Địa Ngục: Ác Nghiệp Và Cảnh Giới Kinh Hoàng

hell realms image 0751 1
0
(0)

Khám phá ý nghĩa đằng sau “Địa Ngục: Ác Nghiệp Và Cảnh Giới Kinh Hoàng” qua lăng kính tâm linh, nơi tội lỗi và nghiệp báo dẫn lối đến những khổ cảnh không tưởng. Tìm hiểu về khái niệm Nê Lê, Nại-lạc-ca và hành trình hóa giải nghiệp chướng tại chiasedaophat.com.

Quả báo của nghiệp ác trong quá khứ

Địa ngục, trong tiếng Hồ gọi là Nê Lê, tiếng Phạn là Nại-lạc-ca. “Nại-lạc” nghĩa là người, “ca” nghĩa là ác. Nơi đây là nơi sinh của những người ác, do đó gọi là Nại-lạc-ca (có bản dịch là Bất khả lạc, hoặc Khổ cụ, Khổ khí). Sở dĩ chúng sinh phải đọa vào nơi này là vì khi còn sống đã tạo ra những hành động cực kỳ tàn ác về thân, khẩu, ý. Địa ngục mang ý nghĩa là ngục tù dưới lòng đất, nơi giam giữ tội nhân, tước đoạt sự tự do tự tại của họ.

Theo Bà Sa luận, những kẻ bị gọi là tội nhân là những người bị các ngục tốt A Bàng giam giữ, mất đi tự do. Tuy nhiên, địa ngục không chỉ nằm dưới lòng đất mà còn có thể ở trên mặt đất hoặc trong không trung. Vì vậy, trong tiếng Phạn, thay vì gọi là địa ngục, người ta dùng tên gọi Nại-lạc-ca. Luận này cũng chỉ ra rằng, dưới địa ngục và độ địa ngục có thể nằm trong hang núi, đồng ruộng, không trung hoặc miếu bên bờ biển. Các châu khác có thể chỉ có Biển địa ngục, Độc địa ngục mà không có Đại địa ngục.

Dù có nhiều loại địa ngục khác nhau, căn cứ vào Tam pháp độ luận, chúng được phân thành ba loại chính: Nhiệt ngục, Hàn ngục và Biên ngục.

Cảnh giới địa ngục và hậu quả của nghiệp ác

1. Nhiệt ngục

Nhiệt ngục bao gồm tám tầng, nằm dưới châu Thiện Bộ. Bên dưới châu này là năm trăm do tuần đất bùn, tiếp đó là năm trăm do tuần đất sét trắng. Sâu hơn nữa, cách một vạn chín ngàn do tuần là bảy ngục lớn được xây dựng bên trong. Dưới cùng là ngục Vô Gián, cách đó hai vạn do tuần. Tổng cộng, từ dưới châu Thiện Bộ đến đáy ngục Vô Gián là bốn vạn do tuần. Ngục Vô Gián có chiều dài, chiều rộng và chiều cao mỗi chiều hai vạn do tuần. Bảy ngục lớn kia, mỗi ngục có chiều ngang dọc một vạn do tuần. Địa hình từ dưới châu Thiện Bộ đến ngục Vô Gián có hình dáng như đống thóc, nhọn ở trên và to dần xuống dưới, với tám ngục chồng chất lên nhau. Theo kinh A Hàm, tổng cộng có tám ngục lớn, mỗi ngục lại có mười sáu ngục nhỏ bao quanh.

Mỗi ngục có bốn cửa, và ngoài mỗi cửa lại có bốn loại khổ cảnh gọi là Du tăng: 1. Đường ôi tăng; 2. Thi phần tăng; 3. Phong đao tăng (với ba loại nhỏ: Đao nhẫn lộ, Kiếm diệp lâm, Thiết thích lâm, tất cả đều thuộc Thiết lâm); 4. Liệt hà tăng. Cộng thêm bảy ngục trước, tổng cộng là mười bảy loại cảnh khổ. Tám ngục lớn cùng các ngục phụ thuộc tạo thành 136 nơi, nên kinh điển thường nói về 136 Nại Lạc Ca.

1.1. Đẳng Hoạt ngục

Cảnh giới Đẳng Hoạt ngục

Còn gọi là Canh Hoạt ngục. Tại đây, ngục tốt hoặc gió lạnh khiến tội nhân chết đi sống lại nhiều lần. Nguyên nhân đọa vào ngục này là do nghiệp sát sinh. Một ngày đêm ở Đẳng Hoạt ngục tương đương với một vạn sáu ngàn ngày hai trăm ức năm ở cõi người. Tội nhân ở đây thọ mạng năm trăm tuổi.

1.2. Hắc Thắng ngục

Cảnh giới Hắc Thắng ngục

Tại đây, tội nhân bị trói bằng dây thép và bị rìu sắt chém. Nguyên nhân đọa vào ngục này là do nghiệp sát sinh và trộm cắp. Một ngày đêm ở Hắc Thắng ngục tương đương với ba vạn hai ngàn bốn trăm ức năm ở cõi người. Tội nhân ở đây sống thọ một ngàn tuổi.

Tìm hiểu thêm: Giải Mã Nghiệp Duyên: 3 Bí Quyết Vượt Thoát Chướng Ngại Tình Yêu

1.3. Chúng Hợp ngục

Cảnh giới Chúng Hợp ngục

Còn gọi là Chúng khâu (hạp) ngục, nơi hai ngọn núi ép chặt tội nhân. Nguyên nhân đọa vào ngục này là do nghiệp sát sinh, trộm cắp và tà dâm. Một ngày ở Chúng Hợp ngục tương đương với sáu vạn bốn ngàn tám trăm ức năm ở cõi người. Tội nhân ở đây sống thọ hai ngàn tuổi.

1.4. Hô Hô ngục (Khiếu Hoán ngục)

Ngục tối này bức bách tội nhân, khiến họ phải vừa chạy vừa la hét. Nguyên nhân đọa vào ngục này là do nghiệp sát sinh, trộm cắp, tà dâm và nói dối. Một ngày đêm ở Hô Hô ngục tương đương với mười hai vạn chín ngàn sáu trăm ức năm ở cõi người. Tội nhân ở đây thọ bốn ngàn tuổi.

1.5. Đại Hô ngục

Cảnh giới Đại Hô ngục

Còn gọi là ngục Đại Hô Hoán. Bốn ngọn núi bao vây, tội nhân không thể trốn thoát, chỉ biết gào khóc thảm thiết. Nguyên nhân đọa vào ngục này là do nghiệp sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ và khuyến khích người khác uống rượu. Một ngày đêm ở Đại Hô ngục tương đương với hai mươi lăm vạn chín ngàn hai trăm ức năm ở cõi người. Tội nhân ở đây thọ tám ngàn tuổi.

1.6. Thiêu Nhiên ngục

Cảnh giới Thiêu Nhiên ngục

Còn gọi là ngục Viêm nhiệt. Tội nhân bị kẹp bởi thép nung nóng và chịu đựng sự thiêu đốt từ bên trong. Nguyên nhân đọa vào ngục này là do nghiệp sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, uống rượu và tà kiến. Một ngày đêm ở Thiêu Nhiên ngục tương đương với năm mốt vạn bốn trăm năm ở cõi người. Tội nhân ở đây thọ mười sáu ngàn tuổi.

1.7. Đại Thiêu Nhiên ngục

Còn gọi là ngục Đại Viêm Nhiệt. Lửa núi phả vào, thiêu đốt tội nhân. Nguyên nhân đọa vào ngục này là do nghiệp sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, cho người uống rượu, tà kiến, không tin nhân quả, hoặc phá giới của Tỳ kheo ni. Tội nhân ở đây thọ mạng bằng một nửa kiếp.

1.8. Vô Gián ngục

Cảnh giới Vô Gián ngục

Còn gọi là ngục Vô Trạch. Một khi đã đọa vào đây, tội nhân sẽ mãi mãi chịu khổ mà không có giây phút nào được an vui. Nguyên nhân đọa vào ngục này là do tạo nghiệp ngũ nghịch (giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, làm chảy máu thân Phật, phá hòa hợp Tăng). Tiếng Phạn là A Tỳ, nghĩa là không gián đoạn hoặc không có khoảng trống.

Vô Gián địa ngục

Theo kinh Quán Phật Tam Muội, một ngày một đêm ở ngục A Tỳ tương đương với năm mươi tiểu kiếp ở cõi người. Tội nhân ở đây thọ mạng một đại kiếp. Người phạm ngũ nghịch sẽ chịu tội trong năm kiếp. Ngoài ra, những chúng sinh phạm bốn điều trọng cấm (ăn của thí chủ không được phép, phỉ báng, tà kiến, không biết nhân quả, đoạn học Bát Nhã, hủy mười phương Phật, ăn trộm của Tăng, dâm dật vô đạo, hãm hiếp tịnh ni, hủy nhục người thân) sẽ chịu tội báo 104.000 đại kiếp và còn bị đưa vào mười tám vạc ở phương Đông để chịu khổ, tương tự ở các phương Tây, Nam, Bắc.

Xem thêm: Tâm an, kinh doanh thịnh vượng

2. Hàn ngục

Hàn ngục có tám tầng, nằm dưới đáy núi Thiết Vi, bên ngoài châu này. Tội nhân ở đây phải chịu nỗi khổ vì giá rét cắt da, cắt thịt.

Cảnh giới Hàn ngục

Hàn Ngục.

2.1. Ngục An-phù-đà

Da thịt tội nhân bị rét cắt, phồng rộp nhỏ.

2.2. Ngục Nê-la-phu-đà

Nghĩa là nốt phồng vỡ ra. Gió rét thổi khiến khắp người bị phồng rộp, nứt nẻ.

2.3. Ngục Ba-tra-na

Nỗi khổ về giá rét gia tăng khiến môi không mấp máy được, chỉ còn lưỡi có thể cử động và phát ra tiếng kêu.

2.4. Ngục A-ba-ba

Rét tăng thêm ghê gớm, lưỡi không động đậy được, chỉ có môi phát ra tiếng kêu này.

2.5. Ngục Á hầu

Do rét quá lớn, môi lưỡi đều không động đậy, chỉ có tiếng kêu phát ra từ trong họng do hơi bị chấn động.

2.6. Ngục Uất-ba-ba

Nghĩa là hoa sen xanh. Thịt bị toạc ra có màu sắc như cánh hoa sen xanh bị xé.

2.7. Ngục Ba-đầu-ma

Nghĩa là hoa sen hồng. Thịt bị toạc ra có hình dáng như hoa sen hồng đang nở.

2.8. Ngục Phần-Đà-Lợi

Nghĩa là hoa sen trắng. Xương bị toạc ra có hình dáng như hoa sen trắng đang nở.

Biên Ngục

Biên Ngục

3. Biên ngục

Biên ngục có ba loại: Sơn gian ngục (ngục trong núi), Thủy gian ngục (ngục trong nước) và Khoáng dã ngục (ngục giữa đồng). Tội nhân ở đây phải chịu cả nóng lẫn lạnh.

Theo Chang Thung lục, ngục cô độc có 84.000 tòa ở các nơi trong cõi Diêm phù đề, nơi tội báo chuyển thành nhẹ hơn. Tóm tắt các loại báo như sau:

  • Tội cực nặng (giết cha mẹ, giết A-la-hán, phá hòa hợp Tăng, bức dâm tịnh ni, làm chảy máu thân Phật, không sám hối; tội ngũ nghịch; thượng phẩm thập nghiệp) sẽ đọa vào tám ngục lớn.
  • Tội thượng trung phẩm thập ác sẽ sinh vào các địa ngục hàn băng.
  • Tội thượng hạ phẩm thập ác sẽ thác sinh vào các tiểu địa ngục cô độc.

Địa ngục trần gian và nỗi khổ con người

Diêm La vương

Diêm La vương một niệm ác, nắm mọi việc trong ngục, tự mình chịu khổ, cũng không thể nói gì.

Kinh chép rằng Diêm La vương, xưa là Tỳ Sa quốc vương, đã thề sẽ làm vua địa ngục để cai trị tội nhân sau khi thua trận. Mười tám đại thần và trăm vạn quân của ông cũng có lời thề tương tự. Nay Tỳ Sa vương chính là Diêm La vương, mười tám đại thần là chúa mười tám ngục, và trăm vạn quân là bọn ngục tốt ngưu đầu A Bàng.

Giường lửa địa ngục

Kinh Địa Ngục mô tả cung điện của Diêm Vương được làm bằng đồng sắt, với những vạc đồng lớn chứa nước đồng nóng chảy. Mỗi ngày, Diêm Vương và các đại thần phải nằm trên giường sắt nung nóng, bị móc sắt banh miệng và đổ nước đồng sôi vào, chịu đựng cảnh thân thể cháy nát trước khi bắt đầu công việc.

Mười bảy chúa ngục khác nhau cai quản các loại ngục với những hình phạt đặc trưng, ví dụ như Ca Diên coi ngục Nê Lê, Khuất Tôn coi ngục Đao Sơn, Phí Tiến coi ngục Phí sa, v.v.

Cảnh trong địa ngục

Mỗi ngục lớn lại có vô lượng địa ngục phụ thuộc và các chúa ngục là bọn ngưu đầu A Bàng. Chúng có tính tình hung ác, không chút từ tâm. Khi được hỏi tại sao lại độc ác với chúng sinh chịu khổ, A Bàng giải thích rằng những tội nhân này đã phạm các tội như bất hiếu, báng bổ, ác khẩu, tham dục, tà kiến, v.v. Dù ông cố gắng khuyên nhủ họ đừng tái phạm, nhưng họ vẫn không biết sợ hãi, không tu thiện để thoát khỏi khổ đau. Do đó, A Bàng càng thêm độc dữ để họ biết khổ, biết nhục, không dám tái phạm. Ông cho rằng những chúng sinh này vô tri, không biết tránh khổ tìm vui, nên phải chịu sự đau khổ gấp bội phần.

Kinh Chính Pháp Niệm kể rằng Diêm La vương đọc bài kệ cho chúng sinh:

Người được thân người chẳng tu đạo

Như vào núi báu, tay không về

Khám phá: Hành Trình Xuất Gia: Lộ Trình Minh Bạch, Sức Khỏe Vững Vàng và Nền Tảng Vững Chắc

Nay ngươi tự làm phải tự chịu

Kêu ca khổ sở có ích gì.

Các kinh luận đã mô tả đầy đủ tướng trạng, hình cụ và sự sai biệt về thụ báo trong các địa ngục. Nghiệp thiện ác mà con người tạo ra giống như bóng theo hình, chỉ có thân thể mất đi khi chết, còn nghiệp thì không mất. Nghiệp đã tạo trong đời này sẽ thành quả báo trong đời sau.

Quan niệm về nghiệp: Nghiệp không có trụ xứ cố định, mà nó tồn tại ở thời quá khứ, chờ đợi thời cơ, hoàn cảnh thích hợp để trổ quả báo, giống như uống thuốc cần thời gian để phát huy tác dụng. Dù nghiệp quá khứ có thể đã “tiêu diệt” theo từng niệm, nhưng khi đến thời cơ, nó vẫn sẽ trổ quả, như ký ức dù lu mờ nhưng vẫn còn đó.

Nghiệp và quả báo

Nếu nói rằng nghiệp không có trụ xứ, có nghĩa là nghiệp đó tồn tại ở thời quá khứ, chờ đợi thời cơ, hoàn cảnh để trổ quả báo.

Sau khi chết, cái gì bị thọ hình hành phạt đau khổ trong địa ngục Vô Gián?

Kinh Đề Vị chép rằng, Trưởng giả Đề Vị hỏi Phật về lý do ăn chay ba trường và ý nghĩa của “cấm”. Phật giải thích rằng, sự thay đổi của trời đất, âm dương, và sự xét duyệt tội phúc của chúng sinh bởi các vị thần linh, bao gồm Đế Thích, thái tử, sứ giả, nhật nguyệt quỷ thần, địa ngục, Diêm La và các thần chúng khác. Vào các ngày quan trọng như mùng 1 tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín, các vị này sẽ đi bốn phương để xét định hạnh nghiệp thiện ác của mọi loài. Các ngày 8, 15, 30 hàng tháng cũng là những ngày Thiên Vương tâu trình lên, để đảm bảo sự công bằng trong việc quyết định tội phúc.

Việc sinh lên cõi Trời hay đọa vào cảnh khổ đều dựa trên sự xét duyệt này. Do đó, con người cần giữ gìn ba trường trai (ăn chay) để tự xét mình, tránh phạm giới và được sinh về nơi tốt lành. Bát vương nhật (lập xuân, xuân phân, lập hạ, hạ chí, lập đông, đông chí) là những ngày quan trọng mà trời đất, chư thần, âm dương thay đổi, là thời điểm các vị thần linh xét xử, quyết định sinh tử, tăng giảm tội phúc. Các ngày 14, 23, 29, 30 hàng tháng cũng là những ngày trời đất giải quyết công việc. Trong những ngày này, việc ăn chay và tự kiểm điểm bản thân là vô cùng quan trọng.

(Trích “Lục đạo tập”)

Hy vọng những thông tin trên giúp bạn hiểu rõ hơn về địa ngục và nghiệp báo. Để tìm hiểu sâu hơn về các khía cạnh khác của Phật giáo, mời bạn khám phá thêm trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang