Định nghĩa bạn bè và kẻ thù tưởng chừng đơn giản, nhưng thực tế lại ẩn chứa nhiều tầng lớp phức tạp. Để phân định ranh giới giữa hai thái cực này, chúng ta cần nhìn xa hơn những biểu hiện bên ngoài và khám phá tận cùng bản thể của chính mình. Cùng tìm hiểu cách làm sáng tỏ mối quan hệ xung quanh bạn tại Website Chia sẻ Đạo Phật.
Kẻ thù, theo cách hiểu thông thường, là những người có ý định chống đối, cản trở hoặc gây hại cho người khác. Ngược lại, bạn bè là những người luôn đồng hành, hỗ trợ và mong muốn điều tốt đẹp cho ta. Tuy nhiên, trong cuộc sống, mối quan hệ giữa người với người đôi khi phức tạp hơn nhiều. Có những người tưởng chừng là thù lại hóa ra là bạn, và ngược lại. Vì vậy, thay vì đánh giá qua lời nói hay hành động bề ngoài, điều quan trọng là cần thấu hiểu sâu sắc tâm ý của họ trước khi đưa ra bất kỳ kết luận nào.
Khái niệm “chính mình” hay “cái tôi” là trung tâm của vấn đề này. Nếu chúng ta có thể trả lời được câu hỏi “Tôi là ai?”, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn liệu ai đó là bạn hay thù của mình. Câu hỏi này tưởng chừng đơn giản nhưng lại ít khi được đặt ra. Nhiều người sống cả đời mà không hề suy ngẫm về bản thân mình là ai, mình là gì.
Điểm khác biệt căn bản giữa con người và các loài vật chính là lý trí, sự hiểu biết và lương tâm. Nhờ có những yếu tố này, chúng ta có khả năng phân biệt đúng sai và không thể buông xuôi theo số phận, trôi dạt trong vòng luân hồi. Thay vì để tham, sân, si chi phối, chúng ta cần dừng lại, quay về với chính mình để nhận thức rõ con người chân thật, từ đó thấu hiểu chân lý và cống hiến cho xã hội.
Phần lớn chúng ta tin rằng mình sở hữu một cái tôi hữu hình, độc lập, có suy nghĩ riêng và quyền tự do quyết định vận mệnh. Một số người còn tin vào sự tồn tại của linh hồn tách biệt với thể xác, có thể tồn tại vĩnh cửu ngay cả khi thân xác hoại diệt.
Thực chất, kẻ thù lớn nhất của đời người chính là chủ nghĩa cá nhân hay bản ngã, tức là cái tôi, cái ta. Khi xem mình là trung tâm vũ trụ, ta dễ dàng sinh ra tranh đấu, xung đột và gây hại lẫn nhau. Quan niệm “ta là trên hết” khi trở nên cố chấp sẽ biến thành một loại “siêu vi khuẩn” độc hại, sinh ra các căn bệnh nguy hiểm như tham lam, ích kỷ, lười biếng, bảo thủ, kiêu ngạo, ham danh vọng, quyền lực, hưởng thụ quá đáng và sẵn sàng triệt hạ người khác. Đây chính là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng lên trên hết mà không màng đến lợi ích chung.
Chủ nghĩa cá nhân: Nguồn gốc của sự độc đoán và xung đột
Chủ nghĩa cá nhân đặt lợi ích của bản thân và gia đình lên trên lợi ích chung của cộng đồng, dân tộc. Những người mang nặng tâm lý này chỉ mong muốn người khác vì mình chứ không có lòng vì mọi người. Khi cái tôi ngự trị, họ không từ bất kỳ hành động sai trái nào để đạt được mục đích, bởi lẽ họ luôn cho rằng “ta là trên hết”. Đức Phật đã dạy rằng kẻ thù lớn nhất của con người chính là sự chấp trước vào cái tôi có thật.
Người có địa vị cao trong xã hội, nếu bị chi phối bởi chủ nghĩa cá nhân, dễ dàng lạm dụng quyền lực để tham nhũng, bóc lột, lãng phí tài sản công và thiếu trách nhiệm.
Vậy, kẻ thù lớn nhất của con người là gì? Đó chính là sự sai lầm trong nhận thức, chấp trước vào một cái ngã thật sự, từ đó sinh ra chủ nghĩa cá nhân và gây tổn hại cho bản thân cũng như xã hội. Ngược lại, nếu chúng ta chiến thắng lòng tham, biết giúp đỡ người khác với tâm hồn vị tha, vô ngã, thì sẽ không có kẻ thù nào có thể làm hại được ta.
Lịch sử đã chứng minh điều này qua cuộc đời của Đức Phật. Ngài đã đối mặt với vô số oan trái, hãm hại từ thế gian. Chính nhờ sự bình thản, an nhiên tự tại, không cần minh oan, Ngài đã làm sáng tỏ những kẻ si mê, thiếu hiểu biết. Đức Phật không xem ai là kẻ thù, mà chỉ thấy đó là những người chưa thông cảm với nhau.
Theo quan niệm thế gian, con người sinh ra để tìm kiếm và hưởng thụ những gì cuộc sống mang lại: sự nghiệp, gia đình, danh vọng, quyền lực, tiền tài, tình yêu… Tuy nhiên, khi nhắm mắt xuôi tay, tất cả đều phải bỏ lại, nhường cho người ở lại hưởng thụ. Chúng ta ra đi trong tiếc nuối vì không mang theo được thứ gì.
Trong quá trình phát triển giống nòi, con người luôn tìm kiếm hạnh phúc và sự hưởng thụ. Nhưng vô tình, chúng ta lại gây đau khổ cho người khác và muôn loài. Sự tranh giành, bám giữ để bảo vệ “cái ta” dẫn đến tàn sát lẫn nhau. Những người thiếu hiểu biết thường lầm tưởng rằng mục đích của cuộc đời là để thỏa mãn những tham vọng vô tận.
Cuộc sống thế gian cứ thế tạo ra ba thứ độc hại là tham, sân, si, khiến ta ngày càng chìm sâu vào sự chấp ngã vào thân tâm này. Trong suốt quá trình sống, chúng ta tìm cách chiếm đoạt, tranh giành, tạo ra sự tham đắm không bờ bến, làm tổn hại đến cuộc sống xung quanh bằng những thói quen và hành động xuất phát từ sự thiếu hiểu biết hoặc cố ý vi phạm.
| Ảnh minh họa (Nguồn: Internet) |
Lòng tham của con người: Một cái giếng không đáy
Việc tích lũy và nắm giữ thật nhiều cho bản thân là những thói quen sâu rễ, là nghiệp tập dày dặn của mỗi người. Từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành, lập gia đình, gây dựng giống nòi, chúng ta đều hành động để bảo vệ “cái ta” ích kỷ này. Cuộc sống bình thường của đa số mọi người là sự phát triển “cái ta”, “cái của ta”, và bảo vệ “cái ta” của mình, gia đình mình, đất nước mình. Chính vì chấp trước vào cái ta này mà chúng ta sẵn sàng chiếm đoạt, giết hại lẫn nhau để bảo vệ một cái ta tạm bợ, giả tạo.
Sự bám víu vào tâm thức này khiến con người bị trói buộc về nhận thức vào đối tượng mà mình bám víu. Càng nắm giữ nhiều, sự dính mắc và lệ thuộc càng lớn. Do đó, ta khó lòng buông xả. Đây chính là thói quen tích lũy từ sự chấp ngã vào thân tâm này.
Cuối cùng, do không nhìn thấy rõ bản chất hư ảo của thân tâm, ta bị lệ thuộc và trói buộc bởi những thứ mà ta lầm tưởng là vĩnh viễn của mình ở cõi đời này. Tài sản, của cải dù có tạo ra cũng chỉ là sự nắm giữ tạm thời. Khi hơi thở cuối cùng buông xuống, tất cả đều phải bỏ lại.
Càng chấp giữ “cái ta” và “của ta”, chúng ta vô tình càng củng cố thêm cái ta của mình. Khi đã chấp chặt vào cái ta này, phiền não tham, sân, si ngày càng gia tăng. Sự hoang mang, lo sợ khi mất mát dẫn đến tổn thương nặng nề. Chúng ta cần thấu rõ rằng “không nắm giữ” không có nghĩa là “không có gì”, mà là không dính mắc, bám víu vào cái ta và của ta.
Chúng ta vẫn cần ăn uống để sống, làm việc, đóng góp cho gia đình và xã hội. Ta có nhà để ở, tránh mưa nắng. Ta vẫn có mọi thứ phục vụ nhu cầu sự sống, nhưng không nên dính mắc, tham đắm vào chúng. Khi có thời gian suy xét, mỗi người chúng ta đã vô tình làm tổn hại nhiều “đóa hoa của cuộc đời”: tình bạn, gia đình, những mối quan hệ mật thiết, thiên nhiên hùng vĩ… tất cả chỉ vì mong muốn tranh giành, chiếm đoạt, hưởng thụ cho riêng mình.
Những người có nhận thức sáng suốt và hiểu biết chân chính đến với cuộc đời này để tô điểm, làm đẹp thêm cho cuộc đời. Họ đến để học hỏi, sẻ chia, dấn thân phục vụ, nâng đỡ và cống hiến, chứ không phải để cai trị. Họ ung dung tự tại đi qua cuộc đời mà không cố chấp, không tranh chấp, dính mắc vào cái ta và của ta, nhờ vậy đóng góp được nhiều lợi ích lớn lao cho nhân loại.
Càng không bám chấp, cuộc đời càng trải rộng trong tự do, không bị ràng buộc bởi những mê muội của thế gian. Càng có tấm lòng rộng mở, cuộc đời càng tự do, bình yên và hạnh phúc. Vô minh che lấp khiến ta si mê, chấp thân này là ta, chấp tâm suy tư, nghĩ tưởng là mình, từ đó dẫn đến sai lầm trong nhận thức và tạo ra các nghiệp thiện ác.
Chấp thân này là ta là một căn bệnh phổ biến của thế gian. Chấp tâm này là ta thường thấy ở những người tu hành theo quan niệm thần ngã, tin vào một đấng chủ tể ban phước giáng họa. Tất cả phàm phu đều chấp thân này là ngã, cho nó là thật, là lâu dài, là cao quý, rồi đam mê, tham lam vì nó. Đặc biệt là những người có quyền cao chức trọng, họ xem mình là ta, là của ta, là trung tâm vũ trụ, nên làm gì cũng vơ vét về cho mình. Ai làm trái ý họ thì sinh thù hận, tìm cách hủy diệt.
Nhận thức sai lầm: Nguồn cơn của sự tổn hại lẫn nhau
Thế giới này, từ khi con người xuất hiện, do lầm chấp thân này là thật, đã nhẫn tâm tranh giành, giết hại lẫn nhau để giành quyền lợi. Lịch sử nhân loại là minh chứng rõ ràng cho điều này. Trái đất này không của riêng ai mà là phước nghiệp chung của tất cả chúng sinh. Do đó, con người cần ngồi lại cùng nhau tìm ra giải pháp tốt đẹp nhất để đoàn kết, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần vô ngã, vị tha.
Nếu mỗi người thường xuyên quán chiếu về thân để nhận rõ bản chất thực hư của nó, thế giới sẽ không còn khủng bố, chiến tranh, thiên tai gây đau thương, tang tóc. Theo triết học Phật giáo, mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian đều không có chủ thể cố định. Chúng nương tựa vào nhau theo nguyên lý duyên khởi để thành-trụ-hoại-không, hay sinh-trụ-dị-diệt. Vậy, thân này có thật là ta không?
Theo lời Phật dạy, thân này được hội đủ ba yếu tố: tinh cha, huyết mẹ và thần thức của một chúng sinh. Ba yếu tố này, khi gặp nhau đủ nhân duyên, sẽ tạo ra một thân mới. Khi cha mẹ giao hợp, tinh trùng của cha (dương) hòa hợp với noãn bào của mẹ (âm), cùng với thần thức của chúng sinh, tạo thành sức mạnh tác động đến quá trình thụ thai, hình thành thân mới. Thai nhi lớn dần nhờ thức ăn, nước uống từ người mẹ, cho đến khi đủ tháng ngày thì sinh ra.
Đứa bé chào đời sống được là nhờ dòng sữa mẹ, nhờ học hỏi và vay mượn từ bên ngoài để biết lật, bò, nói, đi. Đã là vay mượn thì làm gì có chủ thể cố định. Cái gì là thật thì trước sau như một, không thay đổi theo thời gian. Vậy mà ai cũng lầm chấp thân này là ta, là của ta, rồi bám víu vào đó mà sinh ra tranh chấp, hơn thua, giành phần thắng về mình và triệt hạ lẫn nhau vì quyền lợi riêng tư.
Thân này tồn tại được là nhờ sự hòa hợp của tứ đại bên trong với tứ đại bên ngoài để nuôi dưỡng. Tứ đại gồm đất (chất cứng), nước (chất lỏng), gió (sự hoạt động) và lửa (nhiệt độ). Hằng ngày, chúng ta cần vay mượn thức ăn, thức uống. Đưa vào rồi lại trả ra. Cứ như thế từ ngày này qua tháng nọ. Nếu lỡ đưa vào mà không trả ra được thì phải tìm cách uống thuốc tiêu hóa hoặc phẫu thuật.
Thân này sống được nhờ bốn chất tứ đại bên ngoài. Cơ thể phải nạp vào rồi trả ra, nếu không sẽ làm tứ đại bất an, sinh bệnh. Người hay cảm lạnh có thể do chất gió quá mạnh, làm rung động chất đất. Người hay nóng sốt là do nhiều lửa, cần đưa thứ gì mát vào để quân bình. Cứ như thế, chúng ta điều hòa thân tứ đại để đạt quân bình, tránh bệnh tật. Khi trong người không còn thân nhiệt và sự hoạt động của gió, tứ đại sẽ tan rã, tức là chết. Nhưng chết không phải là hết, chỉ là sự thay hình đổi dạng, tùy theo việc làm thiện hay ác trong hiện tại mà có thân mới tương xứng.
Chấp trước, dính mắc là nguồn gốc của đau khổ
Phật dạy, có thân thì phải trải qua sinh-già-bệnh-chết. Con người mong muốn sống lâu, luyện tập trường sinh bất tử để kéo dài sự sống, nhưng cuối cùng ai rồi cũng phải chết. Từ xưa đến nay, chưa ai có thân mà không chết.
Ngay cả Đức Phật Thích Ca cũng phải xả bỏ thân này ở tuổi 80. Cái gì thật thì trước sau như một, không biến đổi theo thời gian. Ngay cả khi trái đất này hoại diệt, cái thật đó cũng không hoại. Thân này do nhân duyên hòa hợp nên vô thường, bại hoại. Khi đủ duyên thì có thân này, khi hết duyên thì chuyển sang đời khác. Chúng ta cần thường xuyên quán chiếu thân này như vậy để không cố chấp, dính mắc vào những nhận thức sai lầm, gây tổn hại cho chúng sinh.
Cái lầm thứ nhất của phàm phu là cho thân này là thật, trong khi nó chỉ là sự hòa hợp vay mượn, không có chủ thể cố định.
Cái lầm thứ hai là thân này vay mượn hơi thở hằng ngày. Nếu ngừng thở vào, coi như chết ngay lập tức. Vậy mà ai cũng lầm chấp rằng mình sẽ sống lâu.
Vì hai cái lầm này, con người phải chịu khổ đau luân hồi vô số kiếp. Có một ông lão trên 80 tuổi đang xây nhà. Phật biết nhân duyên tuổi thọ của ông sẽ mãn vào buổi chiều hôm đó, nên thương xót báo cho ông biết và khuyên nhủ ông hồi đầu hướng thiện. Nhưng ông không nghe, vẫn mải miết chỉ dẫn thợ. Ông nói: “Hôm nay lão bận quá, phiền Ngài nói tóm lại bằng bài kệ để khi nào lão rảnh sẽ đem ra thực hành”.
Đức Phật nói bài kệ vô thường để nhắc nhở ông lão tỉnh giác. Ông lão miệng khen bài kệ hay nhưng hẹn Phật dịp khác. Sau đó, Phật trở về tịnh xá. Buổi chiều, một số cư sĩ đến báo tin ông lão bị cây kèo đập vào đầu và chết ngay tại chỗ.
Do lầm chấp thân này sống lâu, phàm phu cứ mãi bận rộn hết chuyện này đến chuyện kia mà không lo tu tập để chuyển hóa phiền não, khổ đau từ chỗ lầm chấp thân này là ta, là của ta. Như trường hợp ông lão, Phật đã biết trước nhân duyên nên đến khuyên nhủ, mong ông thức tỉnh, nhưng ông không nghe, cuối cùng chết trong tiếc nuối khi công việc còn dang dở. Trường hợp này sẽ rất khó đầu thai, thần thức có thể vất vưởng vì tiếc nuối việc chưa làm xong. Phật biết trước sự việc nhưng không cứu được ông lão, liệu có phải Phật quá dở?
Chúng ta cần hiểu rằng, Phật chỉ là vị thầy hướng dẫn. Việc làm được hay không là do bản thân mỗi người quyết định. Phật không phải là người ban phước giáng họa, cần thấu đáo điều này để tránh nhầm lẫn với các học thuyết thần ngã. Thân vô thường bại hoại mà chúng ta cứ lầm chấp thân này là ta, là của ta, rồi tạo nghiệp thọ khổ, làm hại lẫn nhau. Hầu hết mọi người đều tự xưng “tôi”, “ta”, “mình”, nhưng chẳng ai biết rõ ràng cái gì là tôi, là ta, là mình ở đâu.
Nếu nói cái thân nặng mấy chục ký này là tôi, là ta, là mình, thì xét cho cùng, nó sống nhiều lắm 100 năm cũng phải chết. Vậy khi đó, thân xác thúi rữa này là tôi ư? Là tôi sao được, bởi thân này do nhân duyên hòa hợp nên vô thường bại hoại. Đủ duyên thì có thân này, hết duyên thì thay hình đổi dạng, chuyển sang đời khác. Chính vì thế nên nó sinh-già-bệnh-chết. Vậy mà ai cũng lầm chấp thân này là ta, là tôi, là mình rồi làm tổn hại cho nhau.
Chấp tâm làm ngã là căn bệnh thâm căn cố đế của mọi người. Ai cũng thừa nhận cái hay suy tư, nghĩ tưởng, phân biệt, nhận thức, cảm thọ là tâm mình. Có người nói “tôi suy nghĩ nên tôi hiện hữu”. Vậy những lúc không suy nghĩ thì là ai, chẳng lẽ lại mất mình? Cái hay suy tư, nghĩ tưởng có hàng trăm ngàn thứ: buồn, thương, giận, ghét; phải, quấy, tốt, xấu; hơn, thua, đúng, sai; thiện, ác, lành, dữ. Có lúc hiền như Phật, có khi dữ như cọp. Tâm niệm luôn thay đổi liên tục, không lúc nào dừng nghỉ.
Khi nghĩ thiện là tôi, vậy khi nghĩ ác là ai? Chẳng lẽ cái tôi có nhiều thứ như vậy? Vừa buồn giận người kia, xin lỗi lại hóa vui; vừa ghét người đó, được năn nỉ lại hóa thương. Tâm niệm luôn thay đổi triền miên, không lúc nào dừng nghỉ, nhưng chung quy cũng nằm trong hai tâm niệm thiện và ác. Từ đó suy ra, tâm niệm luôn thay đổi theo thói quen huân tập hằng ngày.
Thích Đạt Ma Phổ Giác
Thấu hiểu những khía cạnh sâu sắc này về bản ngã, tham ái và sự vô thường sẽ giúp ta nhận ra kẻ thù thực sự của mình. Nếu bạn muốn khám phá thêm về con đường giải thoát khỏi những khổ đau này, mời bạn tìm hiểu thêm trong chuyên mục Đạo phật.