Kinh Kim Cương: Hạnh Bồ Tát Vô Thượng

duc phat day hanh bo tat 1041 1
0
(0)

Khám phá ý nghĩa sâu xa về hạnh nguyện cao cả của Bồ Tát, đặc biệt là qua lăng kính của Kinh Kim Cang. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về những lời dạy vượt thời gian, không dựa trên quyền uy cá nhân mà dựa trên trí tuệ tập thể, hướng đến một sự thấu hiểu tự tại, không vướng bận vào tranh chấp. Khám phá con đường thanh lọc tâm thức tại chiasedaophat.com.

Hạnh nguyện của Bồ Tát Quan Thế Âm qua các kinh điển

Bài viết này tập trung vào chủ đề Hạnh Bồ Tát và Kinh Kim Cang, dựa trên các kinh điển Phật giáo. Người viết không tuyên bố có thẩm quyền cá nhân mà chỉ trình bày lại những lời dạy từ kinh luận.

Với tinh thần không chấp thủ vào bất kỳ quan điểm nào, như lời dạy trong Kinh Tập (Sn 4.3): “Làm sao, và về những gì, những kẻ dính vào tranh cãi về các giáo thuyết có thể tranh cãi với người không dính mắc gì? Không nắm giữ bất cứ gì, và không bác bỏ bất cứ gì, người ấy rũ bỏ bất kỳ cái nhìn nào nơi đây.”

Đức Phật dạy về Hạnh Bồ Tát

Hạnh Bồ Tát và Kinh Kim Cương 1

Ảnh minh họa.

Hạnh Bồ Tát, theo cách hiểu đơn giản nhất, là những người nỗ lực hoằng pháp, không muốn Chánh pháp bị mai một, bất kể họ có chính thức thọ giới Bồ Tát hay không. Theo nghĩa này, những bậc tu hành và những người đóng góp cho việc duy trì Phật pháp đều có thể được xem là Bồ Tát. Theo nghĩa đầy đủ, Bồ Tát là người thực hành hạnh cứu độ chúng sanh, hồi hướng phước đức cho tất cả hữu tình, vun bồi tâm Bồ đề, tu tập Lục Ba La Mật, giữ vững hạnh nguyện Bồ Tát, và là vị Phật tương lai.

Trong lịch sử Việt Nam, Hạnh Bồ Tát đã gắn bó với dân tộc từ khi Phật giáo du nhập, đào tạo nên nhiều thế hệ Phật tử theo châm ngôn “bi trí song tu”. Theo nghiên cứu, tác phẩm Lục Độ Tập Kinh có nguồn gốc từ tiếng Việt cổ, sau đó được dịch sang tiếng Hán. Điều này cho thấy ảnh hưởng sâu rộng của Phật giáo trong lịch sử dân tộc, minh chứng là vai trò của các sư nữ trong các cuộc khởi nghĩa như Hai Bà Trưng, hay việc nhiều làng Bắc Việt đã lập đền thờ các sư nữ anh hùng.

32 bảo tượng Bồ tát Quán Thế Âm từ Bắc đến Nam

Trong Kinh Trung Bộ (MN 83), Đức Phật dạy ngài Anan về tầm quan trọng của việc duy trì Chánh pháp, không để bị đoạn tuyệt. Lời dạy này khuyến khích chúng ta tham gia hoằng pháp và bảo vệ Chánh pháp khi gặp nguy cơ. Điều này có thể hiểu là cần tiếp nối Chánh pháp qua nhiều đời, tương tự như các vị tulku trong Phật giáo Tây Tạng, để đảm bảo sự truyền thừa.

Kinh Trung A Hàm (MA 67), trong bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ, nhấn mạnh việc “chớ để Phật chủng đứt đoạn”. Ý nghĩa này được các luận sư Đại thừa và Kim Cang thừa làm rõ hơn, hàm ý về sự thành Phật trong tương lai. Kinh này trích:

“Này A-nan, thế nào là pháp kế thừa mà nay Ta chuyển trao cho ông và bảo ông cũng phải chuyển trao lại pháp kế thừa ấy, chớ để cho Phật pháp dứt đoạn? Đó chính là Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định là tám. Này A-nan, đó chính là pháp kế thừa mà nay Ta đã chuyển trao cho ông, và ông cũng phải chuyển trao lại pháp kế thừa ấy, chớ để cho Phật chủng đứt đoạn.” (3)

Kinh Tăng Nhất A Hàm (EA 35.2 và EA 24.5) ghi lại lời Đức Phật mong muốn khơi dậy tâm Bồ Tát nơi những người chưa phát tâm và thọ ký cho các vị Phật tương lai. Điều này cho thấy Đức Phật khuyến khích tu hạnh Bồ Tát. Cụ thể, Kinh EA 35.2 nói:

“Một thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo: Như Lai xuất hiện ở đời tất sẽ vì năm việc. Sao gọi là năm? Một sẽ chuyển Pháp luân, hai sẽ độ cha mẹ, ba người không tin kiến lập lòng tin, bốn là người chưa phát ý Bồ-tát khiến phát tâm Bồ-tát, năm sẽ thọ ký cho Phật tương lai. Nếu Như Lai xuất hiện ở đời thì sẽ làm năm việc này. Cho nên, các Tỳ-kheo hãy khởi tâm từ đối với Như Lai. Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.” (4)

Kinh EA 24.5 cũng ghi nhận:

“Thế Tôn bảo: Như Lai ở đời cần làm năm việc. Sao gọi là năm? Một là chuyển pháp luân; hai là thuyết pháp cho cha; ba là thuyết pháp cho mẹ; bốn là dẫn dắt phàm phu lập hạnh Bồ-tát; năm là thọ ký riêng cho Bồ-tát. Này Ca-diếp, đó gọi là Như Lai xuất hiện ở đời cần làm năm việc như vậy.” (5)

Công hạnh của Bồ Tát Quán Thế Âm

Đức Vua Trời Đế Thích cũng đề cập đến năm nhân duyên này, trong đó có lời Đức Phật khuyến khích tu hạnh Bồ Tát. Kinh EA 36.5 ghi lại:

Khám phá: Bản Ngã và Đạo Đức: Hành Trình Tìm Kiếm Bản Chất Con Người

“Thích Đề-hoàn Nhân bạch Thế Tôn: Như Lai cũng nói, phàm Như Lai xuất thế tất sẽ vì năm việc. Những gì là năm? Chuyển Pháp luân; độ cha mẹ; người không tin dựng lòng tin; chưa phát tâm Bồ-tát khiến phát ý Bồ-tát; thọ ký thành Phật trong khoảng thời gian đó. Như Lai xuất hiện tất sẽ vì năm nhân duyên này. Nay mẹ của Như Lai tại trời Tam thập tam muốn được nghe Pháp. Như Lai đang ở giữa chúng bốn bộ trong cõi Diêm-phù-lý, vua và nhân dân đều tập hợp lại. Lành thay, Thế Tôn, mong Ngài đến trời Tam thập tam mà thuyết Pháp cho mẹ.” (6)

Liên quan đến hạnh bố thí, Đức Phật dạy Bồ Tát phải thực hành như thế nào trong Kinh EA 10.5:

“Thế Tôn bảo: Lành thay, lành thay, Gia chủ. Ông đã bằng tâm Bồ-tát, chuyên tinh nhất ý mà huệ thí rộng rãi. Thật vậy, chúng sanh nhờ ăn uống mà được cứu sống, không ăn uống thì liền chết. Này Gia chủ, Ông sẽ được quả lớn, được tiếng tăm nhiều; được quả báo lớn mà tiếng đồn thấu mười phương; được pháp vị cam lồ. Vì sao vậy? Vì hàng Bồ-tát thường đem tâm bình đẳng để bố thí, lúc nào cũng một lòng mà nhớ nghĩ đến các loài chúng sanh, nhờ ăn uống mà tồn tại, có ăn uống tức được cứu sống, không ăn uống tức chết. Này Gia chủ, đó là tâm Bồ-tát ở tại chỗ yên ổn mà bố thí rộng rãi.” (7)

Kinh Trung Bộ (MN 34) cũng đề cập đến Hạnh Bồ Tát, thông qua ví dụ về việc lùa đàn bò qua sông, nhấn mạnh sự quan tâm đến tất cả chúng sanh, dù là con non hay con yếu.

Ly Nhất Thiết Tướng (Thoát Ly Mọi Tướng)

Khi tu hạnh Bồ Tát, điều quan trọng là giữ vững pháp ấn vô ngã, không chấp vào “tôi” hay “của tôi”. Điều này có nghĩa là tu tập mà vẫn nhận thức được sự vô tu, như lời dạy trong Thiền Tông: cần ngộ nhập Tánh Không để không còn chấp vào người tu và pháp được chứng, hay người độ và người được độ. Hai kinh điển quan trọng của Thiền Tông chỉ thẳng vào Tánh Không là Kinh Kim Cang và Tâm Kinh. Nội dung cốt lõi là ly tất cả các tướng, hiển lộ đại định của Tánh Không, còn gọi là Vô Tướng Tam Muội.

Để hiểu về nghĩa Không, có thể dùng hình ảnh trong Thiền sử: khi một vị Thiền sư chỉ vào cái bình, các học trò trả lời theo nhiều cách khác nhau, thể hiện rằng dù cái bình có hay không, hay bị đập vỡ, tất cả đều nằm trong Tánh Không bao trùm. Hữu và Vô là đối đãi, nhưng cả hai đều nằm trong Tánh Không vô cùng tận.

Cùng nghiệp thì kết duyên với nhau

Một ví dụ khác là tiếng chim kêu rồi mất đi, hay một niệm khởi rồi diệt đi, tất cả đều nằm trong tánh nghe hay Bản Tâm rỗng lặng. Chữ “Không” đối với “Có” vẫn là nhị nguyên, chưa phải là cái Không Bao Trùm Rỗng Lặng. Trong Thiền sử Việt Nam, Thiền sư Tông Diễn dạy: “Hữu vô câu bất lập, nhật cảnh bổn đương bô” (có và không đều không lập, mặt trời trí tuệ sẽ lên cao). Khi thấy rõ tánh duyên khởi, ta sẽ không còn tranh cãi đúng sai.

Giống như xem kịch, hình ảnh và âm thanh hiện ra rồi biến mất, tất cả đều nằm trong sự thấy nghe của mọi người. Cái thấy nghe đó là Tánh Không bao trùm, không thuộc riêng ai. Mặt trăng (Tánh Không) chỉ là một, nhưng hiện ra trong nhiều mặt nước. Người ngộ được Tánh Không sẽ không còn chấp vào ta hay người, vì tất cả như huyễn. Bản tâm giống như tánh sáng của gương, phản chiếu vạn pháp.

Hạnh Bồ Tát và Kinh Kim Cương 3

Ảnh minh họa.

Liên hệ đến Kinh Tạp A Hàm (SA 273), Đức Phật dạy về các hành như huyễn, không thật, nên quán xét chúng là trống không, vô ngã, vô ngã sở.

“Này Tỳ-kheo, các hành như huyễn, như sóng nắng, trong khoảnh sát na, tàn lụi, không thật đến không thật đi. Cho nên Tỳ-kheo, đối với các hành vốn không, nên biết, nên hoan hỷ, nên suy niệm rằng, trống không là các hành thường tồn, vĩnh hằng, ổn trụ, pháp không biến dịch; trống không không có ngã, không có ngã sở. Ví như người mắt sáng tay cầm đèn sáng vào trong nhà trống, xem xét cái nhà trống ấy. Cũng vậy, Tỳ-kheo, đối với tất cả hành trống không, tâm quán sát, hoan hỷ, rằng trống không là các hành. Trống không, không ngã và ngã sở, là các pháp (được coi là) thường tồn, vĩnh hằng, ổn trụ, pháp không biến dịch. Cũng vậy, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và pháp làm nhân duyên sanh ra ý thức, ba sự hòa hợp thành xúc, xúc sanh ra thọ, tưởng, tư. Các pháp này vô ngã, vô thường, chi tiết cho đến không, vô ngã và ngã sở.” (9)

Xem thêm: Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật: Cánh Cửa Mở Lối Trí Huệ Thanh Tịnh

Từ đây, chúng ta sẽ khảo sát lời Đức Phật dạy Bồ Tát trong Kinh Kim Cang. Kinh Kim Cang dạy người tu hạnh Bồ Tát khi độ tất cả chúng sanh phải thấy được tất cả pháp đều là vô tướng, phải lìa tất cả các tướng có thể được thấy nghe hay biết như là có ta, có người, có chúng sanh, có thọ mạng.

Cụ thể, vô tướng nghĩa là không trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp khi làm việc bố thí. Điều này có nghĩa là không chấp vào tướng của các pháp.

Bởi vì, như ví dụ cái bình, muốn thấy pháp vô trụ tướng thì phải lìa cả hai tướng “có bình” và “không bình” mới thấy ngôi nhà trống bao trùm hai tướng này. Phật dạy: “Phàm những gì có tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như Lai.”

Tương tự, khi niệm khởi và diệt, phải lìa cả hai tướng “niệm khởi” và “niệm diệt” mới nhận ra bầu trời Bản Tâm vô tướng. Phật dạy: “Nếu còn chấp tướng pháp tức còn chấp ngã nhân chúng sanh thọ giả. Thế nên không nên chấp pháp, không nên chấp phi pháp.” Pháp được ví như chiếc bè, nên bỏ khi qua sông.

Pháp này còn gọi là vô niệm, tâm vô trụ. Khi thấy Bản Tâm rỗng lặng, ta sẽ thấy không có gì để tu, không nương vào tướng niệm để tu, đó mới là trang nghiêm cõi Phật.

Do vậy, Bồ Tát độ chúng sanh mà không thấy có người độ và người được độ. Phật bảo Tu-bồ-đề: “Người thiện nam, người thiện nữ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên sanh tâm như thế này: Ta nên diệt độ tất cả chúng sanh, diệt độ tất cả chúng sanh rồi mà không có một chúng sanh thật diệt độ.”

Đức Phật chỉ vào Bản Tâm, nơi không có tướng nào để tâm vin vào, vì thực tướng vốn vô tướng, là Cái Không Bất Động bao trùm cả Hữu và Vô. Phật bảo Tu-bồ-đề: “Trong các cõi nước đầy dẫy như thế, có tất cả chúng sanh có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai thảy đều biết. Vì cớ sao? Như Lai nói các tâm đều không phải tâm, ấy gọi là tâm.”

Câu hỏi đặt ra là nên quán các pháp thế nào? Đức Phật trong Kinh Kim Cang nói bài kệ:

“Tất cả pháp hữu vi, Như mộng, huyễn, bọt, bóng, Như sương cũng như điện, Nên khởi quán như thế.”

Đây là tóm lược một phần ý nghĩa từ Kinh Kim Cang. Nhà thơ Nguyễn Du cũng từng tụng Kinh Kim Cang ngàn lần mà vẫn thấy khó hiểu, cho đến khi ngộ ra rằng “kinh không chữ mới là kinh chân thật…”

Vô tướng tam muội

Hạnh Bồ Tát và Kinh Kim Cương 4

Ảnh minh họa.

Kinh Kim Cang và Tâm Kinh là cốt tủy của Thiền Tông và Phật giáo Bắc tông. Mặc dù Phật giáo Nam tông không thọ trì hai kinh này vì cho là kinh hậu tác, nhưng tinh thần của chúng hoàn toàn phù hợp với lời dạy ban đầu của Đức Phật.

Nhà sư Nam Tông Bhikkhu Sujato, Trưởng Ban Biên Tập SuttaCentral, nhận định rằng hai kinh này do một số vị sư soạn ra cho Tạng Sanskrit để phản bác các kiến chấp của các vị sư A Tỳ Đàm. Trong quá trình phân chia bộ phái, các kinh điển có thể bị gạt bỏ hoặc thêm vào. Tuy nhiên, Bhikkhu Sujato khẳng định Kinh Kim Cang và Tâm Kinh, dù hậu tác, vẫn mang đúng tinh thần lời Phật dạy về vô-ngã, như huyễn, không có gì để nắm giữ hay trụ vào, và pháp chỉ là chiếc bè qua sông.

Bhikkhu Sujato viết: “Kinh Kim Cang là một phần trong hệ văn học Bát Nhã Ba La Mật, một thể loại Kinh Đại Thừa sáng tác khoảng 500 năm sau Đức Phật. Trong khi phần nhiều Bát Nhã Ba La Mật rất dài và rườm rà, Kinh Kim Cang và Tâm Kinh lại ngắn, chiếu sáng cốt tủy triết lý Bát Nhã Ba La Mật vào một hình thức ngắn và dễ đón nhận, do vậy được ưa chuộng. Một cách lịch sử, hệ Bát Nhã Ba La Mật khởi dậy như đáp ứng đối với và phê bình đối với hệ A Tỳ Đàm (Abhidharma). Theo nhận định này, các luận sư A Tỳ Đàm (phần chủ yếu là phái Sarvastivada, tức Nhất Thiết Hữu Bộ) đã lạc mất Chánh pháp, tự mạn đưa vào kiến thức phân tích và nông cạn của họ, trong khi bỏ mất đạo vị chân thực của giải thoát và trí tuệ sâu thẳm. Chủ đề chính của Bát Nhã Ba La Mật là vô-ngã. Họ lý luận rằng các luận sư A Tỳ Đàm đã biến Chánh pháp thành cái được chấp giữ và có cái gì để tự thấy mình dồng hóa vào, chứ không nhìn như chiếc bè để qua bờ kia.” (11)

Tìm hiểu thêm: 2025: Nữ Quý Sửu 1973 – Lộ trình thịnh vượng, sự nghiệp thăng hoa, tình duyên viên mãn

Bài viết này thảo luận về Hạnh Bồ Tát mà không mang tinh thần bộ phái, chủ yếu khảo sát từ kho tàng Phật học để tìm những lời dạy thực dụng. Cuối cùng, vẫn là lời Đức Phật dạy chớ nên nắm giữ quan kiến nào, như trong Kinh Tập (Sn 4.3) đã dẫn ở đầu bài: “Không nắm giữ bất cứ gì, và không bác bỏ bất cứ gì, người ấy rũ bỏ bất kỳ cái nhìn nào nơi đây.” Điều này có nghĩa là không thấy một tướng nào khởi lên trong tâm để nắm giữ.

Mục đích cuối cùng của sự tu học là chấm dứt tái sinh

Ghi chú:

(1) Kinh Tập Sn 4.3: [liên kết đến thuvienhoasen.org]

(2) Kinh MN 83: [liên kết đến suttacentral.net]

(3) Kinh MA 67: [liên kết đến suttacentral.net]

(4) Kinh EA 35.2: [liên kết đến suttacentral.net]

(5) Kinh EA 24.5: [liên kết đến suttacentral.net]

(6) Kinh EA 36.5: [liên kết đến suttacentral.net]

(7) Kinh EA 10.5: [liên kết đến suttacentral.net]

(8) Kinh MN 34: [liên kết đến suttacentral.net]

(9) Kinh SA 273: [liên kết đến suttacentral.net]

(10) Kinh Kim Cang: [liên kết đến thuvienhoasen.org]

(11) Bhikkhu Sujato: [liên kết đến discourse.suttacentral.net]

Hy vọng những chia sẻ về Kinh Kim Cang và Hạnh Bồ Tát đã mang đến cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn. Để tiếp tục khám phá những kiến thức Phật pháp bổ ích khác, mời bạn ghé thăm chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang