Bí ẩn về nguồn gốc và sự du nhập của chuông trong các thiền viện Trung Hoa vẫn còn là một dấu hỏi lớn cho hậu thế, dù nhiều ghi chép lịch sử đã hé mở về sự hiện diện của chúng từ thời xa xưa. Những dấu vết cổ xưa cho thấy chuông đã vang vọng khắp nơi từ thời nhà Chu, và sự kết hợp giữa chuông, trống với đời sống tâm linh Phật giáo dường như đã có từ rất lâu, mang những ý nghĩa sâu sắc mà chúng ta sẽ cùng khám phá tại Chia sẻ Đạo Phật.
Nguồn gốc chính xác của việc sử dụng chuông trong các tự viện Phật giáo Trung Hoa vẫn còn là một ẩn số, dù nhiều tài liệu khác nhau đã đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, các ghi chép lịch sử cho thấy chuông đã xuất hiện tại Trung Hoa từ thời nhà Chu (557 TCN – 221 TCN). Hiện tại, chưa có tài liệu cụ thể nào ghi lại thời điểm và người khởi xướng việc đưa chuông và trống vào sử dụng trong các tự viện Phật giáo Trung Hoa. Lịch sử của chuông và trống Bát Nhã cũng rất hiếm hoi. Dựa trên một số tài liệu ít ỏi, chúng ta có thể tạm truy nguyên nguồn gốc của chúng.
Cuốn Quảng Hoằng Minh Tập (số 2103) trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh ghi nhận rằng vào thời Lục Triều (420 – 479), nhiều lầu chuông đã tồn tại. Đặc biệt, vào năm Thiên Hòa thứ 5 (566) đời Bắc Châu, bài Nhị Giáo Chung Minh đã được khắc trên ba đại hồng chung lớn nhất thời bấy giờ. Hai trong số ba quả chuông này được đúc vào các năm 570 và 665.
Tục Cao Tăng Truyện ghi lại sự kiện vào năm thứ 5 đời Tùy Đại Nghiệp (609), ngài Trí Hưng được giao nhiệm vụ quản lý chuông tại chùa Thiền Định ở kinh đô Trường An. Trong giai đoạn này và cả sau đó, nhà Bắc Châu tiếp tục đúc hồng chung để trang bị cho các tự viện.

Ảnh minh họa.
Theo truyền thuyết, hồng chung được khởi xướng bởi Hòa thượng Chí Công và được vua Lương Võ Đế (thế kỷ VI) thực hiện nhằm cầu nguyện cho các linh hồn đang chịu khổ trong cõi địa ngục, còn gọi là chốn U Minh.
Bộ kinh Kim Cang Chí cũng ghi lại một tích truyện: Vua Hiếu Cao Hoàng đế đời nhà Đường, do nghe lời gièm pha của Tống Tề Khưu mà giết oan một vị trung thần tên là Hòa Châu. Sau khi qua đời, vua bị đọa vào địa ngục. Một người bị chết bất đắc kỳ tử, thần hồn lạc vào địa ngục, đã chứng kiến cảnh vua Hiếu Cao bị gông cùm, đánh đập khổ sở. Vua Hiếu Cao đã nhờ người này nhắn lại hậu chúa ở dương thế đúc chuông cúng dường và làm các việc từ thiện để siêu độ cho mình. Sau khi trở về, người đó đã đến gặp hậu chúa để chuyển lời. Nghe vậy, hậu chúa đã đến chùa Thanh Lương phát nguyện đúc một quả chuông để cúng dường và cầu siêu cho vua Hiếu Cao.
Trong Đường Thi có một bài thơ nổi tiếng của Trương Kế (thời Thịnh Đường), miêu tả cảnh đêm trên thuyền nghe tiếng chuông chùa Hàn San. Bài thơ này, liên quan đến chuông, chùa và thời gian, đã gây ra nhiều tranh luận và có nhiều bản dịch khác nhau. Dưới đây là một số bản dịch tiêu biểu:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự,
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Tản Đà dịch:
Trăng tà tiếng quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Nguyễn Hàm Ninh dịch:
Quạ kêu, trăng lặn, trời sương,
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Hồ Điệp lại ngâm:
Trăng tà chiếc quạ kêu sương,
Lửa chài cây bến còn vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Ngô Tất Tố dịch:
Quạ kêu, sương tỏa, trăng lui,
Đèn chài, cây bãi, đối người nằm khô.
Chùa đâu trên núi Cô Tô,
Tiếng chuông đưa đến bến đò canh khuya.
Trần Trọng Kim dịch:
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi,
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co.
Con thuyền đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghetiếng chuông chùa Hàn Sơn.
Trần Trọng San dịch:
Quạ kêu, trăng lẩn sương trời,
Buồn hiu giấc ngủ lửa chài bến phong.
Đêm Cô Tô vẳng tiếng chuông,
Chùa Hàn San đến thuyền sông Phong Kiều.
Lý Nhược Tam dịch:
Ô đề trăng lặng sương giăng,
Đèn câu thức bóng lăn tăn gợn sầu.
Hàn Sơn Tự, đất Tô Châu,
Chuông khuya vọng đến Phong Kiều thuyền neo.
Hữu Nguyên dịch:
Quạ kêu, trăng lặn, ngút trời sương,
Phong bãi, đèn câu đắm mộng trường.
Đêm vắng Cô Tô thuyền khách đậu,
Chuông Hàn San Tự thoảng đưa sang.
Huệ Thu dịch:
Trăng chìm quạ khóc trời sương,
Đèn chong cây lặng nghe buồn miên man.
Cô Tô phố ngoại chùa Hàn,
Nửa đêm chuông đổ rớt sang thuyền chờ.

Ảnh minh họa.
Thông thường, chuông không được thỉnh vào lúc nửa đêm hay giữa khuya. Điều này khiến nhiều người cho rằng Trương Kế đã có sự nhầm lẫn. Tuy nhiên, do quan niệm rằng các nhà thơ thường có nhận xét tinh tế và ghi chép chính xác, cùng với sự xuất hiện của cụm từ “bán dạ” (nửa đêm), người ta đã sáng tạo ra một câu chuyện để giải thích cho chi tiết này:
Tương truyền, có một vị sư trụ trì chùa Hàn San, trong một đêm khuya, ngẫu hứng làm thơ và chỉ viết được hai câu đầu:
Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung,
Bán tự ngân câu bán tự cung.
Do bí ý không tìm được câu kết, vị sư đang trầm tư thì một chú tiểu đi ngoài sân, nhìn thấy bóng trăng in dưới vũng nước. Chú tiểu vào thấy thầy đang suy nghĩ, bèn xin được góp hai câu kết dựa trên hình ảnh trăng vừa thấy:
Thùy bả ngọc hoàn phân lưỡng đoạn,
Bán trầm thủy để, bán phù không.
Vị sư hài lòng với hai câu kết. Cả hai thầy trò hoan hỷ lên chánh điện dâng hương tạ ơn Phật và đồng thời thỉnh chuông, tạo nên âm thanh vang vọng vào đêm khuya, đến tai thi sĩ Trương Kế.
Thi sĩ Cao Tiêu đã dịch bài thơ trên như sau:
Trăng non mùng bốn mùng ba,
Nửa như móc bạc, nửa là cánh cung.
Ai đem bẻ nửa chiếc vòng,
Nước in một nửa, trên không nửa cài.
Tuy nhiên, không phải lúc nào các nhà thơ hay thi hào cũng có những nhận xét hoàn toàn chính xác. Trong văn học Trung Hoa cũng có giai thoại về Tô Đông Pha phê bình thơ của Vương An Thạch:
Tô Đông Pha khi đọc bài thơ của Vương An Thạch:
Minh nguyệt sơn đầu khiếu,
Hoàng khuyển ngọa hoa tâm.
Đã chê là vô lý vì trăng sáng không thể “hót” trên đầu núi, và chó vàng không thể nằm giữa lòng hoa. Tô Đông Pha đã sửa lại thành:
Minh nguyệt sơn đầu chiếu,
Hoàng khuyển ngọa hoa âm.
Với ý nghĩa trăng soi đầu núi, chó nằm trong bóng hoa, bài thơ trở nên hợp lý và hay hơn. Tuy nhiên, sau này khi bị đày đến miền cực Nam, Tô Đông Pha mới biết có loài chim tên là “Minh nguyệt” và loài sâu có tên là “Hoàng khuyển”, minh oan cho bài thơ gốc của Vương An Thạch.
Các loại chuông phổ biến được sử dụng trong chùa chiền và tự viện:

Ảnh minh họa.
a) Phạn chung (chuông Phạn): Còn được gọi là “đại chung”, “hồng chung”, “hoa chung” hoặc “cự chung”. Loại chuông này thường được đúc bằng đồng xanh pha lẫn một ít sắt, với chiều cao khoảng 1,5 mét và đường kính khoảng 6 tấc. Phạn chung được treo trong lầu chuông với mục đích chiêu tập đại chúng hoặc báo hiệu thời gian vào buổi sớm và tối. Tại Việt Nam, thuật ngữ “đại hồng chung” thường dùng để chỉ những quả chuông rất lớn, không còn giới hạn cụ thể về kích thước. Chuông này còn được biết đến với tên gọi chuông U Minh.
b) Bán chung (chuông Bán): Sở dĩ có tên gọi này là vì kích thước của nó chỉ bằng một nửa chuông Phạn. Nó còn được gọi là “hoán chung” hoặc “tiểu chung”. Chuông Bán thường được đúc bằng đồng, cao khoảng 6 đến 8 tấc. Loại chuông này thường đặt ở một góc trong chánh điện và được sử dụng trong các buổi pháp hội, do đó còn có tên gọi khác là “hành lễ chung”. Ngày nay, cả người Việt Nam và các nước khác đều linh hoạt chế tạo nhiều loại chuông có kiểu dáng tương tự “bán chung”, nhưng không có kích thước cố định.
c) Bảo Chúng chung (chuông Báo chúng): Còn gọi là chuông Tăng đường, đây là loại chuông nhỏ, có thể một người dễ dàng xách lên. Hình dáng của nó tương tự đại hồng chung, được treo tại trai đường và dùng để thông báo cho Tăng chúng về các sự kiện như họp đại chúng, giờ thọ trai, giờ làm việc, hoặc giờ bái sám trong các tự viện.
d) Gia Trì chung (chuông Gia trì): Loại chuông này được sử dụng trong các buổi tụng kinh, bái sám. Tiếng chuông vang lên trước khi bắt đầu tụng kinh, báo hiệu sắp kết thúc một đoạn kinh hoặc một câu niệm Phật. Nó cũng thường được sử dụng khi lạy Phật một mình hoặc để báo hiệu cho mọi người cùng lạy theo nhịp khi tụng kinh chung. Chuông gia trì có đủ ba kích cỡ: lớn, vừa và nhỏ. Các Phật tử tại gia thường sử dụng chuông vừa và nhỏ, tương tự như chư Tăng.
Trong giai đoạn cực thịnh của Thiền Tông, chuông được đặt tại thiền đường, trai đường được gọi là “Tăng Đường chung”, “Trai chung”; chuông đặt tại chánh điện gọi là “Điện chung”… Người phụ trách việc đánh chuông được gọi là “Chung Đầu.”
Về quy cách thỉnh chuông, ở Trung Hoa xưa, tùy theo tông phái và địa phương mà có những quy định khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung, khi bắt đầu thỉnh chuông thường đánh 3 tiếng, và khi kết thúc có thể đánh nhanh 2 tiếng hoặc 3 hồi chín tiếng đối với các loại chuông nhỏ dùng trong tụng kinh. Số lượng tiếng chuông thường là 18, đôi khi là 36 hoặc 108 tiếng. Thỉnh 108 tiếng tượng trưng cho việc hành giả nỗ lực làm vơi đi 108 loại phiền não trong tâm. Mười tám tiếng biểu thị sự thanh lọc của sáu căn, sáu trần và sáu thức.
Theo quan niệm tín ngưỡng, tiếng vang của chuông có khả năng lan tỏa đến cõi địa ngục u ám, giúp chúng sanh đang chịu khổ nơi đó được giải thoát khi nghe tiếng chuông. Bên cạnh đó, âm thanh thanh thoát của chuông chùa còn có thể giúp loài quỷ đói giảm bớt lòng tham lam, sân hận và thoát khỏi kiếp ngạ quỷ. Tại các ngôi chùa Việt Nam ngày nay, cũng như các chùa Trung Quốc xưa hoặc các chùa thuộc các quốc gia theo Phật giáo Đại thừa như Nhật Bản, Triều Tiên, thường có những quả chuông lớn được thỉnh vào hai buổi sáng và tối trong ngày khi hành lễ cầu nguyện. Giờ thỉnh chuông buổi sáng thường là vào lúc 4 giờ sáng hoặc trước thời công phu buổi sáng, tùy theo quy định của mỗi chùa.
Kệ thỉnh chuông:
Khi thỉnh chuông, người đánh chuông thường đọc bài kệ:
Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới,
Thiết vi u ám tất giai văn.
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông,
Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.
Nghĩa là:
Nguyện tiếng chuông này khắp pháp giới,
Cõi u ám Thiết Vi cùng nghe được.
Căn và cảnh thanh tịnh, chứng được viên thông,
Tất cả chúng sanh đều thành chánh giác.
(Bản dịch của Hòa thượng Trí Quang – Luật Sa-di, Sa-di-ni – Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản, 1989).
Dịch thơ:
1. Nguyện tiếng chuông vang rền pháp giới,
Chúng sanh ngục sắt thảy đều nghe.
Tiếng đời sạch, chứng được viên thông,
Tất cả muôn loài đều giác ngộ.
(Thích Nhật Từ).
2. Tiếng chuông nguyện vang rền các cõi,
Núi Thiết Vi tăm tối nghe hay.
Âm thanh đời lắng sạch thay,
Chúng sanh giác ngộ, tỏ bày an nhiên.
(Thích Nhật Từ).
Khám phá sâu hơn về ý nghĩa và vai trò của chuông trong đời sống tâm linh và văn hóa, đặc biệt là trong Đạo phật.
