Hoằng pháp Phật giáo: Hành trình từ xưa đến nay

xuat gia 1412 0821 0757 1
0
(0)

Kể từ khi Đức Phật khai mở con đường giác ngộ, việc lan tỏa Chánh Pháp đã trở thành sứ mệnh thiêng liêng, giúp muôn loài tìm thấy an lạc. Nhiệm vụ cao cả này được trao cho các bậc Tăng Ni, những người kế thừa di huấn của Ngài để tiếp nối công cuộc giáo hóa, mang ánh sáng trí tuệ đến với nhân gian. Khám phá hành trình đầy ý nghĩa này tại chiasedaophat.com.

Kể từ khi giáo Pháp của Đức Phật được lan tỏa, Ngài đã dành hơn 45 năm du hóa và giảng dạy, để lại dấu chân hoằng pháp trên khắp thế gian. Qua đó, các Thánh Tăng đệ tử đã chứng ngộ nhiều quả vị, hàng phục những tư tưởng bất đồng và quan điểm khác biệt, giúp chúng sanh thấm nhuần sự giác ngộ từ lời dạy của Ngài. Trước khi khởi đầu công cuộc vận chuyển Bánh xe Pháp, Đức Phật đã nhắn nhủ các đệ tử: “Vì lợi ích cho số đông, vì lợi ích cho chư thiên và loài người. Vì thế, quý thầy giáo hóa chúng sanh, quý vị nên đi mỗi người mỗi ngả, không đi hai người một ngả.”

Hoằng pháp trong Phật giáo từ xưa tới nay 1

Hoằng pháp là một công tác quan trọng để con người thấm nhuần chính pháp, giác ngộ giáo lý của Chư Phật.

Tăng Ni, những người làm công tác hoằng pháp, là trụ cột của Chánh Pháp, đại diện cho Tăng già, thay Phật làm việc Phật. Câu nói “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi bản hoài, tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự” thể hiện tinh thần này: “Vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai”. Nhà Như Lai là tâm từ bi lớn trong tất cả chúng sanh. Y Như Lai là lòng nhu hòa nhẫn nhục. Tòa Như Lai là Nhứt thiết pháp không để an trụ nơi bảo sở. Do đó, chúng ta không thể đứng nhìn đạo Phật đi vào quên lãng hay chậm phát triển. Cần dõng mãnh dấn thân phụng sự vì Đạo pháp và Dân tộc, tôn trọng lý tưởng mỗi thành viên đã chọn để mang lại lợi lạc về sau.

Những người làm công tác hoằng pháp lấy sự nghiệp phục vụ chúng sanh làm niềm vui và sức sống, lấy sứ mạng độ sinh để duy trì mạng mạch Phật Pháp, và lấy lý tưởng giác ngộ thành Phật để nêu cao ngọn đuốc trí tuệ và từ bi. Chỉ khi đó, công việc hoằng pháp hải ngoại của Phật giáo Việt Nam mới thực sự mạnh mẽ, trẻ trung, vững bước hành đạo, đáp ứng nhu cầu của tín đồ trong và ngoài nước, cũng như nhu cầu của Phật giáo hiện nay.

Trong công việc hoằng pháp ngày nay, chúng ta cần tiếp tục dương cao ngọn cờ đạo pháp, dân tộc. Lấy tinh thần dấn thân phục vụ xã hội làm sức mạnh, niềm vui và lý tưởng sống. Dù nhập thế, chúng ta vẫn giữ vững bản tâm, không bị hòa tan trong trần thế.

Hoằng pháp trong Phật giáo từ xưa tới nay 2

Việc hoằng pháp của Phật cũng như những vị tiền bối bằng thân giáo, khẩu giáo của quý Ngài là giúp cho chúng sinh hiểu được thiện ác. Nhằm phát huy điều thiện, xa lìa điều ác, vì mục tiêu của đạo Phật là “Không làm điều ác, thực hành các hạnh lành, giữ tâm ý trong sạch, đó là lời chư Phật dạy”.

Đức Phật là một nhà giáo dục, một nhà hoằng pháp vĩ đại nhất trong lịch sử. Bằng thân giáo và khẩu giáo, Ngài không phân biệt đối xử với bất kỳ ai, thuộc tầng lớp xã hội nào. Đức Phật dạy rằng Ngài đã tìm ra và đi trọn vẹn trên “Con đường cổ xưa, các đức Phật quá khứ đã từng đi qua”. Ngài khẳng định con đường này không bao giờ lỗi thời: “Quá khứ chư Phật đã dạy như thế, vị lai chư Phật sẽ dạy như thế, và hiện tại Ngài cũng đang dạy như thế.” Những đóng góp của Đức Phật cho chúng sanh trong quá khứ không khác gì những gì Phật giáo đã cống hiến cho nhân loại suốt 25 thế kỷ qua.

Phương pháp và vai trò của giáo dục, hoằng pháp của Ngài đã quá rõ ràng và đầy đủ, không cần bàn thêm. Đức Phật dạy: “Hãy tự xem con là hải đảo của con, hãy tự xem con là nơi nương tựa của con. Không nên tìm nương tựa nơi ai khác.” Ngài cũng nhấn mạnh: “Các con phải tự mình nỗ lực. Các đấng Như Lai chỉ là đạo sư.” Hoằng pháp là công tác thiết yếu để con người thấm nhuần chính pháp và giác ngộ giáo lý của Chư Phật. Sau khi Thành đạo, Đức Phật Thích Ca đã ưu tiên nghĩ đến việc hoằng pháp, lập Tăng đoàn để chư Tăng lên đường hoằng dương chính pháp. Ngày nay, quốc gia nào có Giáo hội, quốc gia đó chắc chắn có Ban Hoằng pháp. Dù phương tiện hoằng pháp có khác nhau, mục tiêu cuối cùng vẫn là giúp chúng sinh am tường chính pháp.

Xem thêm: 2025: Đinh Tỵ 1977 "song hành" cùng ai để bứt phá thành công?

Hoằng pháp trong Phật giáo từ xưa tới nay 3

Đức Phật dạy: “Hãy tự xem con là hải đảo của con, hãy tự xem con là nơi nương tựa của con. Không nên tìm nương tựa nơi ai khác” và Ngài cũng nói rõ: “Các con phải tự mình nỗ lực. Các đấng Như Lai chỉ là đạo sư”.

Hoằng pháp thời xưa: Đức Phật và các vị tiền bối đã dùng thân giáo và khẩu giáo để giúp chúng sinh hiểu rõ thiện ác, từ đó phát huy điều thiện, xa lìa điều ác, đúng với mục tiêu của đạo Phật: “Không làm điều ác, thực hành các hạnh lành, giữ tâm ý trong sạch, đó là lời chư Phật dạy”. Hoằng pháp không chỉ giới hạn ở việc giảng dạy giáo pháp hay biên soạn kinh điển. Thời xưa, việc Đức Phật và chư Thanh văn đệ tử trì bình khất thực vào mỗi buổi sáng cũng là một hình thức hoằng dương chính pháp, mang lại hiệu quả thiết thực. Nhiều người khi thấy Đức Phật khất thực đã khởi lòng tín thành và quy y. Hoạt động khất thực thể hiện tinh thần nhập thế của Đức Phật, vừa cầu quả vị giải thoát, vừa hóa độ chúng sinh, tạo duyên cho họ gieo nhân lành và có cơ hội nghe giảng giáo lý cả về lý thuyết lẫn thực hành. Khất thực còn thể hiện hạnh Từ bi, tinh tiến và nhẫn nại trong giáo lý đạo Phật. Truyền thống này hiện nay chỉ còn được giữ gìn ở Phật giáo Nam truyền.

Về phương pháp hoằng pháp ngày xưa, Đức Phật sử dụng hai phương tiện chính: đi bộ và thần thông. Theo Tăng Chi bộ kinh, sinh hoạt hàng ngày của Đức Phật bao gồm:

  • Buổi sáng: Đi trì bình khất thực trong làng.
  • Buổi chiều: Thuyết pháp dưới bóng cây xanh để độ chúng sinh.
  • Buổi tối: Dạy đạo cho chư Tăng.
  • Khuya: Giải đáp thắc mắc cho chư thiên.
  • Rạng đông: Nhập từ bi quán để tìm kiếm chúng sinh hữu duyên tiếp độ.

Hoằng pháp trong Phật giáo từ xưa tới nay 4

Người hoằng pháp phải có tư cách đạo đức, thiếu yếu tố này công cuộc hoằng pháp bị hạn chế. Người hoằng pháp, đức Phật không giới hạn cho người xuất gia.

Người làm công tác hoằng pháp cần có tư cách đạo đức vững vàng, nếu thiếu yếu tố này, công cuộc hoằng pháp sẽ gặp nhiều hạn chế. Đức Phật không giới hạn việc hoằng pháp cho người xuất gia. Bậc xuất gia cần Tam y, một bình bát, gìn giữ giới luật trang nghiêm, thanh tịnh. Người cư sĩ tối thiểu cần nghiêm trì năm giới. Nền tảng giáo dục căn bản của Phật giáo là Giới-Định-Tuệ, ba yếu tố không thể tách rời, liên kết chặt chẽ như hình với bóng. Giới là nền tảng sinh ra Định và Tuệ; không có Giới, sẽ không có Định và Tuệ.

Khi người giảng pháp thiếu giới luật, người nghe cũng khó tập trung. Người thầy cần làm gương mẫu về thân giáo và ý giáo. Người nghe cần có lòng tin nơi người thuyết giảng, hiểu và thực hành Phật pháp để đạt được kết quả. Thiếu niềm tin là thiếu tất cả; có niềm tin mới có tấn, niệm, định và tuệ.

Trong các bài thuyết pháp, Đức Phật thường sử dụng bốn phương pháp giúp người nghe dễ lãnh hội: Giải thích, thuyết phục, sách tấn và khích lệ. Giải thích giáo lý giúp người nghe nhận chân nhân quả, bỏ tà quy chính, lìa mê hướng giác, chấm dứt sinh tử luân hồi. Thuyết phục giúp người nghe thấy được giá trị của Pháp bảo, không dám xao lãng. Sách tấn động viên người nghe tinh cần tu tập, gia tăng hạnh tinh tiến và nhẫn nại. Khích lệ chỉ ra lợi ích khi thực hành chính pháp. Đức Phật dạy người giảng pháp phải thông hiểu năm phận sự của mình:

Tìm hiểu thêm: Trúc Lâm Từ Đường: Chốn tâm linh thanh tịnh và kiến trúc Thiền Trúc Lâm độc đáo

  • Thuyết tuần tự thứ lớp, từ thấp lên cao.
  • Thuyết y cứ theo pháp môn và kinh điển.
  • Thuyết vì lòng từ bi, mong muốn người khác được lợi ích.
  • Thuyết không vì lợi lộc, không mong cầu đền đáp.
  • Thuyết không đụng chạm đến mình và người khác, không cố ý châm chích, khen mình chê người.

Hoằng pháp trong Phật giáo từ xưa tới nay 5

Trí tuệ phát sinh là nhờ đọc kinh sách, nghe thuyết giảng, chiêm nghiệm những gì đọc và nghe Phật pháp, tu tập thiền quán.

Nếu người giảng pháp thiếu một trong năm yếu tố này, nhiệm vụ hoằng pháp sẽ không được trọn vẹn. Thuyết pháp khác với hùng biện của các nhà tâm lý hay chính trị. Không nên mượn diễn đàn Phật pháp để thể hiện tri kiến cá nhân, dùng hiểu biết thế học hay danh ngôn của người khác để giảng Phật thuyết. Tuyệt đối không dùng giáo lý Phật để châm chích, chê bai người khác, hay làm vũ khí công kích các học thuyết khác nhằm tô điểm bản ngã. Người giảng pháp cần dùng ngôn ngữ từ bi, hỷ xả, chí công vô tư, không vì lợi lộc, chỉ với mục đích duy nhất là giúp người nghe hiểu lời Phật dạy, áp dụng tu hành, đoạn trừ tham, sân, si, chấm dứt sinh tử luân hồi. Tăng Chi bộ kinh quyển ba cũng nêu rõ năm lợi ích của người nghe pháp:

  • Nghe được pháp chưa từng nghe.
  • Thông suốt pháp đã nghe.
  • Đoạn trừ được nghi hoặc.
  • Giúp tri kiến đúng đắn.
  • Nội tâm trong sáng.

Hoằng pháp trong Phật giáo từ xưa tới nay 6

Người tu học trong nhà Phật thời trước đây là hành giả, sống trong chúng, theo tinh thần lục hòa cộng trụ, học trò phải gặp được minh sư.

Trí tuệ phát sinh từ việc đọc kinh sách, nghe thuyết giảng, chiêm nghiệm Phật pháp và tu tập thiền quán. Nghe Phật pháp là một trong những điều kiện quan trọng để trí tuệ gia tăng. Có nghe mới hiểu, có hiểu mới hành, có hành mới thành tựu. Đa số chư thiên và nhân loại giác ngộ, giải thoát là nhờ nghe Phật pháp.

Vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch, khoảng 300 năm sau Phật nhập Niết Bàn, vua Asoka, người có công xiển dương Phật Pháp, đã cử con trai, con gái cùng các nhà hoằng pháp là Tăng sĩ Mahendra và Ni giới Mahasamghitta sang nước ngoài. Cây Bồ đề, biểu tượng cho sự giác ngộ, đã được trồng tại Sri Lanka và còn tồn tại đến ngày nay.

Thời xưa, người tu học trong nhà Phật là hành giả, sống hòa hợp trong Tăng chúng theo tinh thần lục hòa cộng trụ, và người học trò cần gặp được minh sư. Mối quan hệ thầy trò gắn kết, trò kính thầy, thầy thương trò, mọi bước đi, cách sống, cách học tập đều có sự cố vấn của thầy. Khi thành đạt, trò mang tinh thần dấn thân, phụng sự nơi chúng sanh cần, có tinh thần cộng đồng, đoàn thể và phục vụ số đông. Hoằng pháp ngày nay: Hiện nay, phần lớn Phật tử đến chùa tụng kinh tối, công phu chiều, lạy sám trong các ngày lễ vía, khóa tu với số lượng đông đảo, thậm chí tụng cả tam tạng kinh điển.

Hoằng pháp trong Phật giáo từ xưa tới nay 7

Ngày nay việc hoằng pháp thông qua: Thông tin đại chúng, Website, livetream, Công nghệ kỹ thuật số 4.0 trong Online, Google, Youtube, Facebook, Zalo, Email, Laptop, Phone… Vậy, người hoằng pháp phải am tường thế học, giáo lý, kinh qua các trường lớp Phật học từ: Trường lớp sơ cấp, trung cấp, đại học, và hậu đại học, mới thích ứng được tình hình thời đại.

Đây là phương thức có phần khác biệt so với thời Đức Phật còn tại thế. Mục đích của hoạt động này là để Phật tử thấm nhuần chính pháp sau mỗi buổi tụng kinh. Người tụng kinh cần có chính niệm và tỉnh thức để không tụng lầm lẫn. Tụng kinh, công phu cũng là cách để tăng trưởng chính niệm trong đời sống tu tập. Người tổ chức tụng kinh, thiền định, học đạo để truyền năng lượng cho chúng sanh cũng là người hoằng pháp. Các lễ nghi trong đời sống cư sĩ như đám ma, đám cưới, đám giỗ, khi thỉnh chư Tăng đến tụng kinh cầu nguyện và ban phước lành, cũng là hình thức hoằng pháp. Thường trong các lễ nghi này có tổ chức thuyết giảng Phật pháp để thí chủ thực hiện tài thí, vật thí và pháp thí. Đám ma là một nghi lễ hiệu quả để giảng giải Phật pháp cho tang quyến, giúp họ thấy được sự vô thường của thế gian, từ đó nhàm chán và hướng về đạo.

Viết kinh, dịch và in sách là một bộ phận quan trọng của công tác hoằng pháp, mang lại lợi ích lớn lao và giá trị cao. Xuất bản kinh điển, tác phẩm thiền là món quà tinh thần quý giá, có khả năng chuyển hóa đời sống nội tâm của Phật tử. Ấn tống, biếu tặng kinh sách cũng là một nghệ thuật hoằng pháp.

Khám phá: Âm mưu đổi đời: Khi lòng tham và tình yêu hóa bi kịch

Có thể nói, phương tiện hoằng pháp ngày nay thuận lợi hơn nhiều so với thời Đức Phật. Tuy nhiên, vẫn chưa thể khẳng định là thành công hoàn toàn. Chư Tăng có thể di chuyển từ tỉnh này sang tỉnh khác, quốc gia này sang quốc gia khác bằng xe, máy bay, hoặc liên lạc qua điện thoại. Thậm chí, trong một ngày, có thể thuyết pháp ở quốc gia này vào buổi sáng và ở quốc gia khác vào buổi chiều.

Hoằng pháp trong Phật giáo từ xưa tới nay 8

Hoằng pháp xưa và nay tuy phương thức có khác biệt theo biến thiên của thời gian và sự tiến bộ văn minh con người, nhưng mục đích đều hướng dẫn đại chúng thâm nhập và liễu ngộ chính pháp.

Trong trường hợp Phật tử hấp hối ở bệnh viện bên kia bán cầu, người hoằng pháp có thể dùng điện thoại để đọc kinh và ban lời đạo từ, đáp ứng nguyện vọng của họ. Hoạt động từ thiện Phật giáo như phát quà cho người bị thiên tai, đến vùng sâu vùng xa, cũng thể hiện tinh thần hoằng pháp lợi sinh. Các hoạt động như cơm cho người già, xây giếng nước, mái chùa, nhà tình thương, hay chăm sóc, dạy dỗ trẻ em lang thang, bất hạnh cũng mang ý nghĩa hoằng pháp. Những hành động này thể hiện lòng từ thiện, nhưng cũng hàm chứa ý nghĩa hoằng pháp, khi giúp mọi người nhận ra rằng Phật giáo là nơi nương tựa. Ngày nay, hoằng pháp được thực hiện thông qua thông tin đại chúng, website, livestream, và công nghệ kỹ thuật số 4.0 như Google, Youtube, Facebook, Zalo, Email, Laptop, Phone… Do đó, người hoằng pháp cần am tường thế học, giáo lý, và kinh qua các cấp lớp Phật học từ sơ cấp đến hậu đại học để thích ứng với thời đại.

Tóm lại, hoằng pháp xưa và nay có sự khác biệt về phương thức do biến thiên của thời gian và sự tiến bộ văn minh của con người, nhưng mục đích cuối cùng vẫn là hướng dẫn đại chúng thâm nhập và liễu ngộ chính pháp. Cuộc sống thời xưa tuy giản đơn, phương tiện hạn chế và vất vả, nhưng phẩm chất và kết quả đạt được vẫn chiếm ưu thế. Ngày nay, khoa học phát triển, việc tiếp cận Phật pháp trở nên dễ dàng hơn.

Hoằng pháp trong Phật giáo từ xưa tới nay 9

Đức Phật dạy về Tứ đế, Bát chánh đạo, chỉ rõ nguyên nhân của khổ, phương pháp diệt khổ và an lạc hạnh phúc có được sau khi đoạn tận nguyên nhân của khổ.

Chúng ta có thể ngồi trước máy vi tính để giải đáp và học hỏi toàn bộ kinh điển Phật giáo bằng nhiều phương pháp. Tuy nhiên, sự thuận lợi của văn minh đôi khi dẫn đến sự lười biếng và những mặt trái của thông tin đại chúng, cũng như sự thiếu hiểu biết và suy giảm phẩm chất đạo đức. Đức Phật đã dạy rằng Ngài chỉ là bậc Đạo sư, chỉ đường, còn việc đạt đến đích, sớm hay muộn là tùy thuộc vào nỗ lực của mỗi người, có chịu đi hay không, đi nhanh hay chậm.

Đức Phật dạy về Nhân quả, Nghiệp báo, Duyên sinh, Vô thường, Vô ngã, chỉ rõ bản chất của đời sống. Ngài dạy về Tứ đế, Bát chánh đạo, chỉ rõ nguyên nhân của khổ, phương pháp diệt khổ và con đường dẫn đến an lạc, hạnh phúc sau khi đoạn tận nguyên nhân của khổ. Tuy nhiên, đôi khi chúng ta không quan tâm, không ghi nhớ những lời dạy của Ngài, không đi theo con đường Ngài chỉ để đạt được điều mình mong muốn. Thay vào đó, chúng ta chạy theo những ảo tưởng mê lầm, niềm tin mù quáng, hành động theo cảm tính, đến với Ngài bằng niềm tin và những hành động sai lầm gây đau khổ về sau. Điều này khiến chúng ta xao lãng bổn hoài trong đời sống tu tập, không hướng đến đời sống giải thoát và giác ngộ.

Hành trình hoằng pháp của Phật giáo, từ những lời dạy đầu tiên của Đức Phật cho đến những phương tiện kỹ thuật số hiện đại, luôn mang trong mình sứ mệnh cao cả là dẫn dắt chúng sanh đi trên con đường giác ngộ. Để hiểu sâu hơn về những khía cạnh đa dạng và những bài học quý báu từ chặng đường này, mời quý vị khám phá thêm trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang