và trẻ sơ sinh vì tội lỗi của một người. Sau này, Thượng Đế còn khiến cho mọi bé trai đầu lòng đều bị chết. Ngài nói:

“Mọi đứa con trai đầu lòng ở Ai Cập đều phải chết, từ con trai đầu lòng của vua Ai Cập đang trị vì trên ngai vàng, cho đến con trai đầu lòng của người đàn bà nô lệ ngồi ở cối xay. Khắp Ai Cập sẽ vang rền tiếng kêu than – tệ hại hơn như chưa từng bao giờ đã có và sẽ có.” (Xuất hành 11:5-6).

Đấy là một thí dụ điển hình khác về ý tưởng công bằng và tình thương của Chúa. Hàng ngàn đàn ông, con trai và trẻ sơ sinh vô tội đã bị Thượng Đế giết vì vua Ai Cập không vâng lời. Ở nhiều nơi trong Kinh Thánh, Thượng Đế tuyên hứa rằng sẽ gieo rắc bệnh tật khủng khiếp xuống những ai không theo các điều răn của Ngài.

“Chúa sẽ gây bệnh dịch cho đến khi Ngài tiêu diệt được các ngươi… Chúa sẽ giáng xuống các ngươi bệnh tật hủy hoại, với sốt và viêm nhọt…” (Đệ nhị luật 28:21-22).

“Chúa sẽ giáng xuống các ngươi loại ung nhọt của Ai Cập và ung bướu, sưng tấy ngứa ngáy, mà các ngươi chẳng thể chữa khỏi.” (Đệ nhị luật 28:27).

“Chúa sẽ mang đến cho các ngươi và hậu duệ những dịch bệnh đáng sợ, tai ương khắc nghiệt và dai dẳng, và sự đau ốm nặng nề kéo dài. Ngài cũng sẽ giáng xuống các ngươi những tai ương của Ai Cập làm các ngươi phải sợ hãi, và chúng sẽ bám dính vào thân thể các ngươi. Chúa cũng sẽ đem đến cho các ngươi đủ thứ ốm đau và tai họa.” (Đệ nhị luật 28:59-61).

Đôi lúc, thậm chí Thượng Đế còn gieo rắc bệnh tật ghê gớm lên con người chỉ để thử thách lòng tin của họ. Để thử thách ông Gióp, Thượng Đế khiến tất cả con cái ông ta đều bị giết hết (Gióp 1:18-19) và chính ông Gióp cũng mắc phải một chứng bệnh ghê gớm (Gióp 2:6-8). Đau khổ quá sức chịu đựng, ông Gióp đã ước mong đừng sinh ra làm gì (Gióp 3:3-26).

Thậm chí Thượng Đế còn tạo ra những người mù để họ kéo lê cuộc sống ăn xin và mò mẫm trong bóng tối chỉ để cho Giê-su có thể chữa lành họ một cách kỳ diệu, hầu chứng tỏ quyền năng của Thượng Đế (Giăng 9:1-4). Rõ ràng rằng Thượng Đế chỉ thấy bệnh tật, đau ốm như là những phương tiện hữu hiệu để trừng phạt con người, và để chứng tỏ quyền năng bao trùm của Ngài.

Bây giờ chúng ta hãy nhìn *thái độ của Đức Phật đối với bệnh tật*.

Đức Phật thấy bệnh tật và đau ốm là một phần của đau khổ nói chung, mà vì vậy Ngài đã đến để dạy cách giải thoát chúng sinh. Ngài được gọi là vị “Thầy thuốc của tình thương”. Chẳng có một ví dụ nào mà trong đó Đức Phật gây ra bệnh tật cho con người để trừng phạt họ hay vì giận dữ họ. Đức Phật hiểu đúng đắn rằng chừng nào chúng ta còn thể xác thì ngày đó chúng ta còn chịu đựng bệnh tật. Ngài thúc dục mọi người đạt đến cõi Niết bàn và giải thoát vĩnh viễn khỏi đau khổ. Trong lúc Ngài cố cắt bỏ vấn đề tận gốc rễ, Ngài cũng thực hành việc xoa dịu nỗi đau và phục hồi sức khoẻ cho họ. Thay vì gieo rắc bệnh tật lên con người như Thượng Đế đã làm, Ngài dạy các lời khuyên thiết thực để làm sao giúp đỡ và an ủi nỗi đau.

Có năm phẩm chất để một người xứng đáng chăm sóc bệnh nhân. Năm phẩm chất gì?

(1) Người có thể chuẩn bị thuốc men đúng;

(2) người biết cái gì tốt cho bệnh nhân và cung cấp cho họ, và cái gì không tốt để không cung cấp;

(3) người chăm sóc kẻ ốm vì tình thương chứ không phải vì mong chờ lợi nhuận;

(4) người không ngại ngùng với phân, nước tiểu, chất nôn mửa và nước dãi;

và (5) người đôi lúc có thể chỉ dẫn, truyền cảm hứng, làm vui và thỏa mãn bệnh nhân bằng cách nói Pháp. (Tăng Chi Bộ Kinh, Sách Năm Pháp, Kinh số 124).

Ngài không chỉ dạy điều này mà còn thực hành theo những gì Ngài truyền dạy. Có một lần Ngài gặp một thầy tăng bị ốm, nhếch nhác và nằm trên đống phân của mình, Ngài bèn tắm rửa cho ông ta, an ủi ông ta và gọi các thầy tăng khác đến để Ngài nói với họ rằng, “Nếu các con đã có thể chăm sóc ta, thì cũng hãy chăm sóc những ai ốm đau.” (Tỳ Ni Đa Tạng, Đại Phẩm, 8).

Khi Thượng Đế tức giận, Ngài gieo rắc bệnh tật lên con người và nhìn họ đau khổ. Khi Đức Phật thấy con người đau khổ vì bệnh tật, từ lòng thương, Ngài đã làm tất cả những gì có thể được để phục hồi sức khoẻ cho họ.

Tạo ra cái Xấu

Tuy Thượng Đế tạo ra mọi điều tốt, nhưng vì Ngài tạo ra mọi thứ, nên chính Ngài cũng tạo ra mọi điều xấu. Đích thân Thượng Đế đã bảo rằng:

“Ta là Chúa tể và ngoài ta ra không có vị Chúa tể nào khác. Ta tạo ra ánh sáng và bóng tối, ta làm ra cái tốt và cái xấu.” (Ê-sai 45:7-8). (Xem cả ở Rô-ma 11:32).

Khi chúng ta nghĩ về thiên nhiên và chúng ta nhớ rằng Thượng Đế được cho là đã sáng tạo ra mọi thứ trên đời này thì chúng ta phải hiểu cho đúng ý nghĩa của nó. Vi trùng phong cùi gây ra thống khổ không kể xiết là do Thượng Đế tạo ra. Vi trùng lao giết hại và làm biến dạng hàng triệu người mỗi năm cũng do Thượng Đế tạo ra.. Chúa tạo ra vi khuẩn dịch bệnh, chấy rận và chuột bọ, những con này đã cùng nhau gây ra dịch hạch, và qua hàng thế kỷ có lẽ đã giết hại hàng trăm triệu người. Năm 1665, chỉ riêng ở Luân Đôn đã có 68.000 người chết vì dịch. Không nghi ngờ gì nữa, đấy là điều Thượng Đế muốn nói khi Ngài bảo Ngài tạo ra bóng tối và xấu xa.

Nhưng Thượng Đế cũng tạo ra các dạng xấu xa khác nữa. Ngài nói:

“Khi tai họa ụp xuống một thành phố, đó không phải là do Chúa gây ra ư?” (A-mốt 3:4).

Chẳng còn gì phải nghi ngờ nữa rằng “tai họa” mà Chúa đề cập đến chính là động đất, hỏa hoạn, xung đột xã hội, chiến tranh và các hình thức xấu xa khác thỉnh thoảng lại ụp xuống đầu các đô thị hay thành phố của loài người. Chúng ta đọc được cả ở trong Kinh Thánh rằng thậm chí ma quỷ cũng đến từ Thượng Đế. Trong 1 Sa-mu-ên, 16:14-16, chúng ta được kể chuyện Chúa Trời đã cho ma quỷ đến hành hạ ông Sau-lơ.

Đức Phật có tạo ra sự xấu không? Vì Ngài không phải là một vị Chúa sáng tạo, ngài không thể chịu trách nhiệm về “bóng tối và xấu xa” nào cả. Cái duy nhất Ngài “tạo” ra là Pháp, mà Ngài đã khám phá và công bố cho toàn thế giới. Và Pháp của Ngài chỉ mang lại ánh sáng, điều tốt lành và sự nhân hậu đến bất kỳ chổ nào mà Pháp được truyền bá đến.

Tìm hiểu thêm: Lễ Vu Lan 2019: Khám phá ngày, thứ và ý nghĩa tri ân sâu sắc

Sự Hiến tế

Trong thời Cựu Ước, khi người ta vi phạm các điều răn của Thượng Đế, Ngài sẽ nổi giận và kẻ phạm tội chỉ có một cách để chuộc tội và xoa dịu cơn giận của Thượng Đế là hiến tế một súc vật còn sống. Chính Thượng Đế đã hướng dẫn tỉ mỉ cho chúng ta cách giết các con vật như thế nào.

“Nếu là loài chim bị nướng để hiến dâng cho Chúa, thì chúng sẽ phải là bồ câu hay bồ câu non. Thầy tế sẽ mang bồ câu đến trước bàn thờ, ngắt đầu và thiêu nó trước bàn thờ, máu của nó sẽ được bóp chảy ra một bên bàn thờ. Thầy tế thu gom tất cả và ném về phía đông bàn thờ, là nơi đổ tro. Thầy tế xé cánh chim nhưng đừng xé hết, và thiêu nó trên đống lửa củi bên cạnh bàn thờ.” (Lê-vi 1:14-17).

Thượng Đế còn bảo cho chúng ta biết rằng khi thịt, mỡ, da và xương của con vật bị hiến tế được ném vào lửa và cháy nóng lên, Ngài thích mùi thơm đó lắm (Lê-vi 1:9, 1:17). Nhưng không phải tất cả vật hiến tế nào Ngài yêu cầu cũng là súc vật, đôi lúc Ngài còn đòi hiến tế cả con người. Có lần Chúa bảo Áp-ra-ham rằng:

“Hãy đem con trai Y-sác của ngươi, đứa con trai độc nhất mà ngươi yêu thương, đến vùng Mô-ri-a. Ngươi sẽ thiêu nó để hiến dâng cho Ta trên một ngọn núi mà Ta sẽ cho ngươi biết.” (Sáng thế ký 22:2).

Áp-ra-ham đem con trai của mình đến nơi, Thượng Đế bèn chỉ dẫn cách lập một bàn thờ, đặt đứa con trai lên đó rồi rút dao ra. Ngay khi ông ta vừa tính cắt cổ đứa con trai mình, thì một thiên thần đã ngăn Áp-ra-ham lại (Sáng thế ký 22:12).

Áp-ra-ham được xem là người ngoan đạo vì ông ta mù quáng, chẳng thắc mắc, và tự nguyện làm bất cứ điều gì Thượng Đế bảo, ngay cả việc tàn sát đứa con trai của mình để hiến tế cho Chúa.

Các thế kỷ về sau, vì tội lỗi con người càng tệ hại hơn nên nếu chỉ hiến tế súc vật mà thôi đã không làm cho Thượng Đế nguôi giận. Chúa đã đòi phải hiến tế một nạn nhân lớn lao hơn, giá trị hơn – đó là Giê-su, con ruột của Ngài. Một lần nữa, máu của một nạn nhân lại đổ ra để chuộc tội lớn nhất nhằm hòa giải giữa Thượng Đế và những kẻ có tội. Do đó, những tín đồ Thiên Chúa giáo hiện đại thường nói rằng “tội lỗi của họ đã được rửa sạch bằng máu của Giê-su”.

Đức Phật đã nghĩ gì việc hiến tế súc vật hay con người? Vào thời Đức Phật, những vị thần Ấn Độ giáo cũng được hiến cúng súc vật như Thượng Đế của người Thiên Chúa giáo vậy, và vì thế Đức Phật cũng đã quan tâm đến lề thói này. Tuy nhiên, Ngài xem việc hiến tế là thông tục, tàn nhẫn và vô ích.

“Việc hiến tế người hay ngựa, Nghi lễ Ném Heo, tục Dâng Rượu lễ, Nghi lễ Chiến thắng, lễ Rút Then, tất cả các nghi lễ đó chẳng đáng một xu nhỏ so với con tim tràn đầy yêu thương, cũng như các vì sao bị lu mờ trước ánh sáng rực rỡ của mặt trăng.” (Tăng Chi Bộ Kinh, Sách Tám Pháp, Kinh số 1).

Tín đồ Thiên Chúa giáo tin rằng máu hiến dâng của Giê-su sẽ rửa sạch tội lỗi cho họ cũng như tín đồ Ấn Độ giáo thời Đức Phật tin rằng tắm trong các dòng sông linh thiêng thì có thể rửa sạch tội lỗi. Đức Phật đã phê phán ý tưởng đó của Ấn Độ giáo như Ngài cũng sẽ phê phán ý tưởng của Thiên Chúa giáo nếu Ngài biết trước điều đó. Tin rằng máu, nước hay bất cứ ngoại vật nào có thể thanh tẩy con tim, một vật nội tâm, thì thật là điên rồ.

“Trong dòng sông Bakura ở Adhikka, tại Gaya, trong dòng sông Sarassati, Payaga hay Bahumati, người ngu xuẩn có thể tắm gội liên tục nhưng không thể nào họ rửa sạch được những hành vi xấu xa của mình. Sông Sundrika , Payaga hay Bahumati có thể làm được gì? Chúng không thể tẩy rửa một con người giận dữ, tội lỗi vì đã chủ định làm những việc xấu xa. Vì giữ cho con tim trong trắng hằng ngày là may mắn, và giữ cho con tim trong trắng hằng ngày là linh thiêng.” (Trung Bộ Kinh, Kinh số 7).

Như vậy, tắm mình trong máu lễ hay trong các dòng sông linh thiêng thì không bằng tự mình thanh tẩy bằng hành động trong sáng. Cách hiến tế duy nhất mà Đức Phật đòi hỏi chúng ta thực hiện là từ bỏ lòng vị kỷ và thay bằng tình thương, trí tuệ và tâm từ bi.

Tình thương

Chúng ta thường nghe nói rằng Thượng Đế là tình yêu và Kinh Thánh đôi lúc cũng đề cập đến tình yêu như là một thuộc tính của Thượng Đế. Tuy nhiên, có nhiều loại tình yêu. Một người có thể yêu thương con cái của mình nhưng lại ghét con cái láng giềng. Kẻ khác có thể yêu tổ quốc mình mãnh liệt nhưng thù ghét kịch liệt một nước khác. Dù chúng ta có yêu thương ai đó một cách sâu đậm, nhưng do hoàn cảnh thay đổi, chúng ta vẫn có thể trở thành vô tình hay thậm chí ghét bỏ họ. Đấy là loại tình yêu hạng thấp, ít phát triển mà người bình thường cảm nghĩ – nhưng có một loại tình yêu cao cả hơn, phổ quát hơn tình yêu ở trên. Loại tình yêu cao cả hơn này được gọi là metta trong Phật giáo và agape trong Thiên Chúa giáo và được mô tả kỹ trong kinh Phật và cả trong Kinh Thánh nữa. Trong Corinthians chúng ta đọc:

“Tình thương là kiên nhẫn, tình thương là nhân từ, không ham muốn, không khoe khoang, không kiêu hãnh, không tư lợi, không giận dữ, không ghi giữ lại các điều sai quấy.” (1 Cô-rinh-tô 13:4-5).

Nhưng Thượng Đế có biểu lộ tình thương cao thượng này không? Chúng ta hãy thử xét xem. Chúng ta đã nghe nói tình thương là kiên nhẫn. Kiên nhẫn được định nghĩa như khả năng chờ đợi một cách điềm tĩnh trong một thời gian dài, kiềm chế khi nóng giận, đặc biệt là kiểm soát được sự ngu xuẩn và chậm chạp. Chúng ta đã thấy rằng Thượng Đế nổi giận mỗi ngày (Thi thiên 7:11) và nổi giận rất nhanh (Thi thiên 2:11). Như vậy rõ ràng là Thượng Đế ít kiên nhẫn.

Chúng ta nghe nói rằng tình thương là nhân từ. Thượng Đế có nhân từ không? Hãy đọc Đệ nhị luật (28:15-68) trong đó chính Thượng Đế đã mô tả lời của Ngài độc ác như thế nào. Đoạn văn gây sốc này chứng tỏ Thượng Đế quá dữ tợn tàn ác. Rõ ràng Thượng Đế không phải lúc nào cũng nhân từ. Chúng ta nghe nói tình thương là không ham muốn. Dĩ nhiên, ham muốn thì dẫn đến ganh tỵ, mà Thượng Đế thì luôn luôn tự nhận mình là ganh tỵ dữ dội. Ngài bảo:

“Vì Chúa của các ngươi là một ngọn lửa tàn phá, một Chúa ghen tị.” (Đệ nhị luật 4:24).

Chúng ta nghe nói tình thương thì không khoe khoang kiêu căng. Thượng Đế có thế không? Chắc chắn rằng những điều viết trong Kinh Thánh đã chẳng cho ta ấn tượng rằng Thượng Đế thì khiêm nhường và kín đáo chút nào. Chúa đã bỏ nhiều giờ để nói với Gióp rằng Ngài hùng vĩ dường nào (Gióp 40-41) và, để kết thúc, Ngài tự khoác lác rằng:

“Ngài khinh thường những kẻ kiêu kỳ, Ngài là vua đứng trên tất cả những kẻ hãnh tiến.” (Gióp 41:34).

Kế tiếp, chúng ta cũng nghe nói rằng tình thương làm cho ta khó nóng giận. Tuy nhiên, chúng ta lại đã từng thấy Thượng Đế rất dễ nổi giận.

“Hãy phụng thờ Chúa với sự kính yêu và run sợ, hãy hôn chân Ngài nếu không Ngài sẽ nổi giận và các ngươi sẽ vì thế mà bị tiêu diệt, vì sự phẫn nộ của Ngài thì rất dễ bị khích động.” (Thi thiên 2:11).

Cuối cùng, chúng ta nghe nói rằng tình thương làm cho ta không để tâm đến những sai phạm cũ, tình thương là tha thứ và quên đi. Chúa có để tâm đến những sai lầm cũ không?

Thượng Đế bảo chúng ta rằng Ngài sẽ trừng phạt con, cháu và cả chắt của ai lầm lỗi (Đệ nhị luật 5:9). Để làm được điều này, chắc là Ngài phải giữ lại một hồ sơ các tội cũ và ghi nhớ chúng rất lâu trong đầu. Giê-su nói với chúng ta rằng Thượng Đế sẽ không bao giờ tha thứ cho những ai xúc phạm đến Chúa Thánh Thần (Lu-ca 12:10).

Chúng ta nghe nói Thượng Đế khắc tên những kẻ tội đồ và những ai không tin Chúa lên trên một cái chuông vĩnh cửu. Nói khác đi, Ngài chẳng bao giờ tha thứ cho họ. Vắn tắt lại, Ngài vĩnh viễn giữ một hồ sơ các tội cũ. Thật rõ ràng Thượng Đế đã không biểu lộ một loài tình thương cao cả nhất.

Thế Đức Phật thì sao? Ngài có biểu lộ một tình thương cao cả không?

Đặc tính thứ nhất của loại tình thương cao cả này là nhẫn nhục, và trong kinh điển Phật giáo chẳng ghi lại một tình tiết nào chứng tỏ rằng Đức Phật thì không nhẫn nhục cả. Ngay cả khi bị phỉ báng, Ngài vẫn giữ được điềm tĩnh. Mọi hành vi của Ngài đều biểu lộ một sự điềm tĩnh, một sự nhẫn nhục vững chãi. Khi Asurinda nguyền rủa và phỉ báng Đức Phật, Ngài bình tĩnh trả lời:

“Người chửi rủa kẻ lăng mạ mình, cả hai đều xấu. Tự chế không trả đũa lại mới là thắng được một cuộc chiến cam go. Nếu ai biết người khác giận mình mà chính mình không nổi giận lên, thì như thế mới làm điều tốt cho nhau. Một người phải là kẻ chữa bệnh vừa cho chính mình vừa cho người khác.” (Tương Ưng Bộ Kinh, Chương 7, Kinh số 3).

Vì Ngài luôn nhẫn nhục, nên Ngài không còn giận dữ nữa. Ngay cả khi người em họ Đề-bà-đạt-đa cố giết Ngài, thì Đức Phật cũng chỉ tỏ ra khoan dung và độ lượng.

Chúng ta cũng nghe nói tình thương là nhân từ. Đức Phật có nhân từ không? Một lần nữa, chẳng có một dấu vết cỏn con nào cho thấy Đức Phật thì có tâm gì khác ngoài tâm từ bi và hỉ xả. Mà Ngài hành xử như thế không phải chỉ đối với ai chấp nhận lời dạy của Ngài mà còn cả với những người theo tín ngưỡng khác, không chỉ với người tốt mà còn cả với người xấu, không chỉ với con người mà còn cả với thú vật nữa. Ngài bảo rằng:

“Đừng làm điều gì không tử tế khiến cho hiền nhân lên án và ta phải tự nhủ rằng ‘Sao cho mọi sinh vật đều an ổn và hạnh phúc. Dù sinh vật đó là gì, đang di động hay đứng yên, cao trung bình hay thấp, lớn hay nhỏ, thấy hay không thấy, sống ở xa hay gần, đã ra đời hay chưa sinh ra, mong rằng tất cả đều có hạnh phúc’. Không được hại kẻ khác hay khinh miệt kẻ khác dù bất cứ lý do gì. Đừng mong cho kẻ khác đau đớn tại vì mình giận dữ hoặc ghen tỵ. Giống như một người mẹ bảo vệ đứa con độc nhất của mình dù nguy hiểm ngay đến cả bản thân mình, ngay cả trong trường hợp như thế, hãy phát huy tình thương bao la hướng đến mọi chúng sinh trên thế giới.” (Kinh Tập, Câu thứ 145-149).

Không những Đức Phật dạy điều này mà Ngài còn thực hành tất cả mọi điều Ngài đã dạy. Thượng Đế bảo chúng ta rằng Ngài đố kỵ, Ngài muốn nói rằng Ngài ganh tỵ với các vị Thần linh và các tôn giáo khác. Ngài muốn mọi người chỉ phụng thờ và tôn kính một mình Ngài thôi. Vì quá đố kỵ như thế nên Ngài đã bảo những con chiên sùng đạo phải giết ngay cả con cái của họ nếu chúng tôn thờ các thần linh khác (Đệ nhị luật 13:6) và cũng vì quá đố kỵ như thế nên Thượng Đế ghét những kẻ theo tôn giáo khác.

“Ta ghét những ai dính dáng đến các thần tượng không ra gì.” (Thi thiên 31:6).

“Ta hiểu biết giới luật của các ngươi, vì thế ta ghét mọi tà đạo.” (Thi thiên 119:104).

Đức Phật có ganh tỵ với các tín ngưỡng khác không?

Ngài quả thực không. Có một người tên là Upali theo đạo Jain được Đức Phật thuyết pháp, và sau đó quyết định muốn trở thành Phật tử. Đức Phật không hân hoan mà cũng không bận tâm “cải đạo” Upali. Ngược lại, Ngài đã khuyên răn người đó hãy suy nghĩ thận trọng trước khi quyết định một việc quan trọng như vậy:

“Này Upali, hãy nghiên cứu cho thật kỹ lưỡng trước đã. Nghiên cứu kỹ lưỡng thì tốt cho một người nổi tiếng như ngươi.” (Trung Bộ Kinh, Kinh số 56).

Thế rồi Đức Phật khuyên Upali cứ giữ việc cúng tế đối với đạo Jain. Ngài khuyên như thế vì Ngài có thể thấy được điều tốt trong mọi tôn giáo khác và bởi vì Ngài không đố kỵ và ganh ghét.

Vacchogatta thưa với Phật rằng “Tôi nghe nói rằng Ngài dạy chỉ bố thí cho một mình Ngài, không cho các vị thầy khác, không cho các môn đệ của Ngài, không cho các môn đệ của tôn giáo khác.” Ngài bèn đáp, “Những ai nói điều này là không kể lại đúng lời của ta, họ diễn sai ý của ta và nói dối”. Thực ra, bất cứ ai cản ngăn người khác bố thí là đã ngăn cản ba cách. Họ ngăn cản người bố thí làm việc thiện, họ ngăn cản người nhận không được giúp đỡ, và họ tự ngăn cản mình qua chính sự bần tiện của mình.” (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương số 3, Kinh số 57).

Thậm chí cho đến nay, nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo, đặc biệt những người theo khuynh hướng chính thống và rao giảng phúc âm, không muốn dính líu gì đến người phi-Thiên Chúa giáo và chắc chắn là không bố thí cho người phi-Thiên Chúa giáo.

Đức Phật không khoe khoang và kiêu căng, Ngài không khiếm nhã hay tự tư tự lợi, Ngài cũng không dễ nổi giận và không giữ lại hồ sơ những điều sai quấy đã làm với Ngài. Từ ngày Ngài giác ngộ, mọi ý nghĩ, lời nói và việc làm của Ngài là một biểu hiện từ bi hỉ xả. Như một trong những người cùng thời với Ngài đã nói:

“Tôi từng nghe nói như thế này, “Tôn trọng tình thương là thực sự cao cả”, và Ngài là bằng chứng của điều này bởi vì chúng ta có thể thấy Ngài tôn trọng tình thương.” (Trung Bộ Kinh, Kinh số 55).

Các đoạn trong Kinh Thánh mà chúng ta vừa xem thì thật là kinh dị nhưng những người Thiên Chúa giáo sẽ phản bác bằng cách nói rằng “Sách Cựu Ước không trình bày Chúa như Ngài vốn thật như thế mà gần như chỉ phản ảnh hiểu biết của con người về Chúa vào thời đó”. Thật buồn cười khi phải thảo luận thần học với tín đồ Thiên Chúa giáo. Khi thích hợp thì họ sẽ trích dẫn Cựu Ước như là lời nói bất diệt của Chúa, còn khi không thích hợp thì họ sẽ rời khỏi vị trí này và bảo rằng Cựu Ước chỉ phản ảnh nỗ lực của con người để hiểu về Chúa. Nhưng người Thiên Chúa giáo đã từng khẳng định rằng Kinh Thánh là do Chúa thiên khải không thể sai lầm, thì điều đó phải có nghĩa là phần Cựu Ước cũng phải đúng như phần Tân Ước, và phải là do cùng một Chúa phán ra trong cả hai phần chứ.

Trích cuốn sách “Một phê bình Thiên Chúa giáo từ góc độ Phật giáo” (Trí Tánh Đỗ Hữu Tài dịch);

Nguyên gốc: “Beyond Belief – A Buddhist Critique of Fundamentalist Christianity” của A.L. de Silva.

Ban biên tập Cổng thông tin Phật giáo Việt Nam đặt lại tiêu đề, tiêu đề bản dịch của chương này là “Chúa Trời và Đức Phật – Ai ‘tối cao hơn ai?’.

Hy vọng bài viết đã giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về sự khác biệt giữa Chúa Trời và Đức Phật. Để tiếp tục tìm hiểu về con đường giải thoát và trí tuệ giác ngộ, hãy khám phá thêm các nội dung khác trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang