Covid-19: Đại nạn hay dấu hiệu thời Mạt pháp?

thoi mat phap 2 1003 1
0
(0)

Trong bối cảnh thế giới đối mặt với những biến động khó lường, liệu những lời dạy cổ xưa của Đức Phật về Mạt pháp có còn giá trị soi đường? Khám phá những triết lý vượt thời gian tại Website Chia sẻ Đạo Phật để tìm kiếm sự tĩnh tại và trí tuệ.

Đức Phật đã từng giảng giải về viễn cảnh của thời kỳ Mạt pháp, một giai đoạn được mô tả trong các kinh điển Phật giáo.

Từ Đại pháp nạn Covid-19 nghĩ về thời Mạt pháp 1

Lưu ý: Các lời dự ngôn của Đức Phật xuất phát từ lòng từ bi, không nên hiểu như sấm truyền dân gian.

Các lời dạy và dự ngôn của Đức Phật về thời Mạt pháp không nên được xem như những lời sấm truyền theo cách hiểu thông thường của tín ngưỡng dân gian. Thay vào đó, những lời này bắt nguồn từ lòng từ bi vô hạn của Ngài đối với chúng sinh, nhằm cảnh báo và chỉ dẫn cho hậu thế.

Nội dung của những lời dạy này mang ý nghĩa sâu sắc, ảnh hưởng đến cách chúng ta nhìn nhận và đối diện với cuộc sống. Mặc dù chúng ta đang sống trong thời đại khoa học công nghệ phát triển vượt bậc, việc tìm hiểu những lời dạy từ hơn 25 thế kỷ trước có thể khiến nhiều người hoài nghi. Để củng cố niềm tin vào Chánh pháp, chúng ta có thể tham khảo góc nhìn của các nhà khoa học lỗi lạc.

Nhà vật lý nổi tiếng Albert Einstein đã từng nhận định: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học. Vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học.”

Albert Einstein, người phát triển thuyết tương đối và đoạt giải Nobel Vật lý, không chỉ là một nhà khoa học lỗi lạc mà còn nghiên cứu sâu về triết học, trong đó có triết thuyết Phật giáo. Ông từng tiết lộ rằng Thuyết tương đối của mình có thể đã chịu ảnh hưởng từ ý tưởng trong kinh Hoa Nghiêm của Phật giáo. Việc đề cập đến Einstein không nhằm mục đích lấy ông làm điểm tựa duy nhất, mà để làm rõ rằng Phật giáo không hề xa rời thực tế hay chỉ bàn luận những vấn đề viển vông. Ngược lại, đạo Phật chạm đến những vấn đề thời sự và khoa học đỉnh cao.

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra, lời nhận định của Einstein càng trở nên xác đáng. Nó cho thấy Phật giáo mang trong mình tinh hoa minh triết, vượt qua không gian và thời gian nhờ tính khoa học vốn có. Chính vì vậy, Đức Phật đã có những lời cảnh báo về các hiện tượng bất thường như thiên tai, dịch bệnh từ hàng ngàn năm trước, thể hiện sự thấu suốt về quy luật vận hành của nhân loại và vũ trụ.

Để hiểu rõ hơn mối tương quan giữa Phật giáo và khoa học qua những lời dự ngôn của Đức Phật, chúng ta hãy cùng đi sâu vào nội dung này.

Dự ngôn và Huyền nhiệm của Phật Thích Ca Mâu Ni về thời Mạt pháp

Từ Đại pháp nạn Covid-19 nghĩ về thời Mạt pháp 2

Những lời dạy về “thiên cơ” giúp con người chuyển hóa nghiệp xấu đã được Đức Phật đề cập ngay cả khi Ngài còn tại thế.

Đức Phật, với lòng từ bi vô lượng, đã thấu rõ bản chất vô minh, tham ái và ham muốn của con người, dẫn đến việc tạo tác nghiệp xấu. Vì vậy, Ngài đã đưa ra những lời dự ngôn mang tính cảnh báo, giúp chúng sinh nhận thức và hạn chế sự “phóng dật” quá độ. Khác với sấm truyền mang tính mơ hồ và thường chỉ được giải thích sau khi sự kiện xảy ra, dự ngôn và huyền ký của Đức Phật xuất phát từ lòng bi mẫn, nhằm ngăn ngừa điều ác và khai mở lối thoát, hay nói cách khác là chuyển hóa nghiệp xấu thành an lành.

Những lời dạy này có thể được nói ra vào một thời điểm xa xôi trong tương lai, khi căn cơ của chúng sinh đã đủ chín muồi để thấu hiểu, hoặc do một “thiên cơ” nào đó mà Ngài chỉ có thể tiết lộ sau khi nhập diệt. Sự khác biệt này cho thấy tính chất đặc biệt của dự ngôn và huyền nhiệm trong Phật giáo so với các hình thức sấm ký, sấm truyền dân gian.

Trong các kinh điển, không chỉ sau khi Đức Phật nhập diệt mới có những lời huyền nhiệm chỉ ra những điều xấu ác. Ngay khi còn tại thế, Ngài đã giảng giải về “thiên cơ” để giúp con người chuyển hóa nghiệp xấu thành thiện lành. Một ví dụ điển hình là cuộc đối đáp giữa Đức Thế Tôn và gia đình Bà-la-môn trong kinh Tăng Chi, Phẩm Ba Pháp.

Trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế, khi một trận dịch bệnh xảy ra, có gia đình Bà-la-môn đã trình bày với Ngài về sự hoang tàn, hạn hán, dịch bệnh và nhiều người tử vong. Đức Thế Tôn đã giải thích rằng:

“Này Bà la môn, ngày nay loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, và bị ác tham chinh phục, bị tà kiến chi phối. Vì bị tham, và phi pháp là do say đắm; vì bị tà kiến mà trời không mưa xuống đều đặn. Vì vậy, bữa ăn khó tìm, mùa màng hư mất, trắng xóa côn trùng…

Lại nữa, này Bà la môn, ngày nay các loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, vì bị ác tham chinh phục, các loài Yakkha (Dạ xoa) thả ra các loài phi nhân dữ tợn.

Vì vậy, nhiều người mạng chung. Đây là nhân, này Bà la môn, đây là duyên, mà ngày nay loài người bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế, các làng mạc trở thành không phải làng, các thị trấn trở thành không phải thị trấn, các thành phố trở thành không phải thành phố, các quốc độ trở thành không phải quốc độ.”

Cuộc đối thoại này minh chứng rằng ngay cả khi Đức Phật còn tại thế, Ngài đã chỉ ra mối liên hệ giữa hành vi của con người và các tai ương xảy ra. Vậy, trong thời kỳ Mạt pháp, Đức Phật đã dự ngôn những gì trong kinh “Phật thuyết pháp diệt tận”? Dưới đây là một số đoạn trích:

“Thời kỳ Mạt pháp thì Phật pháp của ta truyền sẽ bị phá hư, diệt vong. Và trong thời mạt pháp, sẽ xuất hiện rất nhiều tăng nhân giả làm thiện tri thức đưa chúng sinh lầm đường lạc lối trong tu hành pháp.”

Tìm hiểu thêm: Sao Chiếu Mệnh 2025 Tuổi Đinh Sửu 1997: Hé Lộ Vận Trình Thịnh Vượng

Theo kinh “Phật thuyết pháp diệt tận”, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói với Tôn giả A Nan và các tín đồ rằng sau khi Ngài nhập diệt, bước vào thời kỳ mạt pháp, mạt kiếp, Phật pháp mà Ngài truyền trao sẽ bị hủy hoại. Với trí tuệ toàn giác, Ngài đã thấy trước được sự suy đồi của giáo pháp.

Quan sát thực tế hiện nay, nhiều nơi cửa Phật dường như chỉ còn là nơi cầu xin, và một số tu sĩ ít chú trọng tuân giữ giới luật. Kinh “Phật thuyết pháp diệt tận” cũng ghi lại:

“Chúng sinh chỉ tham tiền tài vật chất, tích lũy để giầu, cũng không tu phúc đức chân chính. Có kẻ còn bắt đầu buôn bán nô tỳ, bắt nô tỳ cày ruộng trồng trọt. Sưu thuế nặng nề. Ngoài ra còn đốt phá rừng, làm tổn hại sinh mạng chúng sinh, không còn một chút thiện căn từ bi nào cả. Đến thời này, xã hội nhân loại cũng xuất hiện nhiều sự tình khác lạ đó là khí hậu dị thường, thiên tai nhân họa xảy ra thường xuyên, nước hạn hán, ngũ cốc thiếu hụt, bệnh dịch làm chết nhiều người; đạo đức xã hội trượt dốc, người ác nhiều như cát trong biển, người thiện lương thì ít thấy vô cùng”.

“Đến thời mạt kiếp thì mặt trăng mặt trời luân chuyển làm thời gian ngắn lại hơn, vì thế tuổi thọ con người cũng nhanh kết thúc hơn; lũ lụt sẽ đến thường xuyên hơn, không theo quy luật rõ ràng. Người đời không tin đây là hiện tượng mạt pháp, vì thế xem là bình thường. Chúng sinh sống tạp loạn cùng nhau, bất kể giầu sang hay nghèo hèn đều bị chìm trong nước chứ không nổi, làm mồi cho cá và rùa…” (Trích dẫn từ bài viết “Đức Phật giảng về viễn cảnh thời Mạt pháp” của Sư Minh Tâm trên phatgiao.org.vn và VHPG tháng 3/2020).

Huỷ báng, báng bổ Phật Pháp sẽ nhận quả báo gì?

Từ Đại pháp nạn Covid-19 nghĩ về thời Mạt pháp 3

Tham, sân, si và vọng tưởng là cội nguồn của những hành động xấu ác, dẫn đến tranh giành và sát hại lẫn nhau.

Bên cạnh đó, Đức Phật cũng đưa ra những lời dạy về thời Mạt Thượng pháp liên quan đến vấn đề Nhân quả:

“Dù bất cứ sống ở đâu trên trái đất này cũng phải bị quy luật luân hồi của trái đất này kéo đi cả. Một vị đã giác ngộ rồi, sống ở trái đất này, nếu sống với tánh người cũng phải bị luân hồi như bao người khác. Người sống nơi thế giới nhân quả này do sự cuốn hút (vật lý) của tam giới, không ai thoát ra ngoài quy luật của nó được. Dẫu có dụng công tu hành đạt được thần thông cao đến mấy cũng chỉ là những hạt bụi bay lơ lửng trong không gian mà thôi.

“Con người đừng vì chút danh ảo, lợi bóng mà tự xưng mình là Ông này, Bà kia, lường gạt người khác để có danh lợi, thì chính người này mở con đường đến Địa ngục 18. Vậy các ông đừng vì chút danh lợi mà lường gạt người khác.

Đức Phật cũng dạy về uy lực nơi trái đất này gồm 2 phần: 1. Tánh người do tham, sân, si, vọng tưởng là nguyên nhân dẫn đến luân hồi trong 6 nẻo. 2. Tánh của loài Thần chuyên làm ra những hiện tượng lạ để cho loài người ưa thích và giữ gìn lời thề do con người thề thốt với nhau một điều gì đó. Vì vậy, ở trái đất này ai đã thề rồi mà không giữ lời, thì loài Thần sẽ chiêu cảm và xử lý. Còn ai phản lại lời thề của mình, tự mình chuốc lấy hậu quả.

Vì vậy, mà cất Đình, Miếu mọc lên để loài người đến đó thề thốt với nhau. Nhưng vì loài người hiểu sai, mê tín nên đến nơi này cầu xin lạy van.

Xem thêm: Đường Xưa Mây Trắng: Hành trình giác ngộ và lòng từ bi qua lời kể lay động lòng người

Đức Phật cũng dạy rõ: Thời đức Phật đang tại thế, trái đất này vừa ổn định 7 triệu năm, sau một thời gian dài bị loài người sử dụng phản ứng hóa học của vật chất tiêu diệt sự sống trên trái đất này gần hết.

Khi đức Phật dạy pháp môn Giải thoát gọi là thời Thượng pháp được phân chia như dưới đây:

  1. Thượng pháp là tính từ khởi đầu đức Phật chuyển pháp luân đến 1.000 năm.
  2. Trung pháp từ 1.000 năm đến 2.000 năm.
  3. Hạ pháp từ 2.000 năm đến 2.500 năm.

Rồi chuyển qua thời kỳ Mạt pháp, thời kỳ này được chia 5 phần:

  1. Mạt thượng pháp từ 2.500 năm đến 2.600 năm.
  2. Mạt trung pháp từ 2.600 năm đến 2.700 năm.
  3. Mạt hạ pháp từ 2.700 năm đến 2.800 năm
  4. Mạt mạt pháp từ 2.900 năm đến 3.000 năm.

Sự sống trên trái đất này bị tiêu diệt gần hết gồm có những nguyên nhân:

  1. Bởi loài người đánh nhau rồi tiêu diệt nhau;
  2. Bị nhiễm khí độc do loài người tạo ra;
  3. Bị thiên tai bão lụt cũng do con người thử vũ khí làm trái đất chấn động nên thời tiết không còn tự nhiên;
  4. Động đất, vì loài người rút tài nguyên dưới lòng đất quá nhiều.

Chu kỳ của trái đất này cứ 10 ngàn năm bị chệch một lần là do con người gây nên. Sau 7 ngàn năm mới bình phục lại được. Khi địa cầu này bị loài người hủy diệt sự sống gần hết, thì nhân quả luân hồi bị chậm lại, nên những Trung ấm thân ở thời kỳ này bị khốn khổ vô cùng.

Khi loài người bắt đầu vào sống thời kỳ Mạt Thượng pháp rồi, trí khôn loài người rất thông minh nên con người sản xuất vật chất cung phụng cho loài người rất dồi dào. Sản xuất khí cụ để giết người hàng loạt. Sản xuất dụng cụ và thuốc cứu người rất dễ dàng. Dịch bệnh và các loại bệnh do con người và thiên địa xảy ra làm cho loài người hoảng loạn.

Vì do tham, sân, si và vọng tưởng của tánh con người mà những điều xấu ác tạo ra, bởi tranh giành hơn thua mà sát hại nhau khi ai cũng muốn mình là cao hơn hết.

Giáo pháp của Đức Phật là toa thuốc trị liệu mọi nỗi khổ đau của nhân sinh

Để hiểu rõ hơn những lời huyền nhiệm này, chúng ta hãy cùng lắng nghe những câu hỏi của Tôn giả A Nan Đà khi Đức Phật sắp nhập diệt Niết-bàn.

A Nan Đà hỏi: Tại sao loài người phải diệt sự sống nơi trái đất này?

Đức Phật trả lời: “Loài người thích hủy diệt loài người là có những nguyên nhân như sau: Trong tánh của mỗi con người có cái vọng Tưởng, cái Tham và cái Ác nên sanh ra cái Ngã (tôi) rất to. Ở địa cầu này, đến thời Mạt Hạ pháp có đến 10 tỷ người thì tổng nghiệp của cái ngã quá sức chứa của địa cầu này, vậy nên phải tự nhiên loài người tiêu diệt lẫn nhau. Đây là nguyên lý của thành, trụ, hoại, diệt nơi trái đất này. Cuối cùng A Nan bạch Thế Tôn: Trước khi nhập Niết-bàn Thế Tôn có dạy gì cho chúng con nữa không?

Thế Tôn trả lời: Người muốn giác ngộ thì phải biết rõ ràng quy luật luân hồi nơi trái đất này cũng như trong một tam giới; phải biết rõ pháp tu giải thoát để ra ngoài sự cuốn hút vật lý (âm dương) nơi trái đất này. Và phải hiểu nơi trái đất này là do năm loài (ngũ thú) tạp cư.

Về thờ phượng ở trái đất này có các nơi xây cất như: Nhà thờ, Đình, Miếu để thờ Thần nơi trái đất này; con người có nơi thờ phượng như vậy nên yên lòng đem cái tưởng và ham muốn của mình mà được chiêu cảm nơi các thần linh khiến lòng họ được dịu lại.

Sau này, Như Lai nhập Niết bàn, các ông lập chùa thờ Như Lai là để nhớ lại lời dạy của Như Lai là giác ngộ và giải thoát; biết quy luật luân hồi cũng như các pháp tu thoát ra khỏi tam giới để về Phật giới. Nhưng những người đời sau họ làm sai lời dạy này nên nghĩ rằng: Như Lai ban phước; Như Lai có thần thông; Như Lai linh thiêng. Và coi Như Lai như các vị Thần. Thật ra Như Lai chỉ là hóa thân nơi trái đất này; nếu con người thực sự mong cầu giải thoát thì mới có duyên độ mà thôi”.

Suy ngẫm về những lời dự ngôn và huyền nhiệm này, chúng ta thấy rằng những gì Đức Phật nói trong kinh “Pháp diệt tận” và các kinh điển khác, khi xét về phương diện sự việc, có nhiều điểm tương đồng với những cảnh báo của các nhà hiền triết và khoa học chân chính ngày nay. Họ cho rằng: “Khoa học phát triển mà không có lương tâm cũng đồng nghĩa với sát hại”. Tuy nhiên, dự báo khoa học thường có tầm nhìn ngắn hạn, trong khi những lời dự ngôn của Đức Phật đã được nói ra từ hàng ngàn năm trước và vẫn còn nguyên giá trị.

Khám phá: Vân Hớn 2024: Bính Tý nữ mạng – Thấu hiểu sao để Hóa Giải, An Yên

So sánh này cho thấy, dự ngôn của Đức Phật không nhằm mục đích gieo rắc sự sợ hãi hay tuyệt vọng, mà để giúp chúng ta tĩnh tâm, thay đổi hoàn cảnh sống. Khi nội tâm và ngoại cảnh đều an ổn, “tâm bình thế giới bình”. Đây là cốt lõi mà nhà Phật muốn nhấn mạnh, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch virus Corona đang hoành hành, với câu pháp bất hủ “Tam giới duy tâm vạn pháp duy thức”. Tất cả mọi việc thiện hay ác đều bắt nguồn từ tâm của con người. Tuy nhiên, khi chúng sinh còn tranh hơn thua, nghiệp ác sẽ không ngừng sinh khởi, dẫn đến sự “Vô minh tận”.

Vậy theo kinh “Pháp diệt tận”, thế giới này có tận?

Từ Đại pháp nạn Covid-19 nghĩ về thời Mạt pháp 4

Mọi sự việc tốt đẹp hay xấu xa đều do tâm con người tạo nên. Nếu còn tranh chấp, nghiệp ác sẽ tiếp diễn.

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần áp dụng nguyên tắc “Tiên trách kỷ hậu trách nhân”. Chúng ta thường đổ lỗi cho thiên nhiên, sóng thần, động đất hay đại dịch Corona. Tuy nhiên, nhà văn Mạc Ngôn đã chỉ ra rằng, nguyên nhân sâu xa nằm ở sự phóng dật vô độ của con người.

Trong bài viết “Những ngày tháng tốt đẹp của nhân loại không còn nhiều nữa”, ông nhận định: “Xã hội nhân loại ồn ào náo nhiệt, đèn đỏ rượu xanh, xa hoa trụy lạc, nhìn vào thì thấy vô cùng phức tạp, nhưng suy nghĩ kỹ một chút, cũng chẳng qua chỉ là những người nghèo khổ theo đuổi vinh hoa, người giàu có truy cầu lợi lạc, cơ bản chỉ là một chuyện như vậy.” Điều này có thể liên quan đến việc con người khai thác cạn kiệt tài nguyên, dẫn đến thiên tai thảm họa như lời Phật đã dự ngôn.

Ông dẫn câu chuyện cổ về người vợ của ông lão đánh cá, từ mong muốn cái chậu mới dần trở nên tham lam vô độ, muốn mọi thứ cao sang hơn, cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ. Điều này giống như việc thổi bọt xà phòng quá lớn sẽ vỡ tan. Ông cũng phê phán sự phát triển khoa học không bền vững khi cho rằng: “Tôi cảm thấy nhân loại đang đứng trước nguy hiểm lớn nhất, chính là khoa học của nhân loại ngày càng tiên tiến thì dục vọng của con người ngày càng bành trướng.”

Mạc Ngôn còn nhấn mạnh về việc tiêu thụ quá mức, dựa trên lời Phật dạy “thiểu dục tri túc” (ít ham muốn, biết đủ). Ông cho rằng những người sở hữu quá nhiều quần áo, giày dép hay xe sang trọng đều có “tội”. Ông cũng ví von về tác động của khoa học đến sức khỏe con người: trước đây khi chưa có máy điều hòa, số người chết vì nóng ít hơn; trước khi có bóng đèn điện, số người cận thị ít hơn; trước khi có internet, số người trầm cảm và tự sát ít hơn.

Qua lời của Mạc Ngôn, một nhà văn đến từ nền văn hóa có bề dày lịch sử, chúng ta thấy được những vấn đề thời sự, kinh tế, xã hội và văn hóa. Điều này gợi nhớ đến Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (Vesak) đã từng thảo luận sâu về vấn đề “Tiêu thụ có trách nhiệm và phát triển bền vững”.

Có thể thấy, nếu đối chiếu với dự ngôn của Đức Phật về “tiêu thụ bền vững”, thì những hội nghị này là cơ hội để chúng ta hướng về Như Lai. Đặc biệt trong đại nạn virus Corona, câu pháp “Tam giới duy tâm vạn pháp duy thức” càng trở nên quan trọng. Câu “thiểu dục tri túc” nhắc nhở chúng ta rằng cội nguồn của mọi khổ đau là dục vọng và khát ái vô đáy, là nguyên nhân của tam độc (tham, sân, si). Đức Phật dạy rằng ít ham muốn, biết đủ sẽ không còn khổ đau. Vậy, thế nào là đủ? Theo giáo lý Phật giáo, để nhận biết sự đủ đầy, con người cần có chánh kiến, chánh tư duy để thấy được lẽ thật trong vô thường. “Thiểu dục tri túc” là một nguyên tắc đạo đức, một lối sống, đòi hỏi sự thực nghiệm sâu xa. Nó nhắc nhở chúng ta điều phục tâm, suy niệm bên trong, thay vì chạy theo hình thức bên ngoài. Sự thỏa mãn ham muốn chỉ là hạnh phúc tạm thời, chóng tàn và khó đạt được, bởi khi một ham muốn được thỏa mãn, ham muốn khác sẽ nảy sinh, dẫn đến sự bất mãn và vọng tưởng.

Thông thường, chúng ta coi biến đổi khí hậu và môi trường là vấn đề vật chất. Tuy nhiên, theo Phật pháp, “thiểu dục tri túc” thuộc phạm trù tinh thần đạo đức. Như trong Duy thức luận đã chỉ rõ: “Nguồn gốc của Phật pháp là tâm / Nguồn gốc của vũ trụ cũng là tâm”. Do đó, giáo dục Phật giáo bao trùm cả vũ trụ vạn vật, vì tất cả đều do tâm tạo nên. Khi chúng ta hiểu sâu sắc về dự ngôn và huyền ký của Đức Phật, với một trái tim trong sáng, mọi khó khăn sẽ được hóa giải. Chúng ta sẽ cùng nhau cầu nguyện cho đại nạn này sớm kết thúc.

(Viết trong những ngày Pháp nạn virus Corona -19)

Tài liệu tham khảo:

  • Đức Phật giảng về viễn cảnh thời Mạt pháp – Sư Minh Tâm- (VHPG – 27/3/2020)
  • Những ngày tháng tốt đẹp của nhân loại không còn nhiều nữa – Mạc Ngôn (VHPG 26/1/2019)
  • Kinh Tăng Nhất A-Hàm, kinh Lăng Nghiêm và một số kinh liên quan khác.

> Hãy đăng ký để xem video Phật giáo trên Youtube tại đây.

> Quý Phật tử cùng xem video: Theo Phật giáo, Nghiệp là gì?

Để hiểu rõ hơn về những lời dự ngôn của Đức Phật và mối liên hệ giữa giáo pháp và cuộc sống hiện đại, mời quý vị cùng khám phá thêm trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang