Hoà thượng Thích Thiện Siêu vượt lên thị phi thế sự

× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Cuộc đời phụng sự Đạo pháp và dân tộc của Hòa thượng Thích Thiện Siêu, dù trải qua bao sóng gió, vẫn là bài học quý giá về sự chiêm nghiệm và trưởng thành qua nghịch cảnh. Câu chuyện về những va vấp thời tuổi trẻ, khi lý tưởng đối chọi với thực tế, đã hé mở một góc nhìn đầy trăn trở về hành trình tu tập và sự dẫn dắt của bậc thầy. Khám phá hành trình vượt lên thị phi của ngài tại chiasedaophat.com.

Hòa thượng Thích Thiện Siêu, một bậc chân tu với cuộc đời cống hiến cho Đạo pháp và dân tộc, đã sống một cuộc đời không chút hối tiếc khi ra đi. Câu chuyện về cuộc đời ngài đã giúp tôi thấu hiểu hơn những nghịch cảnh của chính mình.

Năm 1956, khi còn nhỏ, tôi được cha đưa đến chùa Thiên Mụ để quy y với Hòa thượng Đôn Hậu. Tuy nhiên, khi trưởng thành và theo học đại học, tôi lại tham gia vào phong trào “tranh đấu Phật giáo” tại chùa Từ Đàm (1963-1966). Trong giai đoạn này, Hòa thượng Thích Thiện Siêu là một trong những người lãnh đạo của tôi.

Là một thành viên năng nổ của đoàn Sinh viên Phật tử, tôi, cùng với các bạn như Tôn Thất Kỳ, Nguyễn Văn, Nguyễn Thiết, Lê Minh Trường, thường không hoàn toàn tuân thủ chủ trương bất bạo động của Phật giáo. Chúng tôi hay có những hành động khiêu khích lực lượng an ninh, tổ chức biểu tình hay tuyệt thực mà chưa có sự chỉ đạo của các bậc trưởng thượng. Chính vì vậy, tôi thường xuyên bị thầy Thiện Siêu quở trách. Nhận thức được lỗi lầm của mình, mỗi lần bị thầy gọi lên, tôi đều thành tâm sám hối và hứa sẽ không tái phạm, không đi “trật đường rầy” như lời thầy thường nói. Tuy nhiên, lời hứa thường không đi đôi với hành động, và tôi lại tiếp tục tái phạm.

Nhận thấy tôi khó lòng “phục thiện”, thầy Thiện Siêu đã thay đổi phương pháp, chuyển từ quở trách sang “giận”. Với bản tính hiền lành của mình, tôi cảm thấy vô cùng sợ hãi khi thấy thầy giận và tìm cách tránh né. Vào đầu tháng tư năm 1966, trước yêu cầu “chi viện cho Đà Nẵng”, sinh viên Huế đã thành lập đoàn Sinh viên Quyết tử và bầu tôi làm Đoàn trưởng, phụ trách việc tổ chức cho sinh viên tham gia huấn luyện quân sự để đối đầu với quân đội Thiệu Kỳ. Tin tức này đến tai các vị lãnh đạo Phật giáo tại chùa Từ Đàm. Các thầy đã gọi tôi lên. Linh cảm mách bảo rằng việc lên chùa lúc này sẽ rất rắc rối, nên tôi cố gắng trì hoãn. Tuy nhiên, sau nhiều lần được gọi, tôi quyết định tìm cách trình diện với thầy Thiện Siêu trước, với hy vọng thầy sẽ không nỡ xử lý kỷ luật tôi nặng nề. Quả nhiên, mọi việc diễn ra đúng như tôi dự đoán.

Khi thấy tôi xuất hiện, thầy nén giận và hỏi ngay: “Anh là Đoàn phó đoàn Sinh viên Phật tử, Phật tử là bất bạo động, tại sao lại đi tổ chức ‘Sinh viên Quyết tử’ gây bạo động?”. Câu hỏi này như một gánh nặng đè lên tôi. Nhận thấy không thể chối cãi, tôi cố gắng giải thích: “Bạch thầy, con biết việc này là sai, nhưng do anh em sinh viên bầu nên con không nỡ từ chối. Thực tế, chúng con chỉ đi học quân sự để tự vệ thôi. Kính mong quý thầy xá tội cho con!”.

Thầy Thiện Siêu nhẹ nhàng nhưng kiên quyết đáp lại: “Anh là sinh viên, anh muốn tranh đấu theo cách nào tùy anh. Nhưng là Phật tử, anh phải theo Phật, phải bất bạo động. Nếu anh muốn đi theo con đường của sinh viên, anh phải từ chức Đoàn phó Sinh viên Phật tử và rút khỏi đoàn ngay lập tức!”.

Là một Phật tử, tôi hiểu rằng mình phải tuân thủ nguyên tắc “quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng”. Do đó, tôi không thể trái lời thầy Thiện Siêu, người đại diện cho các thiền sư lãnh đạo phong trào đấu tranh lúc bấy giờ. Tôi chắp tay hứa sẽ tuân thủ quyết định của quý thầy. May mắn thay, nhiều sinh viên Phật tử tham gia đoàn Sinh viên Quyết tử không đồng tình với việc tôi rút khỏi đoàn.

Hoà thượng Thích Thiện Siêu - Người không chấp trước những thị phi thế trị 1 Hòa thượng Thích Thiện Siêu (1921-2001).

Tiếp đó, hàng loạt sự kiện đấu tranh căng thẳng liên tiếp diễn ra. Chính quyền Thiệu Kỳ, với sự hậu thuẫn của chính phủ Mỹ, ngày càng gia tăng áp lực, đe dọa “làm cỏ phong trào miền Trung”. Không chỉ đoàn Sinh viên Quyết tử không bị giải tán, mà nhiều giới khác như Công chức Phật tử, Giáo chức Phật tử, Học sinh Phật tử, Nữ sinh Đồng Khánh cũng tổ chức lực lượng để tự vệ. Ngay cả những gia đình Phật tử thuần túy cũng phải thành lập các đội “Bách nhân” để học quân sự, đối phó với nguy cơ từ quân đội Thiệu Kỳ.

Tôi đã thoát khỏi quyết định giải tán đoàn Sinh viên Quyết tử của Thầy Thiện Siêu. Tuy nhiên, không lâu sau đó, chính quyền Thiệu Kỳ và chính quyền Thừa Thiên Huế (đứng đầu là tỉnh trưởng Phan Văn Khoa) đã gây áp lực lên Giáo hội Phật giáo, đòi khám xét và bắt giữ ba nhân vật: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân. Thầy Thiện Siêu cùng các vị lãnh đạo tại chùa Từ Đàm đã kịch liệt phản đối yêu sách này. Thầy Thiện Siêu đã chất vấn tỉnh trưởng Phan Văn Khoa: “Anh là phật tử, các cậu ấy cũng là phật tử, tại sao anh lại đòi bắt họ?”. Trước câu hỏi bất ngờ này, Phan Văn Khoa đành im lặng rút lui.

Tìm hiểu thêm: Ba Rằm Hán Việt: Từ Thượng Nguyên đến Hạ Nguyên và Tết Lúa Mới – Hành trình văn hóa và tâm linh

Nhận thấy tình hình ở Huế không còn an toàn, hai anh em nhà họ Hoàng Phủ đã liên lạc với thành ủy và rời khỏi thành phố. Còn tôi, tôi phải ẩn mình tại chùa Diệu Đế để tiếp tục công việc tại đài phát thanh Cứu nguy Phật giáo đặt ngay trong chùa. Sau đó, tôi nhận được tin Thiệu Kỳ sẽ truy bắt mình. Các thầy đã khuyên tôi rời chùa Diệu Đế ngay lập tức để tránh bị bắt như hồi tháng 8 năm 1963. Tôi đã mượn áo cà sa, giả làm một ni cô và được hai sinh viên Quyết tử (cũng là sinh viên phật tử) là Phạm Văn Rơ và Cao Hữu Điền hộ tống lên chùa Từ Đàm. Sau hai ngày ở chùa, thầy Thiện Siêu đã gửi tôi đến ẩn náu tại chùa Kim Tiên của thầy Chánh Trực.

Sau một tuần ở chùa Kim Tiên, tôi lại chuyển sang ở chùa Tường Vân. Để tránh sự theo dõi của tình báo, thầy Chơn Tế đã cạo đầu cho tôi, giúp tôi giả dạng làm một nhà sư của chùa. Tuy nhiên, cuộc sống ở Tường Vân cũng không hề yên ổn. Tôi đã nhiều lần bị lính Nùng của Thiệu Kỳ vây bắt. Nếu không có sự che chở của các thầy chùa Tường Vân, có lẽ tôi đã gặp nguy hiểm từ cuối tháng 6 năm 1966. Không ngờ, chùa Tường Vân lại nằm trong “vùng an toàn” của thành ủy Huế. Mọi căng thẳng và nguy hiểm mà tôi phải đối mặt hàng ngày tại chùa Tường Vân đều được thành ủy Huế nắm rõ.

Đến đầu tháng 7 năm 1966, anh Hoàng Phủ Ngọc Tường từ chiến khu gửi thư mời tôi ra vùng căn cứ nghỉ ngơi một thời gian, chờ tình hình đàn áp của Thiệu Kỳ lắng xuống rồi sẽ trở về Huế. Sống với các thầy nhiều năm, ranh giới giữa Phật giáo và Mặt trận Giải phóng trong tôi trở nên mờ nhạt. Vì vậy, khi nhận được thư của anh Tường, tôi không cảm thấy bất ngờ. Hơn nữa, trước đó không lâu (tháng 5/1966), hai người bạn của tôi là N.N.L. và Trịnh Công Sơn đã trao đổi với tôi về “Con đường của Mặt trận Giải phóng” như một lối thoát cho các cuộc tranh đấu lúc bấy giờ. Vì vậy, bức thư của anh Tường đã trở thành lối thoát của tôi. Vài ngày sau, tôi rời đi trong bộ áo cà sa của một nhà sư (ngày 10/7/1966). Thay vì “một thời gian ngắn” như anh Tường viết, tôi đã rong ruổi khắp Trường Sơn suốt chín năm (1966-1975).

Khi lên rừng, tôi có nhiều dịp kể lại vai trò của Hòa thượng Thiện Siêu trong các phong trào tranh đấu ở đô thị. Các vị lãnh đạo thành ủy (đứng đầu là ông Lê Tư Minh) đã đề nghị tôi: “Sẽ mời Hòa thượng Thích Thiện Siêu tham gia Mặt trận Liên Minh của Thành phố Huế”. Sau Mùa Xuân 1968, tôi được biết người được cử đi mời Hòa thượng Thiện Siêu đã không hoàn thành nhiệm vụ. Vị trí dự kiến của Hòa thượng Thiện Siêu sau đó được thay thế bởi Hòa thượng Thích Đôn Hậu – bổn sư của tôi.

Từ sau năm 1975, do công tác bận rộn, tôi không có nhiều dịp được trò chuyện cùng Hòa thượng Thiện Siêu. Tuy nhiên, những lần gặp gỡ ít ỏi đó đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc. Những kỷ niệm này đã sống dậy trong tôi suốt thời gian Hòa thượng nằm chữa bệnh rồi viên tịch vào tháng 12 năm 2001.

Vào một năm không nhớ rõ thuộc thập niên 1980, tôi tình cờ xem một cuộc trưng bày văn hóa Phật giáo Thừa Thiên Huế tại nhà giảng chùa Từ Đàm. Là một Phật tử, tôi không khỏi ngạc nhiên trước sự phong phú và quý hiếm của các hiện vật văn hóa Thuận Hóa – Phú Xuân mà các chùa Huế còn lưu giữ. Ví dụ như chiếc chuông đồng đúc thời Cảnh Hưng, bản Kinh Kim Cương thêu trên gấm đời Cảnh Thịnh… Bên cạnh những cổ vật, còn có những chậu cảnh cổ thụ hàng trăm năm tuổi và những cây Bonsai tuyệt mỹ.

Cuộc trưng bày đã khơi nguồn cảm hứng để tôi viết một bài báo ngắn với nhan đề “Chùa Huế – Nơi gìn giữ những báu vật quốc gia”, đăng trên báo Người Du Lịch Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, tôi xin gặp Hòa thượng Thiện Siêu để đề xuất Giáo hội Phật giáo nên xin phép Nhà nước thành lập một Bảo tàng Văn hóa Phật giáo tại Huế, phục vụ du khách trong và ngoài nước. Hòa thượng Thiện Siêu đã trả lời tôi với tất cả sự dè dặt của một vị lãnh đạo tinh thần đã trải qua nhiều thăng trầm: “Xin nhà nước cũng được thôi. Phật giáo không cầm quyền, không có thế lực gì trong việc truyền bá đạo Phật cả. Nếu có cơ hội dùng văn hóa để hoằng dương đạo pháp thì không có gì tốt cho bằng. Nhưng ai làm, lấy tiền đâu mà làm, làm rồi ai coi ngó? Bây giờ thầy cúng thì nhiều chứ tìm thầy coi sóc nhà Bảo tàng văn hóa đâu phải chuyện dễ. Chưa có con người thì chưa tính được gì cả.”

Khám phá: Đinh Sửu 1997 Nam Mạng 2025: Vận Mệnh Giản Hạ Thủy Bùng Nổ Hay Thử Thách?

Tôi thực sự thấm thía lời chỉ dạy của Hòa thượng. Vấn đề thiếu người có đạo đức và chuyên môn để làm việc không chỉ riêng của Phật giáo! Người làm việc thì hiếm, nhưng người chửi bới, vu khống nhau thì lại tràn đầy. Tôi đã đọc nhiều bài báo và nghe nhiều buổi phát thanh của đài nước ngoài vu khống Hòa thượng là “sư quốc doanh”, tay sai của chính quyền xã hội chủ nghĩa. Tôi đã phản ánh điều này với Hòa thượng. Ngài chỉ mỉm cười: “Họ nói tôi là sư quốc doanh còn may. Anh không biết có người đã gửi thư đe dọa tôi, thậm chí gửi kèm theo cả vài viên đạn nữa. Thế tục người ta có thể làm như thế, còn một người xuất gia như tôi thì… chẳng có gì quan trọng cả.”

Đến đầu năm 1990, sau khi tái lập ranh giới hành chính ba tỉnh Bình Trị Thiên, dư luận và báo chí bắt đầu quan tâm đến Trung tâm Văn hóa Du lịch Huế. Tôi nhận thấy văn hóa Phật giáo là một bộ phận quan trọng của Trung tâm này. Với tư cách là phóng viên tạp chí Sông Hương (bút danh chung cho mục này là Người Sông Hương), tôi đã thực hiện một cuộc phỏng vấn Hòa thượng Thiện Siêu về vai trò của Phật giáo trong sự nghiệp phát triển văn hóa du lịch Huế. Hòa thượng đã nhiệt tình trả lời những câu hỏi của tôi một cách thẳng thắn, không ngại phê phán những hiện tượng tiêu cực của thanh niên Huế thời bấy giờ. Tôi rất ấn tượng với những câu trả lời thẳng thắn này và mong muốn qua cuộc gặp gỡ này, dư luận sẽ thấy được sự đứng đắn của Hòa thượng Thiện Siêu. Bài phỏng vấn được đăng trên số báo tháng 5/1990.

Không may, tình hình chính trị lúc bấy giờ có nhiều phức tạp. Một số người có trách nhiệm đã không hiểu hết chủ trương của Ban biên tập tạp chí Sông Hương cũng như con người đích thực của Hòa thượng Thiện Siêu, nên đã ngăn chặn việc phát hành số tạp chí này. Điều đó khiến tôi vô cùng đau khổ, và tôi càng khổ tâm hơn vì đã làm phiền đến Hòa thượng. Mặc dù Hòa thượng không gọi tôi lên như năm 1966, tôi vẫn tìm đến và trăm lạy xin thầy thông cảm cho việc số tạp chí có đăng bài phỏng vấn của thầy không được phát hành. Tôi không ngờ Hòa thượng lại xem nhẹ việc đó. Ngài bảo tôi: “Anh hỏi thì tôi nói. Còn đăng hay không, phát hành được hay không là việc của các anh. Tôi chỉ sợ vì những câu trả lời của tôi gây khó khăn cho anh thôi. Còn đối với nhà chùa thì… A-di-đà Phật!”.

Tôi đã gặp khó khăn thật, bị cho thôi việc tại tạp chí Sông Hương nhưng tôi cam chịu. Biết Hòa thượng không hề trách móc tôi, tôi cảm thấy rất yên tâm.

Không lâu sau đó, Hòa thượng đã nhờ người gọi tôi đến để nói một chuyện quan trọng. Tôi lập tức đến và Hòa thượng hỏi tôi: “Lãnh đạo và Mặt trận tỉnh đề nghị tôi ra ứng cử Đại biểu Quốc hội, anh thấy có nên ra không?”.

Tôi không giấu được niềm vui mừng, thưa ngay: “Trước kia lãnh đạo tỉnh chưa hiểu Hòa thượng nên chưa tin, bây giờ quý vị đã hiểu và muốn mời Hòa thượng ra ứng cử thì Hòa thượng nên ra để Phật tử có được một tiếng nói trong Quốc hội.”

Hoà thượng Thích Thiện Siêu - Người không chấp trước những thị phi thế trị 2

Hòa thượng đã ra ứng cử Đại biểu Quốc hội và trúng cử với số phiếu cao. Không chỉ một khóa, mà ngài còn đắc cử hai khóa liền. Đúng như người bạn Hoàng của tôi đã viết: “Hòa thượng Thích Thiện Siêu là người không chấp trước những thị phi thế trị”. Ngài thực hiện những Phật sự trong phạm vi quyền hạn của mình, bất chấp sự đồng tình hay phản đối của thế gian.

Xem thêm: A La Hán: Ngôi Vị Giải Thoát, Sức Mạnh Vô Biên Từ "Thánh Quả"

Sau khi nghỉ hưu (năm 1998), tôi có nhiều thời gian hơn để thăm viếng Hòa thượng. Tôi được nghe ngài kể về việc thành lập Phật học viện tại Huế và đại trùng tu chùa Thiền Tôn. Có lần, Hòa thượng kể cho tôi nghe về việc khi khai mạc Phật học viện tại Huế, ngài đã bị những người đồng mặc áo cà sa rượt đánh. Điều đáng ngạc nhiên là khi nhắc lại một chuyện đau thương như vậy, Hòa thượng vẫn kể với một nụ cười trên môi. Tôi cảm giác như ngài đã quá quen với những oan trái trong cuộc đời mình. Phải chăng vì thế mà có người đã viết thư chia buồn với Phật giáo, cho rằng Hòa thượng Thích Thiện Siêu viên tịch là đã “giải nghiệp”, giải được cái nghiệp đầy nghịch cảnh của ngài?

[…] Sau thời gian nằm cấp cứu tại bệnh viện Huế nhưng không có hy vọng cứu chữa, vào cuối tháng 9 năm 2001, Hòa thượng được đưa về chùa Từ Đàm để tiếp tục chăm sóc với tinh thần “con nước còn tát”. Tấm lòng của các đệ tử ngài ở khắp nơi đều hướng về Từ Đàm, cầu nguyện cho Hòa thượng bớt nỗi đau bệnh tật để tinh thần được thanh thoát bước vào cõi Niết bàn. Vào chiều ngày thứ Sáu, 27/9/2001, tôi hân hạnh được các học trò của Hòa thượng cho phép vào bên giường bệnh hầu ngài lần cuối. Lúc đó, Hòa thượng đang nhắm mắt niệm Phật.

Biết tôi vào lạy thầy, Hòa thượng mở mắt và nở một nụ cười chào tôi. Tôi vô cùng ngạc nhiên, cứ tưởng ngài đã mê man rồi, không ngờ Hòa thượng vẫn thanh thản, vui tươi, không hề tỏ ra đau đớn hay bi thương trước lúc từ giã cõi đời. Tôi chúc mừng Hòa thượng đã viên mãn những việc lớn như đại trùng tu chùa Thiền Tôn và tổ chức thành công Phật học viện để đào tạo tăng tài cho Phật giáo trong tương lai. Hòa thượng khẽ gật đầu và bất ngờ bảo tôi: “Chuyện bảo tàng văn hóa Phật giáo ở Huế cũng đã được chính quyền quan tâm. Chính quyền đang đi tìm địa điểm thích hợp. Tôi không còn cơ hội để đóng góp nữa, hy vọng ở những người còn tại thế…”. Tôi sụp lạy Hòa thượng, xin ngài hãy yên nghỉ. Những chuyện cần làm rồi cũng sẽ thành hiện thực.

Vấn đề Bảo tàng Văn hóa Phật giáo được đề cập đến đã hơn mười năm, không ngờ Hòa thượng vẫn nhớ và vẫn theo đuổi cho đến khi khả thi. Hòa thượng đã thanh thản trút bỏ gánh nặng cuối cùng với tôi vào lần cuối cùng tôi được gặp ngài.

Sự thanh thản, sáng suốt của Hòa thượng Thích Thiện Siêu trước lúc lâm chung đã giúp tôi ngộ ra nhiều điều. Làm bất cứ việc gì cũng phải suy nghĩ thấu đáo. Khi thấy việc gì đúng đắn và cần thiết phải làm, hãy làm đến cùng, không sợ bất kỳ trở ngại nào. Là một người xuất gia, khi sống Hòa thượng đã cống hiến cho Đạo và cho dân, khi ra đi về cõi vô thường, ngài không còn điều gì phải bi thương hay hối tiếc. Hiểu được cuộc đời của Hòa thượng Thích Thiện Siêu, tôi càng hiểu rõ hơn về những nghịch cảnh trong cuộc đời mình.

Ba mươi tám năm (1963-2001) được gần gũi Hòa thượng, tôi chưa làm được điều gì khiến ngài vừa lòng. Trái lại, với phong cách năng nổ của mình, tôi đã gây cho ngài quá nhiều phiền muộn. Hôm nay, chắp tay sám hối trước bàn thờ Hòa thượng, tôi nảy ra một tâm niệm: Nếu có cơ hội tham gia xây dựng Bảo tàng Văn hóa Phật giáo Huế, tôi xin đề xuất Bảo tàng ấy nên mang tên “Bảo tàng Văn hóa Phật giáo Thiện Siêu”.

32 câu đối Việt của HT. Thích Thiện Siêu

Những câu chuyện và bài học quý báu từ cuộc đời Hòa thượng Thích Thiện Siêu vẫn còn đọng lại, mời quý độc giả cùng Đạo phật khám phá thêm về con đường phụng sự và trí tuệ của Ngài.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang