Chuyện kể về người Kalama

kinh kalama 1605 1
0
(0)

Trong dòng chảy lịch sử, luôn xuất hiện những tâm hồn dám nghi ngờ và tìm tòi, giống như những người Kalama huyền thoại. Có thể thấy, trí tuệ vượt bậc của những nhà khoa học vĩ đại như Einstein hay Hawking chính là minh chứng sống động cho tinh thần này, bởi họ không dễ dàng chấp nhận những điều thiếu cơ sở. Khám phá sâu hơn về triết lý phản biện mà Đức Phật đã truyền dạy qua Kinh Kalama Sutta, bạn sẽ tìm thấy con đường dẫn đến sự giác ngộ và an lạc đích thực tại Website Chia sẻ Đạo Phật.

Trong mọi thời đại, luôn tồn tại những cá nhân mang tư duy phản biện, giống như những người Kalama. Có thể suy đoán rằng, những người sở hữu dòng máu Kalama mạnh mẽ nhất chính là các nhà khoa học, ví dụ như các thiên tài vật lý Albert Einstein hay Stephen Hawking. Họ sẽ không dễ dàng bị thuyết phục bởi bất cứ điều gì thiếu tính hợp lý.

Câu chuyện người Kalama 1

Ảnh minh họa.

Đức Phật cũng đã hướng dẫn những người Kalama qua Kinh Kalama Sutta (AN 3.65). Theo bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu, lời dạy được trích dẫn như sau:

“Này các Kalama, chớ có tin chỉ vì nghe theo lời đồn, chớ có tin theo truyền thuyết; chớ có tin theo truyền thống; chớ có tin vì được ghi chép trong kinh điển; chớ có tin vì những suy luận logic; chớ có tin vì những diễn giải tương tự; chớ có tin vì sự đánh giá hời hợt các dữ kiện; chớ có tin vì nó phù hợp với định kiến; chớ có tin vì nó đến từ một người có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là đạo sư của mình.

Nhưng này các Kalama, khi nào tự mình nhận thức rằng: “Những pháp này là thiện; những pháp này là không đáng chê; những pháp này không bị những người có trí chỉ trích; những pháp này, khi thực hành và chấp nhận, sẽ dẫn đến hạnh phúc và an lạc”, thì khi đó, này Kalama, hãy tự mình chứng nghiệm và an trú!”

Nhà vật lý lý thuyết Albert Einstein (1879 – 1955), ngay cả trước khi nổi tiếng, đã từng nghi ngờ lý thuyết của Isaac Newton. Sau đó, khi tự mình tính toán ra các công thức về thuyết tương đối, ông cũng từng nghi ngờ khả năng mình đã tính sai. Tuy nhiên, thế giới khoa học cuối cùng đã công nhận thuyết tương đối và trao cho Einstein Giải Nobel Vật lý năm 1921.

Điều đáng chú ý là Einstein sinh ra trong một gia đình Do Thái Ashkenazi truyền thống và từng theo học ba năm tiểu học tại một trường Công giáo ở Munich.

Tuy nhiên, sau nhiều thập kỷ nghiên cứu khoa học, Einstein đã bày tỏ quan điểm rằng không có một Đấng Sáng Tạo nào cả.

Vào tuần trước, có thông tin về việc một lá thư viết tay của Albert Einstein sẽ được bán đấu giá vào ngày 4 tháng 12 năm 2018 tại nhà đấu giá Christie’s ở New York. Lá thư này được viết một năm trước khi Einstein qua đời (1955) và được dự đoán sẽ đạt mức giá từ 1 đến 1.5 triệu đô la.

Trong lá thư viết tay vào tháng 1 năm 1954, gửi cho nhà triết học tôn giáo Erik Gutkind sau khi đọc nhiều sách của Gutkind về Kinh Thánh Thiên Chúa Giáo, Einstein đã ca ngợi nỗ lực chung của Gutkind trong việc cải thiện đời sống nhân sinh. Sau đó, ông viết:

“Chữ God (Thượng Đế) đối với tôi không mang ý nghĩa gì cả, nó chỉ là một biểu đạt và là sản phẩm của sự yếu đuối của con người, còn Bible (Kinh Thánh) là một tuyển tập các huyền thoại đáng kính nhưng còn khá sơ khai.”

Trong cùng lá thư, Einstein cũng đề cập đến nguồn gốc Do Thái của mình và đặt câu hỏi về câu chuyện [trong Kinh Thánh] về việc Do Thái là “dân tộc được chọn.”

Xem thêm: Nhất Thiết Duy Tâm Tạo: Sức Mạnh Kiến Tạo Thực Tại Từ Nội Tâm

Trong bối cảnh này, mục đích không phải là làm tổn thương những người có niềm tin như Gutkind, cũng không phải để tranh luận về việc Einstein dựa vào công thức toán học nào để đưa ra kết luận. Chỉ đơn giản là muốn nhấn mạnh rằng Einstein là một người Kalama xuất sắc.

Một người Kalama nổi tiếng khác là nhà khoa học người Anh Stephen Hawking (1942 – 2018). Ngay từ thời thơ ấu, ông đã được gọi là cậu bé Einstein. Khi còn học trung học tại trường St Albans, ông đã kết bạn với một nhóm bạn thân thiết, tình bạn này kéo dài suốt đời. Họ thường xuyên gặp gỡ để chơi cờ và có những cuộc thảo luận sâu sắc về Thiên Chúa Giáo và lĩnh vực ngoại cảm.

Cả Einstein và Hawking đều được xem là những nhà vật lý lý thuyết thông minh nhất trong thế hệ của mình, và là những người đã mở ra những chân trời mới cho khoa học nhân loại.

Vào Thứ Ba, ngày 16 tháng 10 năm 2018, báo chí đưa tin rằng Hawking đã lên tiếng từ cõi vĩnh hằng. Tác phẩm “Brief Answers to the Big Questions”, bao gồm những bài viết của ông trong những tháng cuối đời, đã được xuất bản. Trong đó, ông khẳng định: “Không có Thượng Đế. Không ai chỉ huy vũ trụ này cả.”

Hawking cũng là một người Kalama tuyệt vời. Với sự tinh tế, ông đã không làm buồn lòng nhiều bạn bè trong suốt cuộc đời mình. Chỉ sau khi ông qua đời, sách của ông mới được công bố, khẳng định rằng không có một Đấng Sáng Tạo nào cả.

Xin nhắc lại, bài viết này không nhằm mục đích tranh cãi, mà chỉ thuần túy cung cấp thông tin.

Một nhà khoa học khác dường như cũng có tiền thân là người Kalama: ông Lal Ariyaratna Pinnaduwage. Ông từng là nhà khoa học cao cấp tại phòng thí nghiệm Oak Ridge National Laboratory và là giáo sư nghiên cứu tại Đại học Tennessee. Ông chia sẻ rằng mình sinh ra là Phật tử (do là người Sri Lanka) nhưng không tu tập gì cho đến khi nghỉ hưu vào năm 2009 và bắt đầu nghiên cứu Phật giáo trở lại.

Ở đây, không có ý nói Pinnaduwage là một người Kalama tuyệt vời, vì ông đã va chạm khá nhiều, ngay cả trong Phật giáo. Ông đã tạo một trang web tên là Pure Dhamma, tuyên bố rằng sau khi đọc hết các Tạng Kinh, ông kết luận rằng Phật pháp thuần túy phải loại trừ trước tiên Đại thừa, Kim Cang thừa (Phật giáo Tây Tạng) và Thiền tông.

Tìm hiểu thêm: Ý TƯỞNG và Ý NIỆM: Bí mật đằng sau hai thế giới nhận thức để thấu hiểu trọn vẹn

Như vậy, vị giáo sư về hưu này đã va chạm quá nhiều. Trước hết là với chính bản thân người viết, người tu học cả ba truyền thống trên (theo học pháp từ Chùa Tây Tạng Bình Dương, với pháp phái Lâm Tế). Tuy nhiên, cũng không tranh cãi ở đây, chỉ ghi lại để biết rằng, có rất nhiều người Kalama trên thế giới này, và mỗi người trong chúng ta đều phải tự mình tìm kiếm.

Giáo sư Pinnaduwage viết rằng ông đã đọc nhiều bản văn Phật giáo bằng tiếng Sinhala (ngôn ngữ của Sri Lanka), nhưng những bản văn này chưa được dịch sang tiếng Pali hay tiếng Anh. Ông cho rằng, theo nghiên cứu của mình, nhiều luận thư cũng cần phải loại bỏ vì không phải là Phật pháp thuần túy (ý muốn nói là tinh ròng, không pha tạp). Trong số đó, ông cho rằng cả Thanh Tịnh Đạo Luận (Visuddhimagga) của ngài Buddhaghosa cũng có pha lẫn tư tưởng Vệ Đà.

Tôi cũng không có ý tranh cãi với vị giáo sư người Sri Lanka này, vì chắc chắn rằng vị cư sĩ đó đã đọc rất nhiều (tôi thừa nhận không biết đọc các bản văn viết bằng tiếng Sinhala). Ở đây, chỉ muốn nói rằng có rất nhiều người Kalama trên thế giới này. Kể cả, trong số đó, cư sĩ Pinnaduwage không nổi tiếng bằng Einstein và Hawking.

Đến đây, xin chuyển sang câu chuyện của bản thân. Tôi chỉ là một cư sĩ bình thường, không phải nhà vật lý lý thuyết, cũng không phải luận sư hay pháp sư hay bất kỳ danh xưng đáng kính nào khác. Tuy nhiên, có bạn đọc đã chất vấn rằng tại sao tôi lại có vẻ giống một người Kalama.

Câu chuyện là như thế này: tôi không hoàn toàn tin vào luận thư, dù là bằng tiếng Pali. Tôi tin vào kinh hơn, dù rằng kinh cũng có những chỗ pha tạp. Lập trường này không xa lạ gì, vì trong quá khứ đã có các vị Sautrantikas (Kinh Lượng Bộ) không tin vào bộ A Tỳ Đàm (Abhidhamma) vì cho rằng đó là tác phẩm sau này. Họ chỉ đặt nền tảng trên Kinh tạng và đưa ra các luận cứ phản bác Luận tạng.

Nhìn nhận lại, các luận thư vẫn có giá trị, nhiều chỗ phù hợp và làm sáng tỏ ý kinh, nhưng cũng có nhiều chỗ đi quá xa, nói những điều không hề có trong kinh, nghĩa là đưa ra những ý mà Đức Phật không hề nói.

Nhiều học giả chỉ ra rằng Đức Phật không hề đề cập đến 17 khoảnh khắc của tâm (17 thought moments), trong khi Luận thư lại nói rằng một niệm (a single thought process) bao gồm 17 khoảnh khắc tâm trải qua ba giai đoạn: sinh khởi, trụ và diệt.

Một số học giả cũng đặt nghi vấn về quan điểm cho rằng nghiệp của phụ nữ xấu xa tương tự như người có nam căn bất toàn, người bị hoạn và người chuyển giới. Điều này trái ngược với lời dạy của Đức Phật trong kinh, Ngài nói rằng tất cả những ai mang thân người đều là đại cơ duyên, đặc biệt Ngài nói về phụ nữ với sự trìu mến và trân trọng, khi trả lời ngài A Nan rằng khi gặp phụ nữ (nếu có khởi tâm khác thường) thì nên xem họ như mẹ, như chị của mình…

Tôi cũng có nghi vấn (nhưng không chứng minh được) rằng Kinh Pháp Hoa có thể do một vị Thánh Ni viết, không phải là câu chuyện nữ quyền đời thường, mà có lẽ là để diễn tả đúng ý Đức Phật mà xã hội trọng nam thời kỳ đó đã làm biến dạng ý kinh.

Khám phá: Chùa Thơ Mít An Giang: Dấu ấn Khmer thiêng liêng, điểm hẹn tâm linh hút hồn du khách

Có người nói rằng Luận thư là do các bậc đại tăng kết tập. Đúng vậy. Nên đặt giả thuyết rằng, nếu để các đại tăng Thái Lan thời nay kết tập kinh điển, hẳn là quý ngài sẽ cấm vĩnh viễn việc thành lập Ni đoàn. Vấn đề này đã từng gây tranh cãi vào dịp Vesak 2014 tại Việt Nam, khi ngài Ajahn Brahm (một trưởng lão ở Úc) được GHPGVN mời đọc bài diễn văn trong Vesak tháng 5/2014. Tuy nhiên, do áp lực từ các đại tăng Thái Lan, vào phút chót, ngài Ajahn Brahm đã không được đọc bài diễn văn. Bài diễn văn đó có chủ đề Bình đẳng giới trong Theravada. Xem bản tin và bài diễn văn tại đây (http://www.buddhistchannel.tv/index.php?id=70,11880,0,0,1,0#.W8e4TntKi70).

Như vậy, nếu Luận thư do các đại tăng Thái Lan soạn, thì sẽ khác với Luận thư do các đại tăng từ Úc châu kết tập.

Thêm vào đó, cũng có nghi vấn: nếu đại tăng Thái Lan kết tập kinh điển, hẳn sẽ có áp lực từ vương triều Thái Lan (theo kiểu phong kiến). Trong khi đó, đại tăng Úc châu kết tập sẽ tự do hơn.

Đó là chưa kể, nếu Luận thư do các đại tăng Việt Nam soạn, liệu các vị Tiến sĩ nơi phố thị có trình độ giác ngộ như một số vị ẩn tăng nơi núi rừng? Hoặc trình độ của Tiến sĩ Phật giáo học từ Miến Điện sẽ khác với Tiến sĩ học từ Đài Loan, và chắc chắn sẽ khác với học từ Đại học Mỹ.

Nhắc lại, ở đây không có ý làm mất vui, chỉ muốn nói rằng đôi khi nên thực hiện lời Đức Phật dạy trong Kinh Kalama.

Ví dụ như về Thiền tông. Sách Vô Môn Quan nói rằng pháp này là cửa không cửa. Không cửa thì làm sao vào? Thêm nữa, Thiền tông lại nói rằng pháp này nằm ngoài kinh điển (giáo ngoại biệt truyền)… Dĩ nhiên, quý Tổ sư tin thật như thế, và tôi đã từng tin thật như thế (tôi từng nghĩ, Đức Phật thật tuyệt vời, pháp này là không lời mà truyền dạy…).

Tôi từng đọc trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, Quyển I, bản dịch của Nhẫn Tế Thiền Sư, có chỗ ghi lời một vị sư hỏi Tổ Bá Trượng: “Trước đến giờ, chư Tổ đều có Mật Ngữ trao truyền cho nhau là thế nào?”

Tổ Bá Trượng đáp: “Không có lời Mật. Như Lai không có Bí Mật Tạng. Chỉ như bây giờ soi tỏ ý nghĩa cho rõ ràng, tìm kiếm hình tướng, rõ là bất khả đắc, đó là Mật Ngữ… Chỉ có lời nói, tức chẳng được chấp nhận vậy. Liễu Nghĩa Giáo đều chẳng phải là gì hết thảy (Phi), thì còn tìm kiếm Mật Ngữ nào?”

Trong phần Tông Thông có lời bình (hiểu là luận thư của Thiền Tông), có ghi câu: “Theo chỗ thấy của Tổ Bá Trượng, thì một chữ Mật cũng phải nhả ra, Liễu Nghĩa Giáo cũng chẳng lập, mới có thể gọi là hướng lên ngàn Phật Đảnh mà đi.” (https://thuvienhoasen.org/p17a1221/quyen-i)

Đó là lời của Tổ Bá Trượng, thoạt nghe cứ tưởng như Đức Phật không hề nói trong Kinh Tạng… Cho đến khi tôi (cũng là một người Kalama) đọc lại Tạng Pali, qua các bản dịch tiếng Anh, và rồi khám phá… Không ngờ Đức Phật cũng đã nói lời tương tự. Từ rất xa xưa, và trở thành kinh nhật tụng xưa thật xưa. Tuyệt vời. Đâu có phải là giáo ngoại biệt truyền.

Qua những câu chuyện và lời dạy này, hy vọng bạn đọc sẽ tìm thấy cho mình những góc nhìn mới mẻ và sâu sắc hơn về con đường khám phá chân lý, mời bạn cùng tìm hiểu thêm về Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang