Dù giữa khung cảnh tráng lệ với yến tiệc và âm nhạc, vị thái tử vẫn không nguôi day dứt về sự vô thường của cuộc đời sau khi chứng kiến một đám tang. Chán chường trước những lạc thú chóng tàn, ngài suy tư về con đường thoát khỏi khổ đau, một trăn trở sâu sắc mà bạn có thể khám phá thêm tại Website Chia sẻ Đạo Phật.
THÚ VUI TAN BIẾN
Hoa viên cảnh sắc hữu tình, suối nguồn róc rách, cây cành lay động đón chào xe thái tử. Âm nhạc vang lên, đất trời như giăng hoa. Yến tiệc được bày biện, những điệu múa uyển chuyển, thân người thướt tha.
Thế nhưng, những cảnh tượng này không mang lại nụ cười cho thái tử. Tâm hồn chàng rối bời, suy tư về cảnh tượng đám tang người chết vừa đi ngang qua đường. Cuộc đời thật ngắn ngủi và vô thường, những thú vui tạm bợ này có ý nghĩa gì?
Quần thần xúm lại khuyên thái tử vui vẻ tận hưởng chốn này. Thái tử nghiêm trang đáp: “Cảnh đẹp này làm say đắm lòng người, lễ hội thật tuyệt vời. Ta cũng muốn hòa mình vào niềm vui chung. Nhưng ngẫm nghĩ cho cùng, vẻ đẹp này nào thoát khỏi vòng tàn phai, niềm vui nào có thể kéo dài? Vạn vật đều vô thường, sớm còn tối mất. Nếu chưa tìm được con đường giải thoát khỏi khổ đau, ta đâu thể vui gì. Dòng sông dục lạc kia khó lòng quyến rũ ta về bến mê!”
Thấy lòng thái tử u sầu, mọi người chuẩn bị đưa chàng trở về hoàng cung. Nhà vua nghe tin vô cùng buồn bã, canh khuya trằn trọc suy tư.
Ý NIỆM XUẤT GIA
Thời gian trôi đi, thái tử ngày càng chán chường với những thú vui. Chàng ăn uống không còn ngon miệng, xanh xao, gầy yếu, bất an.
Một ngày, chàng bày tỏ nỗi lòng bi quan với phụ thân và xin được đi du ngoạn ngoài thành, ngắm nhìn cảnh vật để khuây khỏa. Vua mừng rỡ, ngầm sai cận thần theo dõi. Chuyến đi này được chuẩn bị tưng bừng hơn.
Thôn trang cảnh lạ đón chờ, đồng quê khoáng đãng. Thái tử thong dong cưỡi ngựa, dừng lại bên đám nương xanh mướt, thả hồn ngắm cảnh. Chàng không màng đến chuyện các quan giỡn đùa.
Một mình dạo dưới nắng trưa, thái tử nhìn dân cày ruộng. Bỗng, chàng ngỡ ngàng khi thấy một người ăn mặc nghèo nàn, áo quần vá víu, nhưng gương mặt lại trong sáng, hiền từ, tay ôm bình bát đang đi. Người ấy tóc râu cạo sạch, dáng vẻ uy nghi, nhu mì, khoan thai.
Thái tử hỏi: “Người là ai?”
Đạo sĩ dừng lại, ung dung đáp: “Ta lang thang khắp núi rừng, xuất gia tìm đạo, không vướng bận gia đình. Một lòng quyết chí tu hành, đi tìm chân lý, hy sinh thân mình mong ngày cứu độ chúng sinh, thoát khỏi cảnh u minh đau khổ. Cuộc đời giả tạm vô thường, tiền tài, danh vọng nào mang theo được khi lìa dương gian. Hãy tránh xa tội lỗi, dục vọng, ái tình để thoát vòng khổ não, ‘sinh, lão, bệnh, tử’. Ta tìm đường giúp đời tới bờ giải thoát.”
Nói rồi, đạo sĩ biến mất như một phép lạ. Tâm hồn thái tử bỗng thăng hoa. Chàng nghĩ: “Ta đã tìm ra con đường. Phải rời điện ngọc cung vàng, xuất gia tìm đạo giúp chúng sinh!”
Với tâm dũng mãnh, ý chí kiên trinh, thái tử quay về hoàng cung tâu vua.
Trong lúc chờ đợi, tin mừng về sự ra đời của công chúa con đầu lòng đến. Nghe tin, thái tử thẫn thờ: “Lại thêm trở ngại cho ta! Thêm một sợi dây ràng buộc!” Chàng vội tìm cách thoát khỏi nơi này. “Dây ràng buộc” – cái tên này gợi ý cho tên của hài nhi, La Hầu La. Triều đình vui mừng, vua cha cũng đẹp lòng, tin rằng kế hoạch đã giữ chân thái tử trong “lồng vàng”.
NỖI LO CỦA NHÀ VUA
Quyết tâm tìm ánh đạo vinh quang, một ngày thái tử nghiêm trang tâu trình vua cha: “Kính thưa cha, con luôn ước nguyện được xuất gia, trở thành du sĩ không nhà để tìm con đường chấm dứt khổ đau.”
Vua nghe lời thỉnh cầu, điều mà vua lo sợ từ lâu. Ngài nghẹn ngào đáp: “Con còn nhỏ, chớ rời xa. Ở đây cai trị nước nhà, về già hãy tính chuyện xuất gia.”
Thái tử thưa: “Con sẽ ra đi, trừ khi cha giúp con thoát khỏi vòng đau khổ, già yếu, bệnh tật và chết chóc.”
Vua giận dữ hét lên: “Con sao suy nghĩ thật cuồng điên!”
Quyết lòng, thái tử đáp: “Cha lưu con mãi cạnh bên làm gì? Thân con tù tội khác chi. Xin cho con được ra đi lúc này!”
Phiền muộn, bực bội, nhà vua truyền lệnh: “Hãy vây hoàng thành, mang quân canh gác chung quanh, đừng cho thái tử bỏ thành ra đi!”
VƯỢT THÀNH TÌM CHÂN LÝ
Rời cung vua, lòng thái tử say mê một điều: xuất gia tìm đạo. Cung điện dù lộng lẫy, xinh tươi cũng không còn quyến rũ được người đã quyết tâm.
Một đêm, sau bữa tiệc tàn, dường như có phép lạ. Đoàn ca múa, toán gác canh đều thiếp đi. Công chúa Da Du Đà La ôm con ngủ say. Thái tử nhìn vợ, ngắm con, trong lòng vọng lời: “Dù thương cha mẹ, dù yêu vợ đẹp, con ngoan, nhưng ta quyết bỏ hoàng cung, xuất gia tìm hạnh phúc chung cho người, tìm phương giải thoát muôn loài. Cuộc đời vương giả có gì đáng luyến tiếc!”
Muốn ôm con lần cuối nhưng sợ con thức giấc, chàng nhè nhẹ bước đi, đến bên cửa sổ trèo ra ngoài. Lần theo mái ngói, chàng leo xuống đất, về nơi cuối vườn. Chàng tìm Xa Nặc, nói thân thương: “Đêm nay ta muốn lên đường đi xa. Ngựa đâu chuẩn bị cho ta!”
Xa Nặc ngạc nhiên khi bị đánh thức giữa đêm, nhưng vẫn thi hành lệnh. Thái tử xoa đầu ngựa Kiền Trắc, tâm tình: “Này Kiền Trắc, chúng mình đi thôi. Lặng im kẻo đánh thức người, hãy đưa ta thoát khỏi nơi này. Ca Tỳ La Vệ đẹp thay, nhưng xin đừng giữ ta lại. Đêm nay ta đi!”
Ngựa dường như thấu hiểu, im lìm theo Xa Nặc, dựa màn đêm đưa đường thái tử vượt thành.
Phóng hồi lâu dưới trăng thanh, người đi nhìn lại kinh thành xa xa, nguyện thầm: “Đến lúc tìm ra con đường diệt khổ thì ta mới về!”
Ngựa phi suốt đêm khuya. Khi trời hừng sáng, đến bìa rừng, nơi ẩn tu đạo sĩ. Tháng Hai, mồng Tám, tuổi hai mươi chín, lòng đầy say mê. Thái tử cảm khái: “Chuyến đi tìm đạo từ đây bắt đầu. Này Xa Nặc, đừng buồn rầu, hãy mang Kiền Trắc trở về!”
Xa Nặc ứa lệ. Thái tử cảm thông, nói: “Cám ơn Xa Nặc trung thành. Một khi ta đã xuất gia, trang sức xa hoa không cần nữa. Hãy mang về hoàng cung, quỳ thưa phụ vương rằng ta đi không giận hờn, xuất gia không phải không thương gia đình. Chính vì yêu mến chân thành, ta đi tầm đạo và đành tạm xa. Con đường giải thoát tìm ra, khổ đau chấm dứt thì ta mới về. Dù thất bại, sá gì, trước sau cũng chết, cũng lìa vua cha, cũng lìa cung điện xa hoa. Thần chết có tha ai nào!”
Chàng cầm gươm, rút khỏi bao, cắt ngang mớ tóc rồi trao cho Xa Nặc mang về. Xa Nặc não nề, ngoái nhìn thái tử tái tê cõi lòng. Ngựa buồn chậm bước về cung, báo tin thái tử vào rừng ẩn tu, giã từ nhung lụa, giã từ hoàng gia.
CUỘC TÌM ĐẠO BẮT ĐẦU
Nhạc rừng tấu khúc hoan ca đón Sa Môn Tất Đạt Đa. Áo quần sang trọng trên mình khó coi với kẻ tu hành. Chàng gặp tay săn thú, đề nghị đổi trao. Quần thô, áo vải mặc vào, trang phục đơn sơ, tâm hồn thanh cao.
Trèo đèo, lội suối, băng nguồn, tìm thầy học đạo. Mọi người tiếp đãi ân cần, thầm nghĩ: “Vĩ nhân khác người, vẻ cương quyết, mặt sáng ngời, chắc mau chứng đạo giúp đời.”
Sa Môn trong những ngày đầu gặp thầy, học đạo nhưng chưa thỏa lòng. Chàng nghĩ mình cần đi xa hơn. Nghe vương quốc Ma Kiệt Đà có thầy truyền đạo giỏi giang, chàng vội vã tìm sang thành Vương Xá. Kinh đô cung điện đẹp thay. Các quan nhìn thấy báo ngay về triều: “Có nhà đạo sĩ nghèo, nhưng vẻ cao siêu, thánh hiền. Mặt cương nghị, dáng oai nghiêm, ánh vàng kỳ diệu tỏa trên thân người!”
Vua nghe vội vã triệu mời, đàm luận việc đời. Vua Tần Bà Sa La mến thương, khâm phục, nói: “Trẫm càng tiếp xúc lại càng quý thay. Xin ngài ở lại giúp ta cai trị nước này.”
Chàng từ chối: “Đại vương thông cảm cho người đi tu. Tôi từng từ bỏ ngôi vua, du hành mong gặp minh sư.”
Vua cung kính chắp tay: “Lên đường xin chúc ngài may mắn. Tìm ra chân lý, vui lòng trở lại giúp người.”
SÁU NĂM CHIẾN ĐẤU
Hành trình tiến bước ung dung đưa chân chàng đến khu rừng đẹp. Nhiều người tụ tập nơi đây, chàng vui học đạo với thầy A La La và Uất Đầu Lam Phất. Một thời gian ngắn, chàng thông hiểu hết lời đạo sư. Chưa thỏa nguyện, chàng nhủ lòng: “Ta phải tự tu một mình, tìm chân lý quang vinh!” Chàng tiếp tục hành trình xa hơn.
Vượt dòng sông Ni Liên Thuyền, vào khu rừng rậm, chàng gặp năm nhà khổ tu – năm anh em Kiều Trần Như. Họ tu theo phương pháp giày vò xác thân, cho rằng càng nuông thân xác càng gần khổ đau. Chàng nghe hợp lý, theo liền, thực hành khổ hạnh triền miên. Chân đau, lưng mỏi, thân tê, mùa đông lạnh buốt, mùa hè nóng thiêu. Ngồi yên một chỗ, ít ăn, ít ngủ, thân tiều tụy. Thức suốt đêm ngày, người đầy bụi bẩn, thân gầy trơ xương.
Sáu năm trường, nhớ ngày quyết chí tìm đạo. Hai mươi chín tuổi xuất gia, sáu năm khổ hạnh. Ba mươi lăm tuổi vẫn chưa giải thoát.
Trước kia ở hoàng thành, ngục tù lạc thú vây quanh. Sai lầm phung phí cuộc đời. Đến khi lặn lội tìm nơi tu hành, hang sâu, núi thẳm, rừng xanh, khổ tu hành hạ thân mình đớn đau. Nào ngờ kết quả gì đâu. Cả hai nếp sống trước sau sai lầm.
Mục tiêu chân lý muốn gần, con đường “trung đạo” ta cần theo ngay. Uống ăn giữ sức, thân kia sạch sẽ, tâm này tịnh thanh. Lắng sâu thiền định, nhận chân sự vật. Sa Môn lê bước nhẹ nhàng, tìm sông tắm, sóng vàng reo vui. Trần gian bụi bặm sạch rồi, thân gầy sức yếu nghỉ ngơi ven bờ.
CÚNG DƯỜNG
Có gia đình nọ chăn bò cạnh khu rừng già. Vợ tên Tu Già Đa, con trai khỏe mạnh. Nàng mang sữa vào rừng tạ ơn thần linh. Nàng thấy Sa Môn Tất Đạt Đa ngồi dưới gốc cây, gương mặt sáng tươi. Ngạc nhiên, nàng nghĩ: “Chắc ngài ngồi đây, thần linh ngự trị!” Nàng dâng cúng sữa.
Sa Môn mở mắt, lòng vui, từ từ uống sữa, mỉm cười tạ ơn. Sữa làm sức khỏe khá hơn. Sa Môn khẽ nói: “Cúng dường quý thay. Thân ta khỏe mạnh lại ngay. Chẳng là thần thánh, ta đây là người, đi tìm chân lý cao vời, tìm đường diệt khổ, giúp đời thăng hoa!”
Thấy Sa Môn tắm sông, ăn uống như bỏ tu, năm anh em Kiều Trần Như bàn nhau rời rừng, đến Ba La Nại, vào vườn Lộc Uyển khổ tu. Sa Môn ở lại rừng xưa, quyết theo đường đạo mình vừa mở ra.
CUỘC CHIẾN ĐẤU VĨ ĐẠI
Vượt sông hướng tới nẻo xa, tìm nơi thiền định. Gặp người gánh cỏ, Sa Môn xin cỏ lót ngồi thiền. Gốc cây bóng rợp, Bồ Đề vươn nhánh đón chào.
Phút giây trọng đại. Đồng hoang yên tĩnh, trời cao trong lành. Trợ duyên cho kẻ tu hành. Kiết già ngồi gốc cây xanh, mặt quay nhìn hướng Đông, hai bàn tay đặt trên lòng bàn chân. Phát lời thệ nguyện: “Cho dù phải bỏ xác thân, quyết không rời khỏi nơi đây nếu không đắc đạo!”
Chư thiên rộn rã mừng vui. Rằm tháng Tư đẹp tuyệt vời. Thời xưa truyền thuyết cho hay, nhiều thế lực mang đầy xấu xa thường quấy nhiễu: “Tham lam, sân hận, mê mờ, ngu si, ganh tỵ, hồ nghi” và bao tội lỗi chuyên đi kết bè, gieo độc hại, gây phiền não, bất an – gọi chung là Ma Vương.
Ma Vương phẫn nộ tìm đường cản ngăn, tạo ra trận bão kinh hồn. Cuồng phong tàn phá, nhưng cảnh vật dưới cây Bồ Đề yên ổn. Yêu ma, quỷ sứ dùng tên độc bắn đi, nhưng tên bay đến người tu thành sen muôn cánh rơi xuống. Quỷ ma đổi cách, biến thành gái đẹp lả lơi gợi tình. Sa Môn thiền định uy nghi, quỷ yêu tội lỗi nào chuyển lay.
Ma Vương thất bại, âm mưu cuối cùng. Một mình xuất hiện, chế giễu, khuyên can: “Này thái tử vĩ nhân, tưởng mình tuyệt luân hơn người. Mất hai mươi chín năm trời hưởng lạc, sáu năm hành hạ xác mình. Giờ đây thiền định ngu si, đạo vàng khó đạt. Ai là nhân chứng cho ông?”
Sa Môn tay phải đưa ra mặt đất, chấm liền: “Chứng nhân là thế gian này!” Bao nhiêu kiếp ngài thay dạng người, khi nam, khi nữ, nghèo khó, giàu sang, khoan dung, nhẫn nhục, yêu thương, tìm đường cứu khổ chúng sinh.
Ma Vương phá hoại bất thành, như cơn ác mộng tan biến. Sa Môn một bóng thảnh thơi, mây mù quét sạch, bầu trời sáng trăng. Hương thơm ngan ngát, cõi trần cảnh vật sẵn sàng thăng hoa.
THỨC TỈNH
Giờ Sa Môn Tất Đạt Đa tập trung thiền định thâm sâu. Sáng bừng trí tuệ, nhận ra quá khứ, tương lai kiếp người. Khi đời này chấm dứt, đời sống khác tiếp theo. Chết là thân xác hủy tiêu, rồi tìm thân mới tái sinh. Ngài hay mọi việc tạo thành, mọi nhân hiện tại gieo trồng sẽ gây hậu quả. Sướng hay khổ liền trong nhiều đời.
Ngài hay tất cả kiếp người tương quan mật thiết cùng nhau. Tâm bừng chân lý thâm sâu, thấu nhìn muôn vật nhiệm màu: mặt trời, sao, hành tinh, ngân hà vũ trụ. Nhận ra mọi thứ kết liên, kết từ hạt bụi. Luôn luôn mọi vật đổi dời: sinh rồi diệt, diệt rồi sinh, thành rồi hoại, hoại rồi thành. Việc gì cũng có nguyên nhân.
Ngài nhận ra khắp dương trần dâng đầy phiền não, khổ đau vì ham lạc thú. Cội nguồn đau khổ ai tỏ tường. Rõ đâu vạn vật vô thường, cho nên mù quáng hại nhau để thỏa mãn dục vọng. Tiếc thay danh, lợi kiếm ra chẳng mang hạnh phúc. Mất còn, còn mất triền miên. Cớ sao tranh chấp? Hận thù, oán ghét chẳng gieo an lạc.
Đây là chân lý nhiệm mầu, con đường chấm dứt khổ đau. Nếu ai ngộ được, ngừng dục vọng, dứt oán hờn, muôn lòng chan chứa tình thương, bình an, hạnh phúc.
Khi Sa Môn Tất Đạt Đa suốt thông mọi lẽ, vui thay. Vô minh tăm tối tan ngay, khắp châu thân tỏa hào quang. Chẳng còn là kẻ bình thường, mục tiêu giác ngộ đạt thành. Ngài thành Phật của chúng sinh, nụ cười thanh tịnh, thân hình an nhiên.
Phật thành đạo. Ngài xả thiền. Bình minh ngời sáng, thiên nhiên rực hồng. Vừng dương ló dạng phương Đông, ánh dương chói lọi. Đón chào Đức Phật Thích Ca. Núi đồi ngan ngát hương hoa. Vạn vật vui mừng, nhạc trời réo rắt, chim rừng líu lo. Mây giăng rực rỡ, cầu vồng ngũ sắc. Cảnh quan kỳ diệu, mọi người ngạc nhiên.
CHỌN NGƯỜI DẠY ĐẠO
Nguồn vui dào dạt vô biên, u minh dứt hết. Phật ngồi dưới gốc Bồ Đề, suy tư về niềm vui, hạnh phúc vừa đạt được. Phật nghĩ xót xa, chúng sinh tăm tối khó tu. Chi bằng ẩn cư hưởng an lạc riêng.
Bỗng trong tâm vọng âm thanh: “Thế gian đau khổ, ngài đành quên sao? Chúng con ao ước, xin ngài chỉ dạy đạo mầu!”
Phật tự nghĩ: “Đường tìm chân lý vô cùng chông gai. Kiên trì, tinh tấn cần nhiều nghị lực, mấy ai theo cùng!”
Trong tâm vọng tiếng: “Chúng con chịu cảnh mịt mùng, nhưng không quá đỗi mê lầm, nhiều người có thể học chân lý này!”
Phật do dự ít phút, chợt hình ảnh trước đây hiện về: Đám hoa sen ở đầm kia, nhiều cây ngập nước khó trồi lên, nhưng nhiều cây vượt lên, nở sáng ngời. Ngoài ra, một số vật vờ mặt nước. Chúng sinh nào khác gì. Nhiều người bể khổ chìm đắm, khó bề cứu vớt. Nhiều người tiến bộ nhanh, bến bờ giải thoát. Như sen nở dưới mặt trời. Ưu tiên truyền đạo, khai tâm những kẻ loay hoay tìm đường.
Mỉm cười Phật nói: “Lành thay! Dĩ nhiên ta sẽ chỉ bày thế nhân đường diệt khổ, bước tu thân. Ta nay thành đạo, quyết tâm giúp người. Nhưng người phải nhớ, tự mình cố gắng giúp nơi chính mình. Phật nào cứu được chúng sinh, chúng sinh phải tự cứu mình trước thôi. Chịu nghe giáo pháp cao vời trước khi trông cậy vào Phật Đà. Ai tìm đến với ta, nhiệt tình học hỏi, tu hành, tinh thần rộng mở, tâm thành, ta vui chỉ dạy.”
Phật thầm nghĩ nên đi giáo hóa ai mau thấm nhuần. Nghĩ về hai thầy A La La, Uất Đầu Lam Phất. Giờ đây họ đã qua đời. Phật nghĩ đến năm người khổ tu – năm anh em Kiều Trần Như – cùng tu ép xác lúc xưa với ngài. Giờ đây họ đang ở Vườn Nai. “Ta tìm dạy họ đầu tiên!” Phật đi đến đó để truyền đạo.
LỜI DẠY ĐẦU TIÊN
Phật đi chậm rãi nhiều ngày, qua làng, qua trại. Dáng ngài trang nghiêm, tướng cao lớn, vẻ dịu hiền, gây an lạc khắp thôn trang. Dù nghèo hèn hay giàu sang, Phật đều quý trọng ngang hàng. Tình thương bình đẳng tưới khắp.
Vườn Nai rực rỡ ánh hồng đón chào Phật. Năm đạo sĩ bảo nhau: “Chẳng nên đón tiếp ân cần. Sa Môn này đã bỏ tu khổ hạnh.” Nhưng khi Phật tới gần, nhận ra tướng mạo oai nghiêm, họ tự động đứng lên đón chào cung kính: “Hoan nghênh bạn Tất Đạt Đa! Giờ đây trở lại thật tốt thay! Mình cùng tu học nơi này, cùng tu khổ hạnh như xưa!”
Phật cảm tạ, nghiêm trang nói: “Các người hiểu ta. Hiện nay ta đã khác xa, không còn là Tất Đạt Đa nữa rồi. Danh xưng đó chẳng hợp thời!”
Năm người hỏi: “Gọi ngài là chi?”
Phật giảng: “Hãy nhìn kia, chúng sinh trần thế u mê ngủ vùi. Vô minh che phủ khắp nơi. Nay ta thức tỉnh giữa đời tối tăm, tìm ra chân lý muôn năm. Những người giác ngộ gọi bằng Phật thôi!”
Với lòng thành kính, cả năm đạo sĩ thốt lời cầu xin: “Kính mong Đức Phật tôn nghiêm, đưa đường chỉ lối về miền thanh cao. Xin ngài truyền dạy đạo mầu cho đời giác ngộ mau!”
TỨ DIỆU ĐẾ
Nhận lời xin, Phật hoan hỷ thuyết pháp bài đầu tiên: “Chuyển Pháp Luân”. Ngài giảng: “Pháp là chân lý cao xa. Ngẫm ra ở đời, bốn điều chân lý tuyệt vời là ‘Tứ Diệu Đế’ chớ quên. Bốn điều cao cả vô biên đưa ta thoát khỏi miền u mê:
* **Khổ Đế:** Đây là chân lý nói về khổ đau. Cuộc đời bất hạnh, ‘sinh, lão, bệnh, tử’ xoay vần. Người theo lạc thú đuổi săn, cuối cùng còn lại vết hằn đau thương. Dù thỏa mãn, cuối cùng chán chường trống không, khó cầu hạnh phúc, an bình.
* **Tập Đế:** Nguyên nhân khổ đau. Khi ta chất chứa tâm này, chứa nhiều dục vọng, tham lam. Khổ đau kéo đến dễ dàng. Lòng tham ái đó khiến khổ đời, gây phiền não.
* **Diệt Đế:** Tìm đường diệt hết khổ đau tận nguồn. Khi ta gột sạch tâm, diệt trừ dục vọng, tham lam, khổ đau chấm dứt. An bình, hạnh phúc vô cùng.
* **Đạo Đế:** Con đường giúp ta rũ sạch khổ đau. Con đường ‘Trung Đạo’ ở giữa hai cực đoan: hưởng lạc thế gian và khổ hạnh ép xác.”
BÁT CHÁNH ĐẠO
Đường “Trung Đạo” đẹp vô ngần, con đường tám nhánh tịnh thanh. Theo “Bát Chánh Đạo” nhiệt thành, đạt Giác Ngộ, nhập Niết Bàn.
Bát Chánh Đạo, tám nẻo đường: “Nhận chân sự vật đàng hoàng, nghĩ suy chín chắn, nói năng chân tình, luôn luôn làm chuyện quang minh, gian tham, trộm cắp, sát sinh tránh đường, không theo nghề nghiệp bất lương, siêng năng tinh tấn, giữ đầu óc tinh anh, tập trung tư tưởng vững bền.”
Theo “Bát Chánh Đạo”, hưởng nguồn hạnh phúc, dứt đời khổ đau!
Sau khi nghe giảng, cả năm đạo sĩ vui mừng, nhận ra chân lý, xin làm đệ tử. Năm người đệ tử đầu tiên quyết theo lối đạo, thỉnh cầu Phật dẫn đường tới bờ thơm hương.
ĐẠO VÀNG SÁNG TỎ
Kể từ đó, Đạo Vàng theo chân Phật độ sinh. Địa cầu như rạng bình minh. Phật đi thuyết pháp nhiệt tình khắp nơi. Khéo tìm cách, khéo lựa lời, giúp bầy con trẻ, giúp người bình dân. Với người có kiến thức cao, Phật phân tích kỹ càng. Có người Phật dạy lặng thinh, nêu gương sống đời thanh cao.
Phật luôn rộng lượng, sáng ngời đạo đức, dạt dào từ bi. Dạy người điên loạn, ngu si, Phật kiên nhẫn hướng về chúng sinh. Dần dà hương đạo lan nhanh, nhiều đệ tử xin theo. Thiện nam, tín nữ ngợi ca Đạo Pháp, kính yêu Phật Đà. Dù tại gia hay xuất gia, mọi người đủ hạng tu hành, không phân đẳng cấp. Như lời Phật dạy: “Sông thành biển khơi, khi tuôn vào biển tức thời hòa nhau, cùng chung vị mặn, cùng tên biển cả.”
NHỮNG LỜI TÁN DƯƠNG
Một hôm có kẻ tán dương: “Thế Tôn vĩ đại, phi thường!” Phật dạy: “Đời này chớ phí sức ngợi khen. Đừng vì kính trọng mà tin. Hãy do chính bản thân mình mang lời ta dạy thực hành thử xem. Thấy rằng đúng hãy nên tin!”
Phật còn khiêm tốn: “Phật Pháp như bè qua sông, như ngón tay chỉ mặt trăng. Đã là bè tất có nhiều, thuyền bè đủ loại cùng chèo qua sông. Đã là ngón chỉ mặt trăng, tất nhiên nhiều ngón tay cùng chỉ lên. Đi tìm chân lý, nhiều đường, lắm nẻo.” Rồi ngài thêm: “Hỡi chúng sinh, còn nhiều vị đáng tôn vinh. Đừng chê bai các vị này, hãy lo nhiệm vụ tu ngay thân mình!”
THUYẾT PHÁP TẠI TRÚC LÂM
Thời gian trôi nhanh. Một ngày, Phật nhớ tình vua Tần Bà Sa La. Phật trở lại thăm vua tại thành Vương Xá. Dẫn theo đệ tử, an cư trên đồi, ngày ngày thuyết pháp giúp đời. Vua và dân được nghe lời gấm hoa. Bà con nô nức quy y Phật. Vua cùng dân chúng cúng dường Phật một nơi tốt lành: Trúc Lâm vườn rộng cây xanh, làm nơi thuyết pháp. Bà con nghe pháp vui mừng, oai danh Phật lan xa.
ĐỀ BÀ ĐẠT ĐA
Em trai Đề Bà Đạt Đa nghe danh Phật tỏ ra ganh ngầm. Tìm kẻ xấu kết thân, âm mưu hại Phật. Một lần tại mỏm núi, Phật đang thiền định, tảng đá lăn xuống, may thay vỡ đôi. Một lần, Phật đi ngang thành Vương Xá. Bọn gian mua voi, cho uống rượu, rồi thả voi say trên đường làng. Mong voi dẫm chết đoàn thầy tu.
Mọi người chạy trốn. Phật không hoảng sợ, lòng từ phô ra. Tình thương sức mạnh thăng hoa. Voi say cảm nhận tâm hiền, hết hung hăng, quỳ bên chân Phật. Phật dạy: “Thù không diệt được hận thù, nhưng tiêu tan với tâm từ bao la!”
Về sau, Đề Bà Đạt Đa gặp tai ương, trước khi chết ăn năn, hối lỗi. Nhưng nghiệp ác từ lâu, đọa vào địa ngục. Gieo nhân ác, ác hại mình.
TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG
Một ngày, Phật lên đường về thăm quê hương Ca Tỳ La Vệ. Nghe tin, vua cha chuẩn bị đón rước linh đình. Vua cha Tịnh Phạn tự hào: “Thật là vinh dự lớn lao!” Vua sai người phóng ngựa dò la. Cận thần báo: “Phật và đệ tử sáng ôm bình bát xin ăn!”
Vua tức giận: “Con nhà vương giả thành ăn xin, thật nhục nhã!” Vua dẫn đầu đoàn tùy tùng đến nơi con ở. Thấy con, vua hỏi: “Con nghèo đến phải hạ mình xin ăn?”
Phật thưa: “Chẳng phải khó khăn. Đó là tục lệ con cần theo. Cha dòng vua chúa xưa nay vậy rồi. Riêng con tu để giúp đời, nay theo dòng dõi Phật thời trước đây, hạ mình khất thực hàng ngày.”
Phật nắm tay cha, vừa đi vừa nói, giảng vua nghe đạo nhiệm mầu, con đường chấm dứt khổ đau. Vua khen: “Con quả tiến xa lạ lùng! Xứng danh giáo chủ vô cùng!” Vua đảnh lễ, xin làm đệ tử.
Thời gian Phật ngụ tại đây, vợ con là Da Du Đà La và La Hầu La thỉnh cầu quy y. Phật thâu nhận liền. Bà dì kế mẫu, nhiều người họ Thích Ca cũng làm đệ tử.
TRƯỞNG GIẢ CẤP CÔ ĐỘC
Thăm quê ít ngày, Phật tiếp tục truyền đạo đến thành Xá Vệ. Trưởng giả Cấp Cô Độc ngưỡng mộ Phật Đà, dùng vàng bạc mua vườn, xây cất tịnh xá khang trang. Nơi đây Phật giảng nhiều kinh, về “bố thí”:
* Cúng dường Phật và Tăng chúng lớn công đức, không bằng quy y.
* Quy y Phật, Pháp, Tăng lớn công đức, khó bì bản thân giữ gìn năm giới.
* Hay hơn nữa là tâm từ quán tưởng.
* Công đức chúng sinh hàng đầu là phát triển trí tuệ, nhận ra sự vật vô thường.
VUA TỊNH PHẠN QUA ĐỜI
Sau khi thuyết pháp ít lâu, tin vua đau nặng báo về. Phật vội trở lại quê thăm vua lần cuối. Thấy cha buồn bã, Phật thuyết pháp ôn tồn. Vua nghe trút hết não phiền, vui tươi niệm Phật và qua đời.
TỲ KHEO NI
Khi vua Tịnh Phạn mất, nhiều phụ nữ xin xuất gia. Da Du Đà La, bà kế mẫu thỉnh cầu làm Tỳ Kheo Ni. Phật đòi phái nữ thực thi tám điều “giới luật” giữa nam và nữ Tỳ Kheo. Sau đó, Phật lên đường thuyết pháp khắp nơi.
BỐN MƯƠI LĂM NĂM THUYẾT PHÁP
Kể từ khi thành đạo, ba mươi lăm tuổi, Phật du hành khắp nơi, giáo hóa chúng sinh. Nêu gương bằng chính bản thân, rạng ngời Trí Tuệ, sáng ngời Từ Bi. Quanh năm, suốt tháng, đạo vàng gieo rắc khắp miền. Riêng mùa mưa, ba tháng, Phật cùng đệ tử an cư trong chùa, giảng đạo. Bà con Phật tử kéo về nghe Pháp, cúng dường Phật, Tăng. Giọng ngài oai lực như sư tử rống.
NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG
Một ngày, Phật dạy A Nan: “Ta nay tám mươi tuổi, ta làm xong mọi việc rồi. Giúp người trí tuệ, giúp đời từ bi. Lúc này ta sẵn sàng đi, chờ giờ viên tịch.” Hãy nghe kỹ! Đạo ta viên mãn. Bốn hàng đệ tử đủ rồi. Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di thay ta truyền bá đạo lành. ‘Bánh Xe Pháp’ chuyển nhanh giúp đời. Thân ta yếu rồi, mượn nó chở Pháp đi xa. Nay xe mòn rã, vô thường. Giờ ta muốn trở về thăm Ca Tỳ La Vệ lần cuối, rồi viên tịch nơi này.
A Nan ngấn lệ: “Xin ngài đừng bỏ chúng con!” Phật an ủi: “Khóc làm chi! Chết là tất yếu. Ở đời sống chết liền nhau, vô thường sự vật, chớ quên lời! Khắc ghi giáo pháp, y lời ta dạy thực hành, thay ta lời đó trở thành đạo sư. Đưa đường chỉ lối qua bờ giác ngộ. Tự mình giải thoát! Đừng chờ giải thoát từ người!”
Phật cùng đệ tử thân thương đi về hướng Bắc. Dừng chân ở Câu Thi Na, một làng nhỏ. Phật ngồi, đệ tử vây quanh. Phật quay qua nói A Nan: “Đây nơi nhập diệt ta đang đợi chờ!”
ĐỆ TỬ CUỐI CÙNG
Chợt có ông già tên Tu Bạt Đà La đến xin gặp Phật. Phật đồng ý tiếp. Ông già thắc mắc, ưu tư về tu hành. Phật giảng dạy chân tình. Nghe xong, ông lão an vui. Dù là ngày cuối đời, Phật vẫn cứu độ người trầm luân. Ông già sung sướng, xin quy y, xin xuất gia. Phật đặc cách nhận là vị Tăng. Đất trời rực rỡ, mừng người đệ tử vẻ vang cuối cùng.
NHỮNG LỜI DẠY CUỐI CÙNG
Phật tiến ung dung vào vườn, nằm võng dưới hai thân cây Sa La. Muôn hoa trắng xóa nở đón ngài. Đệ tử vây quanh, sụt sùi khóc lóc. Phật bèn nói giọng êm đềm, những lời dạy cuối: “Các con hãy nhớ kỹ càng những lời ta dạy. Chính dục vọng, lòng tham là nguyên nhân mang lại đau thương. Cuộc đời biến đổi vô thường, chớ nên tham đắm. Tu hành nỗ lực, thân tâm thanh lọc, để mau giải thoát, đạt hạnh phúc trường tồn!”
Phật ngừng, rồi dạy: “Tự mình thắp đuốc tìm đường mà đi. Pháp ta truyền dạy, hãy dùng làm đuốc xa lìa bến mê. Bến bờ giác ngộ tìm về, tự mình giải thoát! Chớ hề cậy trông!”
PHẬT NHẬP NIẾT BÀN
Dặn dò xong, Phật khoan thai nghiêng về bên phải, đầu đặt sát lên tay phải. Mắt đầy từ bi, êm đềm khép lại. An nhiên viên tịch, xa lìa trần gian.
Hoa Sa La rụng, phủ lên thơm ngát. Tháng Tư âm lịch, ngày Rằm. Trời cao soi tỏ. Kim thân Đức Phật Thích Ca, mọi người tẩm liệm tôn nghiêm. Bảy ngày sau, chuyển lên chùa lớn để “trà tỳ”. Lễ hỏa thiêu Đấng Từ Bi. Lửa châm nhưng chẳng cháy ngay, chờ đệ tử lớn về dự lễ. Lễ xong, lửa bừng cháy. Xương tro sót lại, những viên xá lợi phơi bày quý thay.
PHÂN CHIA XÁ LỢI ĐỂ THỜ
Quốc vương tám nước quanh đây muốn mang xá lợi về thờ, sẵn sàng gây chiến. Một hiền nhân khuyên giải: “Phật luôn dạy chớ thù hận, hãy thương yêu. Nay ta gây hấn chẳng theo lời vàng. Hãy ngừng tranh chấp, phân chia xá lợi đều nhau, thỉnh về xây tháp tôn thờ.”
GIÁO PHÁP VẪN CÒN TỒN TẠI
Phật Thích Ca đã qua đời, hơn hai ngàn sáu trăm năm. Nhưng lời Phật dạy vẫn nằm trong tim. Giáo pháp dạt dào trí tuệ, chan hòa tình thương, vượt thời gian, biên cương, ngàn đời tiếp nối. Ai giữ vững lòng tin, muốn theo ánh đạo, muốn trừ nỗi “Khổ”, hãy mau thực hiện lời Phật ban. Hận thù, ích kỷ, tham lam, tận diệt dễ dàng. Nương theo giáo lý từ bi, tới bờ giải thoát. Sáng soi trí tuệ, thân tâm an lạc. Theo đường Phật chỉ dạy, chúng sinh thành Phật, thăng hoa kiếp người, nhập hàng Giác Ngộ.
Lời Đức Phật Thích Ca tóm trong bài kệ:
“Chớ làm điều ác bao giờ,
Làm điều lành tốt người chờ, người mong.
Giữ tâm, giữ ý sạch trong,
Là lời Phật dạy ghi lòng chớ quên!”
**Tâm Minh – Ngô Tằng Giao**
Trích trong truyện thơ **Cuộc đời đức Phật Thích Ca**
***
**PHỤ CHÚ**
1. Đại Hội Phật Giáo Thế Giới (Tokyo, 1952) thống nhất: Đức Phật Thích Ca đản sinh năm 624 TCN, nhập niết bàn năm 544 TCN. Phật lịch tính từ năm nhập niết bàn.
2. Phật Giáo Bắc Tông: Thái tử Tất Đạt Đa đản sinh ngày mồng 8-4, xuất gia đêm mồng 8-2, thành đạo ngày 8-12, nhập niết bàn ngày 15-2 âm lịch. Xuất gia năm 19 tuổi, 5 năm học đạo, 6 năm khổ hạnh, 49 ngày thiền định, thành đạo năm 30 tuổi. Thuyết pháp 49 năm. 80 tuổi nhập niết bàn.
3. Phật Giáo Nam Tông: Lấy ngày Rằm tháng Tư kỷ niệm ba đại lễ: Đản Sinh, Thành Đạo, Nhập Niết Bàn. Xuất gia năm 29 tuổi, thành đạo năm 35 tuổi. Thuyết pháp 45 năm.
**TÀI LIỆU THAM KHẢO**
1) The Story Of Buddha, Jonathan Landaw
2) Lược Truyện đức Phật Thích Ca, Jonathan Landaw (dịch giả Thích Chân Tính)
3) Cuộc Đời đức Phật, Jonathan Landaw (dịch giả Thích Trí Chơn)
4) Lịch Sử Đức Phật Thích Ca, Thích Minh Châu
5) Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Thích Thiện Hoa (Trích Phật Học Phổ Thông)
6) Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Gia Tuệ
7) Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Thích Đức Nhuận
8) Lược Sử Đức Phật, Thích Chơn Thiện (Trích Phật Học Khái Luận)
9) Thích Ca Mâu Ni Phật, Tinh Vân Đại Sư (dịch giả Dương Thu Ái)
10) The Life Of The Buddha, Narada Maha Thera
11) Cuộc Đời Đức Phật, A. Ferdinand Herold (dịch giả Tịnh Minh)
12) Lịch Sử Đức Phật Tổ Cồ Đàm, Maha Thongkham Medhivongs
13) The Buddhist Catechism, Henry S. Olcott (dịch giả Thích Trí Chơn)
14) The Wisdom Of the Buddha, Jean Boisselier (dịch giả Carey Lovelace)
15) Ánh Đạo Vàng, Võ Đình Cường
**TIN, BÀI LIÊN QUAN:**
-
Truyện thơ Cuộc đời đức Phật Thích Ca (P.1)
Câu chuyện về cuộc đời và giáo pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã khép lại, mang đến những bài học vô giá về con đường diệt khổ và giác ngộ. Để tiếp tục khám phá sâu hơn về những giáo lý nhiệm màu và hành trình tâm linh này, mời bạn tìm hiểu thêm trong chuyên mục Đạo phật.