Khung cảnh lịch sử bộ kinh Phật giáo Milinda vấn đạo độc đáo hấp dẫn

0
(0)

Hành trình Phật giáo đã in dấu sâu đậm tại vùng Tây Bắc Ấn từ thuở xa xưa, nơi Ghandara và Bactria từng là những trung tâm văn hóa Phật giáo rực rỡ. Khám phá câu chuyện về Vua Milinda và Tỳ kheo Na-Tien, hai nhân vật trung tâm của bộ kinh Milinda-Panha, sẽ mở ra những góc nhìn mới về lịch sử phát triển của Phật pháp tại đây, một phần không thể thiếu trong hành trình tìm hiểu đạo lý qua Website Chia sẻ Đạo Phật.

Vùng đất này đã tiếp xúc với Phật giáo từ thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế. Theo kinh điển Thượng tọa bộ, hai thương nhân Tapassu và Bhallika từ xứ Bactria đã tìm đến Đức Phật, quy y và khi trở về quê hương đã xây dựng nhiều đền thờ Phật.

Vào thời điểm Alexander Đại đế xâm chiếm Bactria (329-327 TCN), vùng đất này đã hoàn toàn theo Phật giáo. Dưới triều đại của Hoàng đế Asoka Maurya (269-232 TCN), biên giới Ấn Độ mở rộng bao gồm cả Gandhara. Ông đã cử nhiều đoàn truyền giáo ra nước ngoài, góp phần lan tỏa Phật pháp mạnh mẽ. Những hạt giống Phật giáo mà Asoka gieo trồng tại đây đã phát triển mạnh mẽ, để lại dấu ấn sâu đậm trong vùng Tây Bắc Ấn, thể hiện qua các tượng Phật theo mỹ thuật Hy Lạp, những tiền đề của Phật giáo Đại thừa tại các trung tâm văn hóa Phật giáo rực rỡ, và bộ kinh Milinda-Panha (Di Lan Đà vấn kinh).

Bài viết này tập trung vào lịch sử của hai nhân vật chính trong bộ kinh Milinda-Panha là Vua Milinda và Tỳ kheo Na-Tien, thay vì đi sâu vào giáo nghĩa.

Vương quốc Bactria và xứ Gandhara nằm ở đâu?

Đối với người Aryan, vùng Tây Bắc Ấn Độ được xem là đất của Gandharvas – chư thiên với ngoại hình tuyệt mỹ, am tường âm nhạc và thần thông, thường được nhắc đến trong kinh Rig-Vedas. Do đó, vùng này được gọi là Gandhara, với kinh đô Taxila, nay thuộc Afghanistan và Pakistan. Vùng đất này phì nhiêu với năm con sông chảy qua, nên còn được gọi là Ngũ Hà, là phụ lưu của sông Indus. Sau khi nền văn minh lưu vực sông Indus suy tàn, vua Darius của Ba Tư đã chiếm đóng vùng này.

Do nằm trên tuyến đường giao thương chiến lược từ châu Âu sang châu Á, vùng đất này luôn là mục tiêu xâm lược của các đế quốc.

Các tư liệu lịch sử về giai đoạn này hiện nay rất phong phú, được tổng hợp từ nhiều nguồn như sử liệu cổ của Pakistan, Afghanistan, Trung Đông, các cổ vật khảo cổ, kinh điển Pali và Đại thừa, cùng các di tích tượng Phật. Các nhà sử học Hy Lạp cổ đại như Strabo và Plutarch cũng ghi lại nhiều thông tin quý giá về các vị vua gốc Hy Lạp ở vùng Tiểu Á.

Strabo (khoảng 63/64 TCN – 24 SCN) là một sử gia, triết gia và địa lý gia Hy Lạp nổi tiếng với tác phẩm “Geographia”. Plutarch (khoảng 45–125 SCN) là một nhà sử học và tiểu sử gia Hy Lạp, tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là “Cuộc đời của những danh nhân Hy Lạp và La Mã”.

Trước đó, vua Darius I của Ba Tư đã cử Scylax thám hiểm vùng Tây Bắc Ấn Độ và ghi lại trong cuốn “Peripulus”. Hectaeus và Herodotus cũng có viết về các thái thú Ba Tư ở vùng này.

Dưới thời Alexander Đại đế, các cuộc khảo sát cũng được ghi lại bởi Strobe, Ptolemy, Pliny, Arrian và nhiều người khác, mô tả chi tiết năm phụ lưu của sông Indus và bốn vương quốc trước khi Alexander xâm lược.

Núi Tu-di

Núi Tu-di (còn gọi là Meru hay Meros) được xem là ngọn núi thần thoại, trụ cột của Trái Đất trong văn chương và tôn giáo gốc Ấn. Theo Ấn giáo, đây là nơi cư ngụ của thần Shiva hoặc Vishnu.

Đạo quân của Alexander Đại đế tin rằng họ đã khám phá ra núi Meros và thành Nysa trên đó, nằm giữa hai thành Kapisa và Peucelaotis. Theo thần thoại Hy Lạp, đây là nơi sinh của thần Dionysus (đồng hóa với thần Shiva). Philostratus đã thuật lại trong “Life of Apollonius of Tyana” về chuyến viếng thăm Gandhara của Apollonius, nơi ông đã lên đỉnh Meros và thấy đền thờ thần Dionysus với bức tượng đá trắng mang dáng vẻ người thanh niên Ấn.

Sự hưng thịnh của triều đại Maurya ở Ấn Độ

Khoảng thế kỷ 4 TCN, kinh đô Pataliputta của nước Magadha trở thành trung tâm quyền lực của Ấn Độ. Kinh Đại Bát Niết Bàn đã dự đoán sự phồn thịnh của thành phố này, đồng thời cảnh báo về ba hiểm họa: lửa, nước và chia rẽ.

Năm 327 TCN, Alexander Đại đế xâm chiếm Ấn Độ, đánh bại quân Ba Tư và chiếm đóng Tiểu Á. Ông đã thành lập nhiều thành phố và tái dựng cố đô Kapisa. Khi định vượt sông Indus vào năm 325 TCN, ông bị chặn lại bởi vua Paurava và tướng Chandragupta Maurya. Alexander buộc phải rút về Babylon và qua đời tại đó.

Sau khi Alexander mất, các tướng lĩnh của ông đã chia nhau đế quốc. Seleukos I Nicator thành lập triều đại Seleukos, cai trị một vùng rộng lớn bao gồm Syria, Lebanon, Jordan, Mesopotamia, Ba Tư và Bactria.

Trong khi đó, năm 321 TCN, Chandragupta lật đổ triều đại Nanda và lập ra triều đại Maurya ở Ấn Độ.

Hoàng đế Seleukos I Nicator

Năm 304 TCN, Seleukos I cố gắng xâm lược Ấn Độ lần nữa nhưng bị Chandragupta Maurya đẩy lui. Hai bên sau đó đã lập hòa ước, trong đó Seleukos I nhượng lại vùng Baluchistan và gả con gái cho Chandragupta để đổi lấy 500 voi chiến. Seleukos I cũng đã cử sứ thần Megasthenes đến kinh đô Panaliputta, những ghi chép của ông cung cấp thông tin quý giá về đời sống chính trị của Magadha thời bấy giờ.

Chandragupta trị vì 23 năm, con trai ông là Bindusara kế vị và trị vì 25 năm. Vua Bindusara cũng có một sứ thần Hy-Bactria tại triều tên là Deimachus và duy trì mối quan hệ tốt đẹp với vua Antiochus I Soter thuộc dòng Seleukos.

Sau khi Bindusara băng hà, Asoka lên ngôi hoàng đế vào năm 269 TCN. Sau cuộc xâm lược đẫm máu vào Kalinga, Asoka hối hận và quy y Phật giáo, ra sức truyền bá đạo Phật. Ông đã cử đại sư Dharmaraksita đến hoạt động ở Tiểu Á.

Asoka có mối quan hệ đặc biệt với vùng Tây Bắc Ấn Độ, nơi ông từng làm phó vương và đặt dinh tại Taxila. Taxila lúc bấy giờ là một trung tâm thương mại, triết học và thần học nổi tiếng. Ông gọi thần dân gốc Hy Lạp ở vùng này là Yavanas. Khi ông ủng hộ Phật giáo, vùng này trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng.

Nhiều pháp dụ khắc đá của Asoka được tìm thấy khắp đế quốc, trong đó có những bia ký ở thung lũng Kabul ghi bằng tiếng Hy Lạp và Aramaic, cho thấy ông đã truyền bá chánh pháp đến nhiều quốc gia.

Sau khi Asoka mất vào năm 227 TCN, đế quốc Maurya bắt đầu tan rã. Năm 185 TCN, vua cuối cùng của dòng Maurya bị tướng Pusyamitra Sunga truất phế, lập ra triều đại Sunga. Vua Pusyamitra Sunga ủng hộ Ấn giáo và đàn áp Phật giáo.

Do đó, từ năm 180 TCN, các vua Bactria như Demetrios I, Demetrios II đã liên tục xâm lược Ấn Độ nhân danh giải cứu Phật giáo.

Sự hưng thịnh của Vương quốc Bactria và cuộc chinh phục đất Ấn

Năm 281 TCN, vua Seleukos I bị ám sát. Đế quốc Seleucid bị chia thành hai xứ: Syria và Parthia.

Vua Antiochus I cử Diodotos làm thái thú ở xứ Bactria. Khi thấy Syria và Parthia bận tiêu diệt lẫn nhau, Diodotos tự xưng làm vua vào năm 255 TCN, đóng đô ở Bactra. Tuy nhiên, vua Antiochus III của Syria đã tái lập quyền thống trị lên Bactria.

Sau khi Antiochus III bị quân La Mã đánh bại, Euthydemos, một đại thần của Diodotos, lên ngôi vào năm 227 TCN và đẩy lui các cuộc tấn công của Antiochus III. Năm 205 TCN, Euthydemos I đã chống cự thành công cuộc vây hãm thành Bactra, dẫn đến hòa ước giữa hai bên và hôn nhân giữa con trai Euthydemos I là Demetrios với con gái Antiochus III. Vương quốc Bactria từ đó hoàn toàn độc lập và các vị vua cai trị được gọi là vua Hy-Bactria.

Vua Diodotos

Euthydemos I còn bành trướng lãnh thổ đến vùng Tiểu Á.

Demetrios I (khoảng 200-180 TCN), người chinh phục Ấn Độ, được khắc trên đồng tiền cổ.

Sau khi Euthydemos I mất năm 200 TCN, con trai ông là Demetrios I kế vị. Năm 180 TCN, ông kéo quân xâm lược Ấn Độ, sáp nhập thung lũng Indus do chính sách bách hại Phật giáo của vua Sunga. Từ đó, các vua Bactria được gọi là Hy-Ấn. Đến năm 170 TCN, quân Bactria tiến đến miền đông Ấn Độ, bao vây kinh đô Pataliputra.

Năm 169 TCN, khi vua Demetrios II đang hành quân ở miền đông Ấn Độ, tướng Eucratides I cướp ngôi ở Bactra. Trên đường trở về dẹp loạn, vua Demetrios II tử trận. Em trai ông là Apollodots I kế vị nhưng không lâu sau cũng bị Eucratides I giết chết vào năm 165 TCN. Vương quốc của Eucratides I cũng tan rã nhanh chóng sau khi ông bị giết vào năm 150 TCN.

Vua Menander lên kế vị, dời đô về Sagala và ngừng cuộc vây hãm Pataliputra. Khi rút quân về Sakala, ông mang theo lý tưởng thuận trị theo Chánh Pháp của Asoka. Nhờ đó, Phật pháp tiếp tục được truyền bá mạnh mẽ đến Trung Á và xa hơn nữa. Ông trị vì 35 năm, nhưng sau khi ông mất, vương quốc rộng lớn của ông bắt đầu bị chia cắt.

Sagala (nay là Sialkot ở Punjab), kinh đô mới của nước Bactria, là nơi diễn ra cuộc đàm đạo giữa vua Menander và Tỳ kheo Nagasena tại chùa Sankheyya. Vùng đất này phì nhiêu, nằm giữa hai con sông Chenab và Ravi, gần biên giới Kashmir.

Tổng cộng có hơn 30 vị vua Hy-Ấn đã cai trị vùng này trong hai thế kỷ (323-10 TCN). Các triều đại Hy-Ấn suy tàn từ 130 TCN và cuối cùng bị người Kushan chiếm đoạt. Vua cuối cùng là Strato II (40-10 TCN).

Các vị vua của vương quốc Bactria với các năm trị vì:

Vương quốc Hy-Bactria:

  • Sophyteshay Seleukos (305-294 TCN)
  • Diodotos I (khoảng 250 – 230 TCN)
  • Diodotos II
  • Euthydemos I; lật đổ Diodotos (khoảng 230-200 TCN)

Vương quốc Hy-Ấn:

  • Demetrios I (khoảng 200-180 TCN) Con của Euthydemos I. Người đã chinh phục được Ấn.
  • Euthydemos II (190-171 TCN) Con của Demetrios I
  • Pantaleon (190-180 TCN) Con của Demetrios I
  • Demetrios II (175-170 TCN)
  • Apollodotos I (khoảng 174–165 TCN) Em của Demetrios II, sau bị phản loạn Eucratides I giết.
  • Antimachos I (171-160 TCN)
  • Agathokles (171-160 TCN) Con của Demetrios I đồng trị với Antimachos I
  • Menandros (khoảng 173–130 TCN) Kế vị Apollodotos I.
  • Eucratides I (171-145 TCN)
  • Eucratides II (145-140 TCN)
  • Epander (135 – 130 TCN)
  • Strato I (125 – 110 TCN)
  • Zoilos I (130 – 120 TCN)
  • Lysias (120 – 110 TCN)
  • Antialcidas (115 – 95 TCN)
  • Heliokles II (110 – 100 TCN): Vị vua sau cùng của vương quốc Bactria.
  • Philoxenus (khoảng 100–95 TCN)
  • Demetrios III & Aniketos (khoảng 100 TCN)
  • Diomedes (95 – 90 TCN)
  • Amyntas (95 – 90 TCN)
  • Theophilos (khoảng 90 TCN)
  • Peukoloas (khoảng 90 TCN)
  • Nicias (khoảng 90–85 TCN)
  • Menander II & Dikaios (90 – 85 TCN)
  • Archebios (90 – 80 TCN)
  • Hermaeus (khoảng 90–70 TCN)
  • Apollodotus II (80 – 65 TCN)
  • Hippostratos (65 – 55 TCN)
  • Dionysios (65 – 55 TCN)
  • Artemidoros (60-40 TCN)
  • Zoilos II (55 – 35 TCN)
  • Apollophanes (35 – 25 TCN)
  • Strato II (40 – 10 TCN)
  • Hermaeus (10-1 TCN) (Có lẽ không thực trị mà chỉ được truy phong sau khi mất).

Vua Menander hay Menandros

Vua Menander (khoảng 160–135 TCN) là vị vua vĩ đại nhất trong các vua Hy-Ấn, cai trị một vùng rộng lớn ở Tây Bắc Ấn Độ, bao gồm thung lũng Kabul, sông Ravi, thung lũng Swat, Arachosia và vịnh Arab.

Menander sinh năm 183 TCN tại “Alasandra” (nay là Alexandria của vùng Caucasus), kinh đô Kapisa cổ đại. Ông lớn lên ở thung lũng Kabul. Là một bộ tướng anh dũng, ông đã từng theo phò vua Demetrios II đánh đuổi quân Parthians và uy hiếp Pataliputra.

Menander được ngưỡng mộ vì tài đức, tài điều binh khiển tướng, trị quốc công minh, đối xử bình đẳng với các tôn giáo. Ông được xem là Vua Công Chính, Dharmaraja. Khi về già, ông chú trọng thảo luận về triết học và thần học, thường tranh biện với các nhà tư tưởng và làm họ sửng sốt vì kiến thức uyên bác. Trong một cuộc gặp gỡ với Tỳ kheo Nagasena, vua Menander đã bái phục và xin quy y theo Phật giáo, cho xây dựng tăng viện Milindavihara tại kinh đô Sagala.

Dưới triều đại Menander, Phật giáo có vị trí rất quan trọng. Đại sư Mahadhammarakkhita từ Alasandra đã dẫn đầu phái đoàn 30.000 tăng già Hy Lạp đến Sri Lanka để tham dự lễ xây dựng Đại Tháp tại Anuradhapura.

Sử gia La Mã Trogus Pompeius, cùng các nhà sử học Hy Lạp Strabo và Plutarch, đã ghi nhận công trạng của vua Menander. Strabo cho rằng Menander đã chinh phục nhiều bộ lạc hơn cả Alexander.

Nhiều đồng tiền dưới triều Menander có khắc hình ông và bánh xe pháp. Một số đồng tiền mang dòng chữ “Vua cứu độ Menander” bằng tiếng Hy Lạp và “Vua vĩ đại Menander truyền bá Phật giáo” bằng chữ Prakrit và Kharoshthi.

Theo truyền thống Phật giáo, ông đã nhường ngôi cho con để lui về ở ẩn. Tuy nhiên, Plutarch ghi rằng ông chết trên chiến trường trong cuộc viễn chinh tái chiếm Bactria bất thành khoảng 130 TCN. Plutarch viết: “Ông là một vị vua nổi danh rất chính trực và được lòng dân đến độ khi ông mất ở trận tiền, nhiều thành phố đã tranh nhau tro cốt của ông; sau cùng đã đồng ý chia đều để mang về tôn thờ trong các ngôi tháp lớn”.

Tỳ Kheo Na-Tien (Nagasena)

Nagasena, theo tiếng Sanskrit có nghĩa là “đoàn quân rồng”. Tiểu sử của ngài ít ỏi và mơ hồ, có thể do truyền thống Phật giáo không coi trọng bản ngã và danh vọng, hoặc do sử liệu bị thất lạc hoặc thần bí hóa.

Theo kinh Milinda-panha, ngài sinh tại làng Kajangala, dưới chân Hy Mã Lạp sơn, trong một gia đình Bà La Môn. Các sư phụ của ngài bao gồm đại sư Rohana, Assagutta, Dharmarakshita và Āyupala. Khi vua Menander đến vấn kinh, ngài đang trụ trì tăng viện Sankheyya với 80.000 tỳ kheo.

George Woodcock cho rằng Nagasena có thể là vị sư gốc Hy Lạp ở Bactria.

Cuộc xâm lấn của dân Scythian và Kushan

Vào khoảng giữa thế kỷ thứ 3 TCN, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc và đẩy lùi rợ Hung Nô. Rợ Hung Nô di dân sang phía Tây, đánh đuổi các bộ tộc Yuezhi đến vùng sông Ili. Sau đó, họ lại đẩy các bộ lạc Sakas (Scythians) di dân về phía Nam và Tây, vào các xứ Parthia rồi Bactria. Các bộ lạc Yuezhi tiếp tục xâm lấn vào Bactria, đuổi dân Scythians vào Afghanistan và Bắc Pakistan.

Ban đầu, dân Scythians sống hòa bình với các triều đại Ấn-Hy. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ 1 TCN, họ xâm chiếm toàn vùng, chấm dứt các tiểu vương quốc Ấn-Hy và lập nên vương quốc Indo-Scythian (90 TCN – 12 SCN). Sau khi vua Indo-Scythian cuối cùng là Azes II mất, vương quốc này bị người Kushan, một bộ phận của rợ Yuezhi, chiếm đoạt và lập nên Đế quốc Kushan.

Đế quốc Kushan tồn tại từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 3 SCN, trải dài từ Tajikistan đến biển Caspian và Afghanistan, cho đến thung lũng sông Hằng. Đây là trung tâm giao dịch giữa Đông và Tây. Các triều đại huy hoàng nhất là từ 100 đến 250 SCN.

Đến thế kỷ thứ 3 SCN, đế quốc Kushan bắt đầu tan rã. Sau khi vua Vasudeva I chết, đế quốc bị phân làm hai xứ đông và tây. Đến năm 224-240 SCN, các triều đại Kushan bị Shapur I của dân Sassanides lật đổ. Các triều đại Sassanides cai trị vùng này từ 224 đến 651 SCN.

Dưới thời Sassanides, Bái Hỏa giáo trở thành quốc giáo, nhưng cũng khoan dung với các tôn giáo khác, cho phép Phật giáo tiếp tục phát triển mạnh. Trong thời kỳ này, hai bức tượng Phật đồ sộ ở Bamiyan, Afghanistan đã được tạc vào núi đá.

Bái Hỏa giáo (Zoroastrianism) là tôn giáo độc thần thờ Ahura Mazda, do nhà tiên tri Zoroaster sáng lập. Nhiều học giả cho rằng Zoroaster sống trong khoảng 628 – 551 TCN.

Minh giáo (Manichaeism), một tôn giáo tương tự Bái Hỏa giáo, xuất hiện nhiều thế kỷ sau do Mani sáng lập. Mani từng đến Taxila học đạo và chịu ảnh hưởng Phật giáo.

Đến thế kỷ thứ 5, đế quốc Sassanides tan rã bởi sự xâm lăng của rợ Hung Nô mới, sau đó là sự trỗi dậy của đế quốc Gupta ở Ấn Độ theo Ấn giáo, rồi đến các thế lực Hồi giáo. Phật giáo cũng dần suy tàn.

Hoàng Đế Kanishka I

Hoàng đế Kanishka I (100-164 SCN) là vị vua vĩ đại của vương quốc Kushan, quy y theo Phật giáo và nhiệt tâm truyền bá đạo pháp. Lãnh thổ đế quốc Kushan dưới thời ông rất rộng lớn, kiểm soát Con đường Tơ lụa. Dưới triều đại của ông, nghệ thuật Phật giáo-Hy đạt đến đỉnh cao, tạo nên nền văn minh Gandhara. Nhiều đồng tiền dưới triều Kanishka I có khắc hình Đức Phật theo mỹ thuật Hy Lạp và mang dòng chữ Hy Lạp “Boddo”.

Giống như Asoka, Kanishka I đã xây dựng nhiều đền đài, ví dụ như đại tháp Peshawar. Ông đã tổ chức kết tập kinh điển ở Kashmir, đánh dấu sự hình thành của phái Đại thừa Mahayana. Ông cho lưu giữ nhiều bản kinh Đại thừa bằng tiếng Prakrit, sau này được dịch sang tiếng Sanskrit và truyền sang phương Đông.

Trong thời kỳ này, các đại luận gia Phật giáo như Nagarjuna, Asvaghosha và Vasumitra xuất hiện. Charaka, được xem là cha đẻ của y học Ấn Độ, là ngự y trong triều Kanishka.

Phật giáo Hy-lạp (Graeco-Buddhism) hay sự giao hòa giữa Phật giáo và văn hóa Hy Lạp

Các vương quốc Bactria và Kushan là cầu nối giữa Địa Trung Hải, lục địa Ấn Độ và Trung Quốc, khởi đầu cho sự giao lưu văn minh Đông-Tây.

Sự giao hòa văn hóa giữa Hy Lạp và Phật giáo kéo dài nhiều thế kỷ đã tạo nên một sắc thái đặc thù cho nền văn hóa mới ở vùng này, được gọi là Phật giáo Hy Lạp, kéo dài gần 8 thế kỷ (từ thế kỷ 4 TCN đến thế kỷ 5 SCN). Một số thành tựu nổi bật bao gồm:

  1. Kiến trúc Hy Lạp: Nhiều thành phố lớn trong vùng mang đặc điểm kiến trúc Hy Lạp như nhà hát, đấu trường, và các công trình có hàng cột đá.
  2. Khoa học và triết học: Kiến thức khoa học, thiên văn, y học và triết học Hy Lạp hòa nhập với văn hóa bản địa và đạo Phật, tạo nên một nền văn hóa mới rực rỡ. Taxila trở thành một trung tâm học vấn quốc tế nổi danh.
  3. Kỹ thuật đúc tiền: Các vị vua Bactria đã cho đúc những đồng tiền bằng đồng, bạc, và đặc biệt là kẽm mạ niken, một kỹ thuật lần đầu tiên xuất hiện trên thế giới. Hình tượng Đức Phật lần đầu tiên được khắc trên những đồng tiền này.
  4. Nghệ thuật điêu khắc: Các đồng tiền vàng và bạc mang chân dung các vị vua Hy-Ấn được điêu khắc rất sống động và tỉ mỉ.
  5. Tượng Phật: Trước thời kỳ này, Đức Phật thường được tượng trưng bằng ngai vàng trống, cây bồ đề hoặc bánh xe pháp. Khi Phật giáo được thấm nhuần ở Bactria, tượng Đức Phật lịch sử mới được tạc lần đầu theo truyền thống Hy Lạp, với dáng đứng và áo choàng dài. Những tượng Phật này thể hiện nét mặt thanh tịnh và tâm cảnh giác ngộ giải thoát, thu hút tín đồ và được phổ biến rộng rãi.

Phật giáo Hy Lạp và sự hưng thịnh của phái Đại thừa

Sự chung sống khắng khít giữa hai nền văn hóa Phật giáo và Hy Lạp đã ảnh hưởng đến hệ thống triết học của nhau. Phật giáo phát triển trên nền tảng triết học Hy Lạp, và ngược lại, tư tưởng Hy Lạp ảnh hưởng đến sự manh nha của phái Đại thừa.

Theo nhiều học giả, các bản kinh Đại thừa chủ yếu được sáng tác khoảng năm 100 TCN, khi có sự khác biệt trong cách luận giải lời dạy của Đức Phật giữa phái thủ cựu (Thượng tọa bộ) và phái canh tân (Đại thừa). Phái Đại thừa bao dung và chấp nhận những ý niệm tiến bộ hơn, vượt xa ý niệm giác ngộ giải thoát cá nhân của Thượng tọa bộ, thờ phụng Đức Phật như một vị thần linh thiêng, và sự xuất hiện của một loạt các chư thánh Bồ Tát muốn cứu độ chúng sinh.

Ảnh hưởng Hy Lạp trong Phật giáo còn lan sang Nhật Bản, với các vị thần như Fujin (thần gió) gợi ý từ thần Boreas, hay Hariti/Kishibojin (thần mẹ) từ thần Tyche.

Đến triều Kanishka I, phái Đại thừa càng khởi sắc. Nghệ thuật Gandhara đạt đến đỉnh cao, kết hợp hài hòa hai truyền thống Ấn Độ và Hy Lạp. Sự giao lưu đa văn hóa trên “Con đường Tơ lụa” đã góp phần vào sự phát triển của phái Đại thừa và Tịnh Độ tông.

Đáng tiếc, sự tương sinh này chấm dứt vào khoảng thế kỷ 5 SCN, khi vùng Bắc Ấn Độ bị rợ Hung xâm lấn, sau đó là sự phục hồi của Ấn giáo và cuối cùng là sự bành trướng của Hồi giáo.

Ảnh hưởng đến các tôn giáo khác ở phương Tây

Sự giao thoa Phật giáo – Hy Lạp cũng ảnh hưởng đến sự hình thành của nhiều tôn giáo khác, đặc biệt là Kitô giáo. Khái niệm luân lý của Phật giáo, dựa trên lý tưởng thuận trị theo Chánh Pháp của Asoka, được truyền sang phương Tây và ảnh hưởng đến giáo lý Kitô giáo, như ý niệm về hiếu sinh, bình đẳng, thương xót kẻ yếu đuối, tránh bạo lực, dung hòa và tha thứ.

Các thành phố Hy Lạp quan trọng như Antioch và Alexandria đã trở thành trung tâm phát triển Kitô giáo. Nhiều yếu tố trong văn chương Thánh Kinh Kitô giáo được cho là có nguồn gốc từ văn hóa và văn học Phật giáo, Ấn Độ.

Trong Cựu Ước, sách “Ecclesiastes” (Truyền Đạo), được biên soạn vào thế kỷ 3 TCN, mang ý nghĩa suy ngẫm về ý nghĩa cuộc sống và sự phù vân, ám chỉ vòng luân hồi. Triết gia Pyrrhon, sau khi ảnh hưởng bởi Kỳ Na giáo và Phật giáo, đã lập nên trường phái Cynic, có ảnh hưởng đến cuốn Ecclesiastes.

Bộ kinh Milinda Vấn Đạo

Bộ kinh Milindapanha được tin rằng đã được khẩu tập không lâu sau khi vua Menander băng hà. Nội dung kể lại những câu hỏi và đáp giữa vua Milinda và Tỳ kheo Nagasena. Bộ kinh này được kết tập ở vùng Bắc Ấn khoảng giữa thế kỷ 1 SCN.

Nhiều học giả cho rằng nguyên bản được viết bằng tiếng Sanskrit, và các bản dịch ra Hán văn có nguồn gốc từ một bản kinh cổ hơn.

Tác giả bộ kinh này vẫn chưa rõ, nhưng có thể là người đã sống ở vùng Tây Bắc Ấn hoặc Punjab. Bộ kinh thường được truyền tụng ở phương Tây là bản Pali, khởi thủy thuộc hệ Nam tông, không xuất phát từ Tích Lan.

Theo bản Hán dịch hiện lưu hành, soạn giả là Bồ tát Long Thọ (Nagarjuna). Có 3 bản dịch ra Hán văn xuất hiện vào các thế kỷ III, IV, và V.

Đại đức Pitakaculàbhaya, ở Trung Ấn Độ, đã biên tập lại bằng tiếng Pali từ những khẩu truyền. Phật Âm (Buddhaghosa) và Thế Thân (Vasubandhu) cũng trích dẫn kinh này trong các tác phẩm của mình.

Trong phần giới thiệu của bộ kinh, có đoạn nói rằng vua Menander từng đàm đạo với Purana Kassapa, Makkhali Gosala và các đạo sư khổ hạnh khác, nhưng điều này có thể là hư cấu vì các vị này sống cùng thời với Đức Phật Thích Ca.

Ngày nay, bộ kinh đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ. Ở châu Âu, bộ kinh Milindapanha được nhiều học giả dịch và nghiên cứu từ thế kỷ 19.

Phần đối thoại phản ánh giáo pháp Kinh bộ Nikaya như vô ngã, luân hồi, tái sinh, trạng thái của La Hán, bản thể của Niết Bàn. Câu trả lời của ngài Nagasena về lợi ích của đời sống tu hành đã làm vua Menander hài lòng nhất.

Đặc điểm của Bộ Kinh

Bộ kinh được xem là cuộc giao thoa Âu-Á đầu tiên, một cuộc học đạo giữa một người phương Tây (vua Menander) với văn hóa Hy Lạp và giáo pháp uyên áo của đạo Phật phương Đông qua sự giải đáp của một vị tăng (Tỳ kheo Nagasena).

Vua Menander, với óc nghi ngờ và sắc bén, đã đặt ra nhiều câu hỏi mà người phương Tây thường thắc mắc, như “Nếu không có linh hồn thì cái gì sẽ tái sinh?” hay “Nếu không có cái ta thì ai đang trò chuyện với ngài?”. Do đó, bộ kinh Milindapanha rất gần gũi với người phương Tây muốn tìm hiểu về Phật giáo.

Lối đàm thoại này đã từng được Đức Phật sử dụng trong Kinh Tăng Chi Bộ. Mọi câu hỏi được đặt ra đều được giải đáp thỏa đáng kèm với nhiều tỉ dụ cụ thể và giản dị.

Văn phong trong bộ Milinda-panha hao hao lối đối thoại của Socrates/Plato. T. W. Rhys Davids cho đó là một kiệt tác văn chương cổ của Phật giáo và văn học Ấn Độ.

Bộ kinh cũng cho thấy những điểm manh nha của tư tưởng Đại thừa, có thể xem tư tưởng Nagasena là tư tưởng chuyển tiếp giữa Tiểu thừa và Đại thừa.

Vài điểm khác biệt giữa hai bản dịch Pali và Hán văn

  1. Tên gọi: Bản Hán văn lấy tên tỳ kheo làm tựa đề là Na-Tien Tỳ Kheo Kinh (chia làm 3 phần). Bản Pali lại lấy tên vua làm đề là Milinda Vấn Kinh (phân làm 7 quyển).
  2. Nội dung: Phần lớn nội dung của hai bản giống nhau. Tuy nhiên, nhiều học giả cho rằng bốn quyển cuối của bản Pali (từ quyển IV đến VII) là do phái Thượng tọa bộ Nam tông thêm vào sau này.
  3. Số lượng câu hỏi: Bản Pali có 262 câu hỏi (nay còn 237), bản Hán văn có 250 câu hỏi.
  4. Chuyện tiền thân: Chuyện tiền thân của Nagasena và Milinda không giống nhau giữa hai bản.
  5. Abhidhamma: Bản Hán văn không đề cập đến Abhidhamma (A-tì-đạt-ma), vốn thường được nhắc đến trong bản Pali.
  6. Bodhipakkhiya Dhammas: Người dịch bản Hán văn dường như không quen với bản Pali.
  7. Súc vật: Bản Pali nói súc vật có suy tính nhưng thiếu khôn ngoan; bản Hán văn bảo súc sinh có khôn ngoan nhưng tâm khác nhau.

Lời Kết

Cuộc đàm đạo giữa vua Menander và Tỳ kheo Nagasena là một sự kiện lịch sử có thật, diễn ra tại tăng viện Sankheyya, kinh đô Sagala, Bactria vào khoảng giữa thế kỷ thứ 2 TCN.

Vùng Tây Bắc Ấn Độ sau khi bị người Hy Lạp xâm chiếm đã thấm nhuần Phật giáo từ lưu vực sông Hằng. Đây có thể là thành quả sớm nhất của các cuộc truyền pháp của Phật giáo sang phương Tây, trước cả phương Đông. Sự giao hòa giữa văn hóa Phật giáo và Hy Lạp đã tạo nên sắc thái đặc thù của Gandhara, nơi phát xuất và đóng góp ý niệm Đại thừa cho Phật giáo.

Tuy nhiên, sự thăng trầm sinh diệt nhanh chóng của các nền văn hóa trong vùng cho thấy sức mạnh của bạo lực và tham vọng đế quốc. Tôn giáo và giới tăng lữ thường bị kẻ xâm lược lợi dụng. Tham vọng này của phương Tây vẫn tiếp diễn, với chiêu thức thay đổi tùy theo thời đại, từ chiếm đất đến áp đặt quyền lực và sử dụng “vũ khí mềm” như tôn giáo.

Nhiều tiểu quốc, sắc dân, nền văn hóa và tôn giáo đã bị hủy diệt bởi những tham vọng này. Chỉ những tôn giáo được kẻ mạnh sử dụng mới hy vọng tồn tại, dựa vào thế lực thay vì giáo lý. Thần quyền luôn liên kết với thế quyền để cùng hưởng lợi.

Phật giáo, với bản chất từ bi, nhẫn nhục, hiếu sinh và thanh tịnh, thiếu khả năng tổ chức và lãnh đạo tín đồ thành một lực lượng kinh tế và chính trị quan trọng, ngoại trừ một vài nước theo phái Tiểu thừa. Phật giáo thích nghi với xã hội nông nghiệp ít biến động, nhưng không đủ sức kháng cự khi bị ngoại xâm. Tín đồ Phật giáo thường chọn thái độ dĩ hòa vi quý, co rút, tự diệt hơn là chống lại.

Do đó, Phật giáo sau nhiều thế kỷ huy hoàng ở Ấn Độ và Tây Bắc Ấn Độ đã bị tiêu diệt dễ dàng bởi các tôn giáo mới dựa vào bạo lực và ép buộc kinh tế. Mặc dù chùa chiền mọc lên ngày càng nhiều, gốc rễ Phật giáo đã lung lay ngay tại những xứ tự hào là đất Phật như Tây Tạng, Trung Hoa và Việt Nam.

Thái độ thụ động, xa rời quần chúng, thiếu tổ chức, thiếu uyển chuyển thích nghi với thời đại và thiếu đoàn kết của giới lãnh đạo có thể khiến vai trò của Phật giáo trong xã hội, vốn là động lực của dân tộc, dần mai một.

Trần Trúc Lâm

Xem thêm: Tuổi Giáp Tuất 1994: Giải mã vận mệnh 2025 trước Kim Lâu, Hoang Ốc, Tam Tai

Tìm hiểu thêm: Oan ức: Bài học về lòng bao dung và sức mạnh nội tại từ vết thương lòng

Khám phá: 2025: Đại Lộc Đón Tuổi Giáp Dần – Chọn Đúng Giờ "Vàng" Khởi Sự

Hy vọng những phân tích sâu sắc về lịch sử hình thành và phát triển của bộ kinh Milinda vấn đạo đã mang đến cho quý độc giả cái nhìn toàn diện hơn về chủ đề này, mời bạn đọc thêm nhiều thông tin thú vị khác trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang