Từ một cậu bé sớm rời xa mái ấm để theo đuổi con đường tâm linh, hành trình của ngài Thích Tâm Tịch đã bắt đầu từ những năm tháng đầy biến động. Giữa bối cảnh Phật giáo đang được phục hưng mạnh mẽ, ngài đã tìm thấy con đường giác ngộ tại Tổ đình Quán Sứ, mở ra một chương mới đầy ý nghĩa. Khám phá thêm về cuộc đời và di sản của ngài tại chiasedaophat.com.
Ngài bắt đầu hành trình học vấn ở tuổi 14, sau khi hoàn thành bậc tiểu học. Song song với việc học văn hóa, ngài còn học thêm nghề dưới sự dìu dắt, yêu thương của người anh cả là nhà giáo Nguyễn Văn Kính.
Tuy nhiên, do có sẵn nhân duyên sâu sắc với Phật pháp từ nhiều đời, trong giai đoạn này, ngài có xu hướng tìm hiểu và nghiên cứu về đạo Phật nhiều hơn. Với lòng ngưỡng mộ sâu sắc đối với đạo Phật và ý chí quyết tâm ở tuổi 16, ngài đã lặng lẽ rời xa gia đình để tìm cầu con đường xuất gia.
Chân dung Cố Đại lão Hòa thượng Thích Tâm Tịch
Vào cuối những năm 1920, đầu những năm 1930, phong trào chấn hưng Phật giáo đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần học Phật, tin Phật và tu Phật trong hàng triệu Phật tử Việt Nam. Danh tiếng của Tổ Vĩnh Nghiêm (Thiền gia Pháp chủ Thích Thanh Hanh) cùng với giáo lý Phật giáo được báo chí xiển dương đã thôi thúc chàng thanh niên Nguyễn Đình Khuê, khi đó ngoài đôi mươi, đến chiêm bái Tổ đình Quán Sứ, đảnh lễ Tam Bảo và diện kiến Đức Tổ Vĩnh Nghiêm.
Ngay trong lần gặp đầu tiên, được Tổ khai thị những lời vàng ngọc, tâm thức của ngài bỗng sáng tỏ. Từ đó, ngài một lòng kính mong được Tổ chứng minh cho phép xuất gia. Tổ chấp thuận và giao cho Hòa thượng Thích Thái Hòa đưa ngài về tỉnh Hà Nam để đảnh lễ Đệ Tứ Tổ Tế Xuyên-Bảo Khám (Hòa thượng Thích Doãn Hài). Tại đây, ngài được Hòa thượng Thiện Bản-Thông Đoan, trụ trì chùa Cao Đà, xã Nhân Mỹ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, làm nghiệp sư thế phát xuất gia.
Tại Tổ đình Tế Xuyên, hạt giống Bồ đề nơi ngài như được ươm mầm và đâm chồi nảy lộc. Cuộc sống thiền môn, thanh bần, lạc đạo, viễn ly trần thế và tu tập phạm hạnh đã trở thành nếp sống quen thuộc hàng ngày. Khi còn là giới tử tân học, ngài một lòng cần mẫn phụng sự sư trưởng và hết sức siêng năng công quả, trang nghiêm Tam Bảo.
Năm 1936, khi tròn 21 tuổi, ngài được Hòa thượng nghiệp sư và chư tôn đức chứng minh truyền trao giới thập Sa di. Buổi lễ do Hòa thượng Thích Doãn Hài làm Đàn đầu Hòa thượng, diễn ra tại Tổ đình Tế Xuyên Bảo Khám. Sau một thời gian chuyên tâm tu tập, ngài được Hòa thượng nghiệp sư cho phép nhập chúng để cầu học Kinh, Luật, Luận với Tổ Tuệ Tạng, vị Thượng thủ Tăng già toàn quốc lúc bấy giờ tại chùa Quán Sứ. Đây là khởi đầu cho một thời kỳ dài tu tập và hoằng pháp lợi sanh trên đất Thăng Long – Hà Nội.
Năm 1939, chùa Quán Sứ tổ chức Đại giới đàn do Hòa thượng Thích Thanh Ất (Tổ Trung Hậu) làm Đàn đầu. Đây là giới đàn có quy mô lớn nhất Phật giáo Bắc kỳ thời bấy giờ. Các giới tử phải nhập chúng lễ sám hối 21 ngày, sau đó trải qua kỳ khảo hạch để xếp thứ tự. Ngài được cử làm đầu các giới tử cầu thụ Cụ túc giới. Ở tuổi 24, ngài được chư tôn đức truyền trao giới Tỷ kheo và Bồ tát giới, chính thức bước vào hàng xuất gia bình đẳng trong Chánh pháp.
Từ đó, ngài có duyên lành được theo hầu Tổ Tuệ Tạng và tham học Phật pháp tại các trường Phật học như Quán Sứ, Bồ Đề, Cao Phong. Trong các khóa học và các kỳ an cư kiết hạ, ngài luôn giữ chức Chánh Duy Na, nêu gương và hộ trì kỷ cương giới luật, phạm hạnh cho đại chúng Tăng già noi theo chí hướng tu hành.
Truyền thừa mạng mạch Phật pháp
Sau 14 năm miệt mài tu tập, gìn giữ phạm hạnh và tích lũy tâm đức của một Tỷ kheo, ngài được chư tôn đức đương thời tin tưởng giao phó vai trò Giới sư, rồi Hòa thượng Đàn đầu, truyền trao giới pháp cho các thế hệ hậu học tại các Đại giới đàn sau đây:
– Đại giới đàn chùa Quán Sứ, Hà Nội, năm 1953
– Đại giới đàn chùa Tế Xuyên, tỉnh Hà Nam, năm 1955 (nơi có dấu ấn kỷ niệm ngài đã thọ giới Sa di 19 năm về trước)
– Đại giới đàn chùa Thần Quang, Hà Nội, năm 1959
– Đại giới đàn chùa Bà Đá, Hà Nội, năm 1976
– Đại giới đàn chùa Quán Sứ, Hà Nội, năm 1978
Từ năm 1981, sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Thành hội Phật giáo Hà Nội được thành lập, cho đến năm 2001, mỗi năm sau ngày an cư kiết hạ, Thành hội Phật giáo Hà Nội đều tổ chức Đại giới đàn truyền giới cho tăng ni. Tất cả các Đại giới đàn này, ngài đều được cung thỉnh đảm nhiệm vai trò Đàn đầu Hòa thượng. Bên cạnh cương vị Giới sư Hòa thượng tại các giới đàn, ngài còn truyền trao Tam quy, Ngũ giới, Bồ tát giới cho hàng Phật tử tại Thủ đô và các tỉnh, thành hội Phật giáo.
Công đức kế thế trụ trì, tiếp độ chúng sinh
Với đạo nghiệp sâu dày, “Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng”, ngài đã được sơn môn pháp phái tín nhiệm cử và Giáo hội Trung ương chỉ định đảm nhiệm vai trò trụ trì các ngôi cổ tự như sau:
– Năm 1958, Đức Thượng thủ Tuệ Tạng chỉ định ngài làm Giám tự Tùng lâm Quán Sứ.
– Năm 1962, sau khi Hòa thượng Thích Thiện Bản viên tịch, ngài được chư tôn đức sơn môn giao phó trọng trách trụ trì chùa Cao Đà, xã Nhân Mỹ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, đánh dấu sự khởi đầu sự nghiệp trụ trì và hoằng hóa độ sanh.
– Năm 1979, Hòa thượng Thích Trí Hải viên tịch, ngài được sơn môn thỉnh giữ chức vụ trụ trì Tổ đình Bồ Đề (Thiên Sơn Cổ Tự), xã Bồ Đề, huyện Gia Lâm (nay là phường Bồ Đề, quận Long Biên), Hà Nội.
– Năm 1981, sau khi thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ngài được Đức Đệ nhất Pháp chủ Thích Đức Nhuận chỉ định giữ chức Chánh trụ trì chùa Quán Sứ, trụ sở của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Sự kiện này khẳng định phẩm hạnh đạo đức và nhân duyên đặc biệt của một bậc chân tăng thạc đức, thể hiện công đức “Nội hàm chúng diệu, ngoại ứng huyền cơ”.
– Năm 1997, Đại lão Hòa thượng Thích Thông Ban, trưởng Sơn môn viên tịch, ngài được chư tôn đức sơn môn cung thỉnh lãnh nhận vai trò Viện chủ Tổ đình Tế Xuyên Bảo Khám, xã Lý Đức, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
Những trọng trách đối với đạo pháp và dân tộc
Mang trong mình sứ mạng thiêng liêng của Tăng già “Tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự”, ngài đã liên tục đảm nhận các Phật sự quan trọng từ khi còn trung niên cho đến khi trở thành bậc trưởng lão. Ngài không chỉ tham gia các trọng trách trong đạo pháp mà còn đóng góp cho dân tộc và xã hội.
– Năm 1958, khi Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam được thành lập, ngài được suy cử làm Ủy viên Trung ương Hội, đồng thời là Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hà Nội (từ năm 1958-1980).
– Năm 1972, ngài được suy cử làm Ủy viên Ban Nghi lễ Trung ương Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam.
– Từ năm 1976 đến 1981, ngài được suy cử làm Ủy viên Thường trực Trung ương Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam.
– Tháng 11 năm 1983, ngài được Đức Đệ nhất Pháp chủ Thích Đức Nhuận sắc phong làm Chánh Thư ký Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Cũng trong năm này, với uy tín đạo hạnh, Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Hà Nội đã cung thỉnh ngài giữ chức vụ Trưởng Ban Trị sự, kiêm Trưởng Ban Tăng sự cho đến tháng 9 năm 2002.
– Tháng 11 năm 1992, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ III (1992-1997), ngài được Đại hội suy tôn làm Phó Pháp chủ, kiêm Chánh Thư ký Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
– Tháng 11 năm 1997, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IV (1997-2002) và lần thứ V (2002-2007), Đại hội đã suy tôn Hòa thượng lên ngôi vị Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ngài đã giữ vững vai trò “Thạch trụ tòng lâm”, góp phần xây dựng và phát triển ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Trong suốt cuộc đời tu hành và hoằng pháp, dù ở cương vị nào, ngài luôn thể hiện tâm đức của người con Phật “Xuất trần Thượng sĩ”, hành trì Giới, Định, Tuệ, chú tâm tỉnh giác, thu nhiếp tam nghiệp và phụng sự Tam Bảo. Hàng ngày, ngài ít nói, nếu có nói cũng chỉ là những lời về công việc cần thực hiện.
Ngài luôn kiên định, lặng lẽ suy tư để tìm ra những phương pháp phù hợp, đóng góp ý kiến chỉ đạo và khuyến khích tứ chúng thực hiện các định hướng của Giáo hội đã đề ra nhằm phụng sự “Đạo pháp và Dân tộc” trong bối cảnh cuộc sống hiện tại. Ngài thường chia sẻ với tín đồ Phật tử rằng: “Mọi việc chúng ta làm đều nhằm góp phần làm cho Phật pháp càng thêm rạng rỡ, viên minh; đồng thời tô điểm thêm tấm gương đại từ bi của Đức Phật ngày càng tươi đẹp hơn trong tâm trí con người”.
Ghi nhận những công đức cao quý mà ngài đã đóng góp cho đạo pháp và xã hội, Nhà nước đã trao tặng ngài Huân chương Độc lập hạng Nhất. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã trao tặng Huy chương Vì sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân, và Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội đã trao tặng Huy hiệu Vì sự nghiệp Xây dựng Thủ đô, cùng nhiều bằng khen, giấy khen từ các ban ngành Trung ương và Thành phố.
Sinh, trụ, dị, diệt; thành, trụ, hoại, không hay sinh, già, bệnh, chết vốn là quy luật muôn đời của vạn vật và con người. Thông thường, sự vô thường của vòng luân hồi “sinh, già, bệnh, chết” dễ dàng tác động, chi phối tâm trạng phàm tục của con người. Ngược lại, tinh thần nhiếp phục tự thân, an trú nơi chính mình, liễu ngộ về thân ngũ uẩn này, với sự thấu hiểu “sinh ký tử quy”, chính là năng lực tinh thần, sự tinh tiến của các bậc đạo sư, các bậc cao tăng thạc đức.
Những năm tháng cuối đời của Đức Đệ Nhị Pháp chủ là minh chứng cho sự tăng trưởng vững chắc và sâu sắc về phạm hạnh cũng như công đức tu trì của ngài. Mặc dù từ cuối năm 2001, thân tứ đại của ngài thường xuyên bị bệnh tật chi phối, nhưng khi bệnh duyên càng tăng, ngài càng an trú và nhiếp phục được tâm mình. Càng an trú, hành trạng của ngài càng trở nên bình dị, an nhiên và tĩnh lặng. Mỗi ngày, ngài vẫn thường tịnh hóa tam nghiệp, tay lần tràng hạt bồ đề niệm Phật, giữ chánh niệm, chú tâm tỉnh giác trước sự suy yếu của thân tứ đại.
Đến giờ phút thiêng liêng hội ngộ, công đức hóa thân viên mãn, Đức Đại lão Hòa thượng Đệ Nhị Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã an nhiên thị tịch vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 06 tháng 3 năm 2005 (nhằm ngày 26 tháng Giêng năm Ất Dậu), trụ thế 91 năm, hạ lạp 66 năm.
Tấm gương trong sáng, hiền đức và uy nghi của ngài sẽ mãi mãi hiện hữu trang nghiêm trong cõi đạo và thế gian.
Để hiểu rõ hơn về cuộc đời và những đóng góp của Đại lão Hòa thượng Thích Tâm Tịch, mời quý độc giả khám phá thêm trong chuyên mục Đạo phật.