Kinh Lương Hoàng Sám: Quyển 5 – Sự Giải Thoát Tâm Linh

200 1248 1
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Trong dòng chảy cuộc đời, những mâu thuẫn và oán kết dường như là điều khó tránh khỏi, minh chứng cho sự luẩn quẩn của khổ đau giữa chúng sinh. Nhưng liệu có con đường nào để thoát khỏi vòng xoáy này, để tìm thấy sự an lạc đích thực? Khám phá những lời dạy sâu sắc về giải thoát tâm hồn tại Chiasedaophat để thấu tỏ con đường vượt thoát khỏi vô minh và tích lũy oán thù.

Kinh Lương Hoàng Sám (Quyển 5) 1

Nghi thức tụng niệm Kinh Lương Hoàng Sám

CHƯƠNG THỨ CHÍN

GIẢI OAN THÍCH KẾT

Trong cuộc sống hiện tại, chúng ta thường nhận thấy mọi chúng sanh đều có mối liên kết oán thù với nhau. Điều này được minh chứng qua sự tồn tại dai dẳng của các cảnh giới khổ đau, cho thấy oán thù giữa chúng sanh là vô cùng tận.

Kinh điển dạy rằng: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Nhờ có tâm mà chúng sanh có thể thành Phật”. Tuy nhiên, do tâm tưởng điên đảo, chấp trước vào thế gian mà chúng sanh không tìm thấy con đường thoát ly, cứ mãi vun bồi gốc khổ đau, tích lũy oán thù. Chính vì vậy, vòng luân hồi sinh tử, chịu bao kiếp tái sinh và xả bỏ thân mạng cứ tiếp diễn không ngừng.

Nguyên nhân sâu xa của vòng luân hồi này là do chúng sanh từ vô thỉ kiếp đến nay, trong trạng thái mê muội, vô minh che lấp, bị dòng ái dục nhấn chìm. Điều này dẫn đến khởi phát ba gốc độc (tham, sân, si) và bốn loại điên đảo. Từ ba gốc độc này sinh ra mười phiền não, cùng với năm kiến (thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ) và sáu mươi hai loại kiến chấp. Thêm vào đó, qua thân, khẩu, ý, chúng sanh tạo ra mười nghiệp ác: sát sinh, trộm cắp, tà dâm nơi thân; nói dối, nói hai lưỡi, nói lời đao gọt, nói lời vô ích nơi miệng; tham lam, sân hận, si mê nơi ý. Tự mình làm mười điều ác, lại khuyến khích người khác làm, và tán dương hành vi ác đó, cộng lại thành bốn mươi điều ác.

Hơn nữa, việc tham đắm sáu trần qua sáu căn đã mở rộng cánh cửa cho tám vạn bốn ngàn phiền não xâm nhập. Chỉ trong khoảnh khắc, sáu mươi hai kiến chấp khởi lên, bốn mươi điều ác được tạo tác, và tám vạn bốn ngàn phiền não tràn vào. Nếu tính trong một ngày, một tháng, một năm, hay suốt cả cuộc đời và vô số kiếp, thì số lượng tội ác và oán thù tích lũy là không thể đếm xuể.

Sự vô minh che lấp trí tuệ và phiền não che mờ tâm tánh khiến chúng sanh không tự nhận thức được điều này. Tư tưởng điên đảo khiến chúng sanh không tin vào lời Phật dạy, không biết cách hóa giải oán thù và tìm cầu giải thoát. Chúng sanh tự lao mình vào con đường ác, như thiêu thân lao vào ánh lửa, trải qua nhiều kiếp mê muội và chịu vô lượng khổ đau.

Ngay cả khi nghiệp báo đã hết, được trở lại làm người, những người ác này vẫn không chịu thay đổi, khiến các bậc Thánh nhân phải đau lòng thương xót. Tất cả những khổ đau này đều bắt nguồn từ oán thù giữa chúng sanh.

Chúng con, với tâm Bồ đề đã phát khởi, bước trên con đường Bồ tát, noi gương các bậc Bồ tát Đại thừa lấy việc cứu khổ chúng sanh làm hành trang, lấy việc hóa giải oán kết làm hạnh nguyện chính yếu. Các Ngài không rời bỏ chúng sanh mà gánh chịu khổ đau thay cho họ.

Giờ đây, chúng con cũng nguyện noi theo gương đó. Với tâm dũng mãnh, từ bi, hòa hợp với tâm Phật, nương nhờ oai lực của chư Phật, chúng con nguyện dựng cờ Phật pháp, đánh trống cam lồ, trang bị cung tên trí tuệ, mũi tên kiên cố, vì tất cả chúng sanh trong bốn loài, sáu đường, những oán thù tích lũy qua ba đời, bao gồm cha mẹ, sư trưởng, và quyến thuộc, mà nguyện hóa giải hết thảy oán kết.

Những oán thù đã hình thành nay xin buông bỏ, những oán thù chưa hình thành sẽ không bao giờ còn khởi lên nữa. Nguyện xin chư Phật, chư Bồ tát, bằng oai lực từ bi, nguyện lực thù thắng, và thần thông vô biên, cùng gia tâm che chở, hàng phục, nhiếp thọ, khiến cho vô lượng oán thù ba đời từ nay cho đến ngày thành Phật, đều được tiêu tan sạch sẽ, không còn tái sinh oán thù, và đoạn trừ mọi khổ não.

Cùng nhau chí tâm, một lòng tha thiết, thành kính đảnh lễ Tam bảo. Nguyện xin thay thế cho hết thảy chúng sanh trong bốn loài, sáu đường, những người mang oán thù ba đời, nguyện xin thay thế cho cha mẹ, sư trưởng, và toàn thể bà con quyến thuộc, mà quy y Tam Bảo:

Nam mô Di Lặc Phật

Nam mô Thích Ca Mâu ni Phật

Nam mô Thiện Ý Phật

Nam mô Ly Cấu Phật

Nam mô Nguyệt Tướng Phật

Nam mô Đại Danh Phật

Nam mô Châu Kế Phật

Nam mô Oai Mãnh Phật

Nam mô Sư Tử Bộ Phật

Nam mô Đức Thọ Phật

Nam mô Hoan Thích Phật

Nam mô Huệ Tụ Phật

Nam mô An Trú Phật

Nam mô Hữu Ý Phật

Nam mô Ương Già Đà Phật

Nam mô Vô Lượng Ý Phật

Nam mô Diệu Sắc Phật

Nam mô Đa Trí Phật

Nam mô Quang Minh Phật

Nam mô Kiên Giới Phật

Nam mô Cát Tường Phật

Nam mô Bảo Tướng Phật

Nam mô Liên Hoa Phật

Nam mô Na La Diên Phật

Nam mô An Lạc Phật

Nam mô Trí Tích Phật

Nam mô Đức Kỉnh Phật

Nam mô Kiên Dõng Tinh Tấn Bồ tát

Nam mô Kim Cang Huệ Bồ tát

Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát.

Lại quy y mười phương tận hư không giới hết thảy Tam bảo. Tất cả oán thù trong sáu đường, những người đã trả xong oán, nguyện nhờ oai lực Tam bảo, Pháp lực, Hiền Thánh lực, khiến các chúng sanh ấy đều được giải thoát. Hoặc những chúng sanh nào trong sáu đường đang chịu trả oán, hoặc chưa chịu trả oán, nguyện nhờ oai lực Tam bảo, Pháp lực, Hiền Thánh lực, khiến các chúng sanh ấy hoàn toàn không còn tái sinh vào các đường ác, hoàn toàn không còn ác tâm với nhau, hoàn toàn không còn làm hại lẫn nhau. Tất cả đều xả bỏ, không còn phân biệt oán thân. Tất cả tội lỗi đều được tiêu trừ. Tất cả oán thù đều được giải thoát, cùng nhau hòa hợp như nước với sữa, tất cả đều hoan hỷ như ở Sơ địa. Thọ mạng vô cùng, thân tâm an lạc, tùy ý sinh lên Thiên cung hay vãng sanh về Tịnh độ. Muốn ăn có ăn, muốn mặc có mặc, không còn nghe tiếng oán thù tranh đấu. Thân không bị hủy hoại, tâm không bị ngoại cảnh mê hoặc. Điều lành tranh nhau hội tụ, điều ác tranh nhau tiêu tan; phát tâm tu đạo Bồ tát, hoàn thành Lục độ, xả bỏ quả báo sinh tử, đồng đăng Đạo tràng, thành bậc Chánh giác.

Ngày nay, chúng ta cần nhận rõ nguồn gốc của oán thù và khổ đau. Chính là do mắt tham sắc, tai tham tiếng, mũi tham hương, lưỡi tham vị, thân tham xúc, ý tham pháp. Vì vậy, chúng sanh bị trói buộc bởi sáu trần, chìm đắm trong đêm dài vô minh, không thể giác ngộ và giải thoát.

Hơn nữa, sáu dòng họ, tất cả quyến thuộc, đều có thể trở thành nguồn gốc oán thù ba đời của chúng ta.

Mọi oán thù đều bắt nguồn từ nhân duyên. Nếu không có thân thể, sẽ không có oán thù. Do đó, ly thân tức là ly được oán thù.

Vì sao lại như vậy?

Mỗi người ở một nơi, xa cách tha hương, thì sẽ không thể sinh tâm oán hận. Tâm oán hận chỉ sinh ra khi chúng ta thân cận lẫn nhau.

Do gốc rễ của ba độc là tham, sân, si, chúng ta thường va chạm và gây tổn thương lẫn nhau, từ đó dễ sinh tâm oán hận.

Đó là lý do tại sao bà con thân thích thường trách móc lẫn nhau. Cha mẹ trách con, con trách cha mẹ; anh chị em cũng thường trách móc và hiềm hận lẫn nhau.

Chỉ cần một chút không vừa lòng là đã sinh tâm giận dữ.

Khi giàu sang phú quý, bà con thân thích đua nhau đến xin xỏ. Nhưng khi nghèo khó, không ai đoái hoài.

Hơn nữa, càng xin càng thấy thiếu, càng được càng thấy không đủ. Trăm lần xin, trăm lần được cũng không thấy ơn, chỉ cần một chút không vừa lòng là đã sinh giận hờn. Từ đó, lòng ôm lấy ác niệm, tìm cách cố ý kết thù, liên tục đời đời kiếp kiếp.

Suy xét kỹ lưỡng, oán thù ba đời thực chất không phải từ người xa lạ, mà chính là từ bà con thân thích, quyến thuộc của chúng ta.

Vì vậy, chúng ta cần hiểu rằng quyến thuộc đôi khi là oan gia. Chúng ta không thể không hết lòng ân cần sám hối, chí tâm đảnh lễ Tam bảo. Nguyện cho những kiếp trước, khi còn có thần thức, cho đến ngày nay, cha mẹ, bà con nhiều đời, nhiều kiếp trong sáu đường, đã kết oán thù với nhau, dù là oán thù hay không phải oán thù, dù là khinh hay trọng. Hôm nay, dù ở trong đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a tu la, hay cõi người, cõi trời, cõi tiên, hay trong vòng bà con quyến thuộc của chúng ta; những người oán thù và quyến thuộc của họ trong ba đời, ngày nay chúng con tên là [Tên của bạn], xin đem tâm từ bi, tâm không phân biệt oán thân, tâm như tâm Phật, nguyện như nguyện Phật, xin thay thế hết thảy chúng sanh ấy mà quy y Thế gian Đại Từ Bi Phụ:

Nam mô Di Lặc Phật

Nam mô Thích Ca Mâu ni Phật

Nam mô Phạm Đức Phật

Nam mô Bảo Tích Phật

Xem thêm: Tâm Từ Bi: Nguồn Sức Mạnh Chữa Lành Từ Lòng Trắc Ẩn

Nam mô Hoa Thiên Phật

Nam mô Thiện Tư Nghị Phật

Nam mô Pháp Tự Tại Phật

Nam mô Danh Văn Ý Phật

Nam mô Lạc Thuyết Tụ Phật

Nam mô Kim Cang Tướng Phật

Nam mô Cầu Lợi Ích Phật

Nam mô Du Hý Thần Thông Phật

Nam mô Ly Oán Phật

Nam mô Đa Thiên Phật

Nam mô Di Lâu Tướng Phật

Nam mô Chúng Minh Phật

Nam mô Bảo Tạng Phật

Nam mô Cực Cao Hạnh Phật

Nam mô Đề sa Phật

Nam mô Châu Giác Phật

Nam mô Đức Tán Phật

Nam mô Nhật Nguyệt Minh Phật

Nam mô Nhật Minh Phật

Nam mô Tinh Tú Phật

Nam mô Sư Tử Tướng Phật

Nam mô Vi Lam Vương Phật

Nam mô Phước Tạng Phật

Nam mô Khí Âm Cái Bồ tát

Nam mô Tịch Căn Bồ tát

Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát.

Lại quy y mười phương tận hư không giới hết thảy Tam bảo. Nguyện xin nhờ oai lực Phật, Pháp, Đại Địa Bồ tát, cùng hết thảy Hiền Thánh lực, khiến cho cha mẹ, bà con chúng con trong sáu đường, những người có oán thù và quyến thuộc của họ, đều đồng thời vân tập về Đạo tràng này, cùng nhau sám hối tội lỗi tiền kiếp, hóa giải oán thù đã kết. Nếu có người nào thân thể bị ràng buộc, không thể đến được, nguyện xin nhờ thần lực Tam bảo, nhiếp thọ tinh thần của họ, khiến họ đến được Đạo tràng, dùng lòng từ bi thọ lãnh sự sám hối của chúng con ngày nay, nguyện mong giải thoát hết thảy oán thù.

Toàn thể đại chúng trong Đạo tràng nên chí tâm niệm rằng:

Chúng con tên là [Tên của bạn], từ vô thỉ kiếp, khi còn có thần thức cho đến ngày nay, đối với cha mẹ nhiều đời, bà con nhiều kiếp, chú bác cô dì, quyến thuộc nội ngoại, do gốc rễ ba độc khởi ra mười nghiệp ác, hoặc vì vô minh, hoặc vì không tin, hoặc vì không tu, bởi vô minh che lấp trí tuệ nên đã sinh oán kết. Oán kết này không chỉ với cha mẹ, bà con, mà còn với tất cả chúng sanh trong sáu đường. Những tội lỗi như vậy vô lượng vô biên, ngày nay chúng con chí thành sám hối, nguyện xin được tiêu trừ.

Lại nữa, từ vô thỉ kiếp cho đến ngày nay, hoặc vì giận hờn, hoặc vì tham ái, hoặc vì si mê, do gốc ba độc mà tạo ra các tội. Tội ác như vậy vô lượng vô biên, chúng con hổ thẹn, sám hối, nguyện xin xả bỏ hết.

Lại nữa, từ vô thỉ kiếp cho đến ngày nay, hoặc vì ruộng vườn, nhà cửa, tiền của mà sinh ra nghiệp oán thù, đối với bà con, cha mẹ đã có tâm sát hại đủ điều. Những tội sát ấy không thể kể xiết, sinh ra oán thù không bao giờ dứt. Ngày nay chúng con hổ thẹn, tỏ bày sám hối, nguyện xin cha mẹ, sáu dòng bà con, hết thảy quyến thuộc, bằng lòng từ bi cho chúng con được sám hối, xả bỏ tất cả tội lỗi, không còn tâm oán hận nữa. Cho đến trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, thập ác, ngũ nghịch, chúng con đều đã từng làm. Vì vọng tưởng điên đảo, duyên theo các cảnh mà tạo ra hết thảy tội lỗi.

Những tội lỗi như vậy vô lượng vô biên, hoặc đối với cha mẹ, hoặc đối với anh em, chị em, hoặc đối với cô dì, chú bác, từ khi có thần thức cho đến ngày nay, đối với lục thân quyến thuộc mà khởi ra oán thù. Những tội như vậy vô lượng vô biên. Nhân tội và quả khổ như thế phải trả báo, chịu hành phạt, kiếp số lâu mau, oán kết nhiều ít, chỉ có chư Phật, chư Đại Bồ tát trong mười phương mới thấy hết, biết hết.

Như chỗ chư Phật và Bồ tát đã thấy, đã biết, về lượng tội, oán thù, thời gian dài ngắn, đến đời vị lai mới thọ lãnh sự trả thù ấy. Ngày nay chúng con rất hổ thẹn, nghẹn ngào, đau khổ, tự trách tự hối, xin cải vãng tu lai, không dám làm nữa.

Nguyện xin cha mẹ, bà con quyến thuộc, tất cả thân nhân, bằng tâm nhu nhuyến, tâm điều hòa, tâm vui việc lành, tâm hoan hỷ, tâm phò hộ, tâm như tâm Phật, cho chúng con được sám hối; xả bỏ tất cả tội lỗi cho chúng con, không còn nhớ đến oán thân nữa.

Lại nguyện xin cho cha mẹ, bà con, tất cả quyến thuộc, nếu có ai oán thù trong sáu đường, cũng nguyện xin tất cả chúng sanh trong sáu đường đồng chung xả bỏ oán thù. Hết thảy oán thù trong ba đời nhất thời sạch hết. Từ nay trở đi cho đến ngày thành Đạo, vĩnh biệt tam đồ, tuyệt bốn ác thú; tất cả đều hòa hiệp như nước và sữa, tất cả đều không chướng ngại, rộng lớn như hư không, hằng làm bà con Phật pháp, quyến thuộc Từ bi. Mọi người đều tu tập vô lượng trí tuệ, thành tựu tất cả công đức, dõng mãnh tinh tấn, không ngừng nghỉ, tu đạo Bồ tát không biết mệt mỏi. Tâm đồng như tâm Phật, nguyện đồng như nguyện Phật, được pháp tam mật của chư Phật, đủ năm phần pháp thân, chứng quả vô thượng Bồ đề, thành bậc Chánh giác.

Ngày nay, đại chúng trong Đạo tràng đã hóa giải oán kết với cha mẹ, nay lại nên hóa giải oán kết với Sư trưởng.

Từ bậc Đại thánh trở xuống, tâm thể chưa được hoàn toàn viên tịch, chứng được Vô sanh pháp nhẫn, vẫn còn bị ba tướng của vô minh chi phối.

Ngay cả ở địa vị Đẳng giác, Phật còn phương tiện dùng lời lẽ nghiêm khắc để giúp chúng sanh ác độc ngộ đạo. Bậc Minh Đức giáo hóa quần sanh còn nhờ lời lẽ ấy, huống chi phàm phu, làm sao tránh khỏi oán thù khi tâm còn thanh tịnh chưa trọn vẹn?

Ngày nay, thiện và ác còn phức tạp, minh bạch chưa phân rõ, làm sao tránh khỏi sai lầm trong ba nghiệp? Vì vậy, nghe lời này phải hổ thẹn.

Đối với ơn đức Sư trưởng, phải tự trách mình, lòng nên hổ thẹn, không nên nghi ngờ mà sinh tâm ác.

Trong kinh Phật dạy: “Tuy xuất gia, nhưng chưa được giải thoát, dầu xuất gia cũng không nên tự phụ mình không có điều ác. Người tại gia cũng không nên tự cho mình hoàn toàn không có điều thiện”.

Vả lại, không nên nói việc ấy nữa. Hãy lắng nghe lời Phật dạy trong kinh:

Phật bảo đại chúng: “Các ngươi nên tưởng nhớ ơn Sư trưởng. Cha mẹ tuy sinh thân này, nuôi dưỡng, dạy bảo, nhưng không thể giúp thân này thoát khỏi ba đường ác. Lòng từ của Sư trưởng rất lớn, khuyến dụ dẫn dắt kẻ sơ cơ, cho được xuất gia, rồi truyền trao đại giới (giới Tỳ kheo). Đó tức là kẻ sơ cơ đã hoài báu La hán, sẽ sanh quả La hán, xa lìa khổ đau sinh tử và được an vui Niết bàn. Sư trưởng có ơn đức xuất thế ấy, ai hay báo đáp? Nếu người nào suốt đời hành đạo, đó chỉ là tự lợi, chớ chưa phải báo đáp ơn thầy”.

Phật dạy: “Bạn lành trong thiên hạ không ai bằng Sư trưởng”.

Ngày nay, đại chúng trong Đạo tràng nghe Phật dạy ơn đức Sư trưởng nặng nề như vậy, nhưng chúng con chưa từng phát tâm nghĩ đến. Trái lại, có khi Sư trưởng dạy bảo còn không tin, không lãnh hội, thậm chí nói lời thô thiển, sinh tâm phỉ báng ngang ngược, làm suy đồi Chánh pháp.

Những tội lỗi như thế làm sao thoát khỏi Tam đồ? Khổ báo ấy không ai thay thế! Đến lúc chết rồi, vui đi khổ đến; tinh thần thảm não, tâm ý hôn mê, tinh thần không sáng suốt, ngũ căn tán loạn, muốn đi không thể bước; muốn ngồi thân thể không yên; giả sử muốn nghe thuyết pháp tai không thể nghe; muốn xem cảnh đẹp, mắt không thể thấy. Ngay lúc bấy giờ muốn trở lại lễ sám hôm nay cũng không được, chỉ thấy những cảnh tượng rùng rợn, hung ác trong địa ngục hiện ra mà thôi.

Sở dĩ trong kinh Phật dạy: “Người ngu si tự thị, không tin tội phước, hủy báng Sư trưởng, ghen ghét tật đố. Những người như vậy là Ma vương trong Phật pháp, là dòng giống địa ngục, tự kết oán thù, chịu quả đau khổ vô cùng”.

Như Hòa thượng Hoa Quang Tỳ kheo khéo thuyết pháp bí yếu, có một đệ tử thường ôm lòng kiêu mạn, Hòa thượng dạy bảo không tin, không nghe, lại nói thế này: “Đại Hòa thượng của ta không có trí tuệ, thường hay tán thán những việc trống rỗng như hư không. Ta nguyện đời sau không thấy Ngài nữa”.

Người đệ tử ấy, từ ngày đó pháp nói là phi pháp, phi pháp nói là pháp. Tuy trì cấm giới không hủy phạm, nhưng vì hiểu lầm lời thầy nên sau khi chết, trong một nháy mắt, liền đọa A tỳ địa ngục, tám mươi ức kiếp, thường chịu đại thống khổ.

Ngày nay, đại chúng trong Đạo tràng nghe lời kinh dạy thế ấy, mọi người há không sợ hãi sao?

Chỉ đối với Hòa thượng sinh một lời ác, còn đọa xuống A tỳ địa ngục tám chục ức kiếp, huống nữa từ khi xuất gia trở lại cho đến ngày nay, tội lỗi đối với Hòa thượng đã sinh ra ác nghiệp vô lượng vô biên. Quyết định bỏ thân này sẽ đồng tội với người đệ tử kia, sa xuống địa ngục, không còn nghi gì nữa.

Vì sao vậy? – Vì Hòa thượng và A xà lê thường đem tâm dạy bảo, nhưng chúng con chưa từng đúng như pháp mà tu hành. Đối với các bậc Sư trưởng, phần nhiều chúng con hay sinh lòng trái nghịch, hoặc các Ngài cung cấp cho mà không tự biết chán biết đủ, hoặc thầy giận đệ tử, hoặc đệ tử giận thầy, trong ba đời, sự hỷ nộ vô lượng. Những tội như vậy không thể kể xiết.

Trong kinh Phật dạy: “Sinh một lòng sân, oán thù vô lượng”.

Những oán thù ấy không những trong sáu dòng bà con, mà sư đồ, đệ tử cũng hiềm hận lắm lắm.

Lại còn những lúc đồng phòng chung ở, đối với các bậc thượng tọa, trung tọa, hạ tọa, chúng con không thâm tín sự xuất gia là pháp viễn ly sinh tử, không biết nhẫn nhục là hạnh an lạc, không biết bình đẳng là đường vào Bồ đề, không biết xa lìa vọng tưởng là tâm xuất thế. Thầy trò đồng phòng chung ở, vì kiết sử phiền não, nghiệp chướng chưa hết nên hay trái chống nhau, tâm phân biệt đôi nhiên loạn khởi, nên tranh cãi nhau, sở dĩ vì vậy mà đời đời không hòa hiệp.

Lại nữa, người xuất gia, hoặc là đồng học nghiệp, hoặc là đồng sư chung học trong những ngày ấy, thấy người thắng tấn, chúng liền đem lòng độc hại, sân hận vì ganh tị mà không tự biết đó là sức trí tuệ đời trước, cho nên mới có phước đức chúng con không có thiện căn, tâm hữu lậu của chúng con hay sinh cao hạ, hay ở đấu tranh, ít khi hòa hiệp, không thể nhường nhịn người dày đức, chúng con bạc phước, bèn hiềm hận nhau, mình quấy, chỉ nói xấu người, hoặc vì ba độc mà sàm báng nhau, không có tâm trung tín, không có ý cung kính, không khi nào nghĩ lại điều trái của chúng con. Cho đến cao tiếng lớn lời nói điều tho lỗ là điều Phật cấm; những điều Sư trưởng dạy bảo cũng không tín. Các bậc thượng, trung, hạ tọa, ai cũng ôm lòng phẫn hận chúng con cả. Vì phẫn hận nên lại thị phi nhau, thành ra trong ba đường ác phần nhiều đều có oán thù.

Thị phi oán thù như thế đều do thầy trò đệ tử chúng con gây ra.

Trong lúc đồng học chung ở thượng trung hạ tòa khởi lên một niệm tâm sâm hận, oán thù đã vô lượng.

Sở dĩ trong kinh Phật dạy: “Đời nay có ý giận nhau, ghen ghét nhau, tật đố nhau một chút, đời sau các xấu ấy càng thêm kịch liệt, thành ra oán thù lớn, huống nữa ác ý đã phát ra trọn đời thì nghiệp báo ấy kể sao cho xiết”.

Ngày nay, đại chúng trong Đạo tràng đều không tự biết trong sáu đường đã gây thù kết oán với các bậc Sư trưởng thượng, trung, hạ tòa. Oán thù ấy không có ngày cùng tận.

Sự oán thù này không có hình tướng; thời gian chịu khổ không có kỳ hạn, không có kiếp số, không thể chịu được. Vậy nên Bồ tát ma ha tát xả tâm oán thân, dùng tâm từ bi, tâm bình đẳng mà thâu nhiếp tất cả chúng sanh. Ngày nay, đại chúng đã cùng nhau phát Bồ đề tâm, phát Bồ đề nguyện nên phải tập tu hạnh Bồ tát tứ vô lượng tâm, lục ba la mật, tứ hoằng thệ nguyện, tứ nhiếp pháp. Đó là sự tu hành căn bản của chư Phật và Bồ tát đã làm. Như chư Phật và Bồ tát đã làm, chúng con ngày nay cũng tập làm, oán thân bình đẳng, hết thảy không ngại nhau.

Từ nay trở đi cho đến ngày thành Phật, chúng con phải cứu hộ hết thảy chúng sanh, khiến các chúng sanh đều được giải thoát.

Cùng nhau chí tâm đảnh lễ Tam bảo, chúng con nguyện vì hết thảy chúng sanh, kể từ khi có thần thức cho đến nay, trải qua bao nhiêu đời xuất gia, đối với các bậc Hòa thượng, A xà lê, mà có oán thù; đối với các bậc đồng đàn tôn chứng, mà có oán thù; đối với quyến thuộc đồng học, thượng, trung, hạ tòa, mà có oán thù; hoặc đối với người có duyên hay vô duyên với Phật pháp mà có oán thù; rộng ra cho đến oán thù ba đời, trong tứ sanh lục đạo, khắp cùng mười phương; hoặc có oán thù hay không phải oán thù, hoặc khinh hoặc trọng; đối với quyến thuộc của các người oán thù ấy, đệ tử chúng con tên là [Tên của bạn], nếu có oán thù với tất cả chúng sanh trong sáu đường đến đời vị lai hay trong hiện tại, chúng con chịu trả quả báo, hôm nay chúng con nguyện xin sám hối trừ diệt hết.

Nếu thấy tất cả chúng sanh trong sáu đường mỗi mỗi đều oán thù với nhau, ngày nay đệ tử chúng con tên là [Tên của bạn], xin đem lòng từ bi, không phân biệt oán thân, khắp vì oán thù ba đời mà cầu xin sám hối. Nguyện xin cho các chúng sanh ấy xả bỏ oán thù, không còn nghĩ đến điều ác độc để hại nhau nữa, không còn ôm lòng độc ác đến với nhau nữa. Nguyện xin hết thảy chúng sanh, trong sáu đường cũng đồng xả bỏ oán thù, hết thảy đều hoan hỷ với nhau. Từ nay đã giải oán thù rồi, không còn sân hận nhau, mà cung kính nhau, tâm nghĩ báo ơn nhau, như tâm chư Phật, như nguyện chư Phật. Mọi người đều nhất tâm đảnh lễ quy y Thế gian Đại Từ Bi Phụ:

Nam mô Di Lặc Phật

Nam mô Thích Ca Mâu ni Phật

Nam mô Kiến Hữu Biên Phật

Nam mô Điện Minh Phật

Nam mô Kim Sơn Phật

Nam mô Sư Tử Đức Phật

Nam mô Thắng Tướng Phật

Nam mô Minh Tán Phật

Nam mô Kiên Tinh Tấn Phật

Nam mô Cụ Túc Tán Phật

Nam mô Ly Úy Sư Phật

Nam mô Ứng Thiên Phật

Nam mô Đại Đăng Phật

Nam mô Thế Minh Phật

Nam mô Diệu Âm Phật

Nam mô Trì Thượng Công Đức Phật

Khám phá: Lý Lâm Phủ: 19 năm hoành hành, bài học nhân quả cho gian thần triều Đường

Nam mô Ly Ám Phật

Nam mô Bảo Tán Phật

Nam mô Sư Tử Giáp Phật

Nam mô Diệt Quá Phật

Nam mô Trì Cam Lồ Phật

Nam mô Nhân Nguyệt Phật

Nam mô Hỷ Kiến Phật

Nam mô Trang Nghiêm Phật

Nam mô Châu Minh Phật

Nam mô Sơn Đảnh Phật

Nam mô Danh Tướng Phật

Nam mô Huệ Thượng Bồ tát

Nam mô Thường Bất Ly Thế Bồ tát

Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát.

Lại quy y mười phương tận hư không giới hết thảy Tam bảo. Nguyện xin nhờ oai lực Phật, Pháp, hết thảy Hiền Thánh lực, khiến vô lượng oán thù ba đời, hoặc oán thù hay không phải oán thù, và hết thảy chúng sanh trong hư không pháp giới đều phát tâm sám hối, hóa giải oán kết; tất cả oán thù đều xả bỏ, không còn phân biệt oán thân. Tất cả đều hòa hiệp như nước với sữa, tất cả đều hoan hỷ như ở sơ địa, tất cả đều vô ngại như hư không. Từ nay cho đến ngày thành Phật, hằng làm bà con Phật pháp, quyến thuộc từ bi, như chư Bồ tát.

Lại nữa, chúng con xin nhờ công đức nhân duyên lễ bái sám hối hôm nay để hóa giải oán kết. Nguyện xin chư vị Hòa thượng, các bậc A xà lê, đồng đàn Tôn chứng, các vị đồng học và hết thảy quyến thuộc của các bậc thượng, trung hạ tòa, có oán thù, cho đến các chúng sanh trong bốn loài sáu đường, mỗi mỗi đều có oán thù ba đời, chưa được giải thoát, ngày nay hoặc còn ở trong thiên đạo, tiên đạo, a tu la đạo, địa ngục, ngạ quỷ đạo, súc sanh đạo, nhân đạo, hay còn ở trong bà con quyến thuộc, mười phương ba đời oán thù như vậy, hoặc oán thù hay không oán thù, mỗi người ấy và bà con quyến thuộc của các người ấy, từ nay trở đi cho đến ngày thành Phật, tất cả tội chướng, nguyện đều tiêu diệt, tất cả oán thù hoàn toàn giải thoát, kiết tập phiền não hằng được thanh tịnh, tránh xa bốn ác thú, tự tại thọ sanh, niệm niệm giải thoát, tâm tâm tự tại, sáu ba la mật đầy đủ trang nghiêm, hạnh nguyện thập địa, hoàn toàn viên mãn, được mười trí lực của Phật, thần thông vô ngại, chứng quả Bồ đề thành bậc Chánh giác.

Ngày nay, đại chúng trong Đạo tràng đã biết rõ trên đây là oán thù ba đời và đã hóa giải oán kết. Từ nay trở xuống, riêng từng cá nhân phải tự thanh tịnh, phải hết lòng cùng nhau tự xét: Vì sao mà không được giải thoát?

Nghĩ về trước, không thấy được Đức Phật đối diện thọ ký cho mình, suy sau cũng không nghe được một pháp âm của Phật phô diễn. Bởi vì tội nghiệp sâu dày, oán kết kiên cố, cho nên không những không thấy được Phật đời trước, Phật đời sau, các vị Bồ tát và Hiền Thánh, mà còn sợ e không nghe được âm thanh truyền hưởng vang dội của Tam Tạng kinh điển nữa là khác. Xa cách Phật pháp thì ác đạo và oán thù không do đâu mà giải thoát. Bỏ thân mạng này rồi chìm xuống biển khổ luân chuyển ba đường, trải khắp ác thú, biết bao giờ trở lại được thân người?

Suy nghĩ như vậy mới thật là đau lòng, tâm tư như vậy mới thật là khổ trí.

Chúng con được hạnh phúc may mắn, nhờ thuần phong của Phật, nên xả bỏ ái dục, ly tục, không còn tưởng nhớ gì nữa, há lại không tranh thủ thời gian để cầu giải thoát. Nếu ý chí không kiên cường, quyết liệt chịu khổ, không còn lo sợ, thoạt vậy thân lâm trọng bệnh, thân trung ấm hiện ra, thì ngưu đầu, ngục tốt, la sát, a bàng, hình tướng dễ sợ thình lình tìm đến, gió phong đao xẻ thân, tinh thần sợ hãi, tán loạn, bà con khóc lóc cũng không hay biết. Ngay lúc bấy giờ sinh một niệm thiện tâm, cầu lễ sám như ngày nay cũng không thể được, chỉ thấy vô lượng đau khổ trong ba đường ác hiện ra.

Ngày nay, đại chúng đều phải nỗ lực tu tập cho kịp thời; nếu cứ tùy ý phóng túng thì chí hướng thượng phải chậm trễ; cho nên phải cố gắng chịu khổ mà dõng mãnh tiến lên.

Vì thế trong kinh có dạy: “Từ bi là Đạo tràng, vì nhẫn nhục chịu khổ vậy”. Phát tâm tu theo Đạo tràng này thì mọi việc đều xong xuôi”.

Vậy nên biết rằng: “Vạn thiện được trang nghiêm đều nhờ sự cố gắng nhẫn nại; cũng như muốn qua bể cả, phải nương nhờ ghe thuyền. Nếu có tâm cầu an vui mà không làm việc gây nhân cầu vui thì không thể có kết quả an vui. Lý và sự phải đi đôi với nhau. Người hết lương thực mà chỉ mơ tưởng cao lương mỹ vị tưởng suông như vậy nào có ích gì cho sự đói khát, cần phải làm thế nào cho có cao lương mỹ vị thật sự mới được.

Vậy muốn cầu có quả tốt đẹp nhiệm mầu, quyết phải lý và sự đồng hành, không thể thiếu một.

Đại chúng phải cùng nhau sanh tâm tăng thượng, phát ý hổ thẹn mà sám hối diệt tội giải các oán kết. Trái lại cứ mê mờ theo thói cũ thì chưa biết ngày nào tỏ ngộ. Nếu mọi người đều giải thoát mà ta còn trầm luân thì ăn năn không kịp.

Đại chúng nhất tâm đầu thành đảnh lễ quy y Thế gian, Đại Từ Bi Phụ:

Nam mô Di Lặc Phật

Nam mô Thích Ca Mâu ni Phật

Nam mô Định Nghĩa Phật

Nam mô Thí Nguyện Phật

Nam mô Bảo Chúng Phật

Nam mô Chúng Vương Phật

Nam mô Du Bộ Phật

Nam mô An Ổn Phật

Nam mô Pháp Sai Biệt Phật

Nam mô Thượng Tôn Phật

Nam mô Cực Cao Đức Phật

Nam mô Thượng Sư Tử Âm Phật

Nam mô Lạc Hý Phật

Nam mô Long Minh Phật

Nam mô Hoa Sơn Phật

Nam mô Long Hỷ Phật

Nam mô Hương Tự Tại Vương Phật

Nam mô Đại Danh Phật

Nam mô Thiện Lực Phật

Nam mô Đức Man Phật

Nam mô Long Thủ Phật

Nam mô Thiện Hành Ý Phật

Nam mô Nhân Trang Nghiêm Phật

Nam mô Trí Thắng Phật

Nam mô Vô Lượng Nguyệt Phật

Nam mô Thực Ngữ Phật

Nam mô Nhật Minh Phật

Nam mô Dược Vương Bồ tát

Nam mô Dược Thượng Bồ tát

Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát.

Lại quy y mười phương tận hư không giới hết thảy Tam bảo. Đệ tử chúng con tên là [Tên của bạn], tích tập tội chướng sâu dày hơn đại địa, bị vô minh che lấp tâm tánh, trong đêm dài mù mịt, do ba độc mà tạo nhân thù oán, nên mê muội, chìm sâu trong ba cõi không có ngày ra.

Ngày nay nhờ sức từ bi của chư Phật, chư Đại Bồ tát mới mong giác ngộ, sinh tâm hổ thẹn, chí thành cầu xin tỏ bày sám hối. Nguyện xin chư Phật, chư Đại Bồ tát dủ lòng từ bi thâu nhiếp chúng con, đem sức đại trí tuệ, sức bất tư nghì, sức vô lượng tự tại, sức hàng phục tứ ma, sức diệt trừ phiền não, sức giải oan kết, sức độ thoát chúng sanh, sức an ổn chúng sanh, sức giải thoát địa ngục, sức tế độ ngạ quỷ, sức cứu vớt súc sanh, sức nhiếp hóa a tu la, sức nhiếp thọ nhân đạo, sức tận chư Thiên chư Tiên hữu lậu, sức vô lượng vô biên công đức, vô lượng vô tận trí tuệ. Nhờ những sức lực ấy khiến các chúng sanh có oán thù trong bốn loài sáu đường, đồng đến Đạo tràng thọ lãnh sự sám hối của chúng con hôm nay.

Chúng con tên là [Tên của bạn], xả bỏ tất cả sự thù oán, không còn tư tưởng oán thù. Những nghiệp oán thù đã kết đều được giải thoát. Hằng lìa tám nạn khổ, không còn bốn ác thú, thường gặp được chư Phật, nghe Pháp, ngộ Đạo, phát tâm Bồ đề, tu nghiệp xuất thế. Tứ Vô Lượng tâm, Lục Ba la mật hết lòng tu tập, tất cả hạnh nguyện đều được viên mãn, đồng lên Thập địa, đồng vào Kim cang, đồng thành Chánh giác.

Ngày nay, đại chúng trong Đạo tràng nên nhận thấy rằng: Oán thù theo nhau đều do ba nghiệp đày đọa con người tu hành phải chịu khổ báo, khó chứng đạo quả.

Tìm hiểu thêm: Quan Âm hay Quán Âm: Lắng nghe tiếng lòng, thấu hiểu danh hiệu từ bi

Đã biết nguồn gốc đau khổ đều do ba nghiệp thì phải dõng mãnh diệt trừ ba nghiệp. Điều kiện thiết yếu dùng để diệt khổ, duy chỉ có phương pháp sám hối. Cho nên trong kinh Phật khen ngợi rằng: “Ở đời chỉ có hai hạng người mạnh nhất: Một là hạng người không tạo tội; hai là người tạo tội rồi mà biết ăn năn, sám hối.”

Ngày nay đại chúng muốn sám hối, thân tâm đều phải trong sạch, y phục chỉnh tề, sanh lòng hổ thẹn, buồn thảm, não lòng. Sinh hai niệm tâm thì tội gì cũng diệt, phước gì cũng sanh.

Những gì là hai?

Một là biết hổ; hai là biết thẹn. Hổ là xấu hổ với trời. Thẹn là thẹn thùng với người. Hổ là tự mình hay sám hối, diệt trừ các oán thù. Thẹn là hay dạy bảo người cởi mở các sự trói buộc. Hổ là hay làm các điều thiện. Thẹn là hay tùy hỷ các việc thiện của người. Hổ là tự xấu hổ trong tâm. Thẹn là phát lồ, tỏ bày tội lỗi với người.

Nhờ hai pháp ấy mà người tu hành được pháp an vui vô ngại.

Ngày nay đã sanh tâm đại hổ thẹn, làm lễ đại sám hối, nên phải hết lòng cầu xin Tứ sanh Lục đạo. Vì sao vậy?

Vì trong kinh Phật dạy rằng: “Tất cả chúng sanh đều là bà con quyến thuộc với nhau, hoặc đã từng làm cha mẹ, hoặc đã từng làm Sư trưởng, cho đến hoặc đã từng làm anh em chị em với nhau. Hết thảy chúng sanh đều như thế. Bởi vô minh che lấp chân tánh nên không biết nhau. Vì không biết nên hay sinh ra xúc não và oán thù nhau mãi mãi.

Ngày nay, đại chúng đã hiểu biết ý ấy, nên phải hết lòng thành khẩn tha thiết dụng tâm, quyết khiến một niệm tâm cảm mười phương Phật, một lạy đoạn trừ vô lượng oán thù.

Đại chúng đầu thành đảnh lễ quy y Thế gian Đại Từ Bi Phụ:

Nam mô Di Lặc Phật

Nam mô Thích Ca Mâu ni Phật

Nam mô Định Ý Phật

Nam mô Vô Lượng Hình Phật

Nam mô Minh Chiếu Phật

Nam mô Bảo Tướng Phật

Nam mô Đoạn Nghi Phật

Nam mô Thiện Minh Phật

Nam mô Bất Hư Bộ Phật

Nam mô Giác Ngộ Phật

Nam mô Hoa Tướng Phật

Nam mô Sơn Chủ Vương Phật

Nam mô Đại Oai Đức Phật

Nam mô Biến Kiến Phật

Nam mô Vô Lượng Danh Phật

Nam mô Bảo Thiên Phật

Nam mô Trú Nghĩa Phật

Nam mô Mãn Ý Phật

Nam mô Thượng Tán Phật

Nam mô Vô Ưu Phật

Nam mô Vô Cầu Phật

Nam mô Phạm Thiên Phật

Nam mô Hoa Minh Phật

Nam mô Thân Sai Biệt Phật

Nam mô Pháp Minh Phật

Nam mô Tận Kiến Phật

Nam mô Đức Tịnh Phật

Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ tát

Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ tát

Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát.

Lại quy y mười phương tận hư không giới hết thảy Tam bảo.

Nguyện xin Tam bảo đồng gia tâm nhiếp thọ chúng con.

Chúng con tên là [Tên của bạn], cầu xin: Những điều sám hối đều được diệt trừ, đều được thanh tịnh.

Lại nguyện xin cho những người đồng sám hối hôm nay từ nay trở đi cho đến ngày thành Phật, tất cả oán thù đều được giải thoát, tất cả thống khổ đều được tiêu diệt hoàn toàn; kiết tập phiền não hằng được thanh tịnh. Xa lìa bốn ác thú, tự tại thọ sanh, đích thân hầu hạ chư Phật, được Phật thọ ký, Lục độ, Tứ đẳng, nhất thời đồng tu, đủ bốn biện tài, được mười trí lực, tướng tốt nghiêm thân, thần thông vô ngại, vào Kim cang tâm, thành bậc Chánh giác.

QUYỂN THỨ NĂM

—HẾT—

Chú thích:

1] 10 phiền não: Tức là 10 sử: Tham, sân, si, mạn, nghi: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ.

[2] Ngũ kiến: 1- Thân kiến: lầm chấp thân này thật có. 2.- Biên kiến: chấp thân này hoặc chết là hết, hoặc chết là còn mãi mãi không luân hồi. 3.- Tà kiến: không tin nhân quả, không tin luân hồi, hủy báng Tam bảo. 4.- Kiến thủ: không chịu bỏ ý kiến cũ mặc dầu biết là sai lầm. 5.- Giới cấm thủ: theo các giới cấm ngoại đạo.

[3] 62 kiến: Đối với năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) ngoại đạo khởi ra bốn món chấp: 1- Chấp sắc lớn ngã nhỏ, ngã ở trong sắc. 2- Chấp ngã lớn sắc nhỏ, sắc ở trong ngã. 3- Chấp ngã ở ngoài sắc, riêng tự tại. 4- Chấp ngã tức là sắc.

Sắc ấm có 4 chấp. Năm ấm có 20 chấp. Chấp suốt ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai nhân thành 60 chấp, thêm vào 2 món chấp đoạn, chấp thường nữa thành ra 62 chấp.

[4] Sơ địa: gọi là Hoan hỷ địa, địa thứ nhất trong hàng Thập địa quả vị của Bồ tát. Địa này rất vui, vì phát tâm từ bi tu hạnh hỷ xả, nên cảm quả báo ở địa này thật là vui.

[5] Ba độc: Tham, sân, si.

[6] Tam mật: Thân mật, khẩu mật, và ý mật. Phật lấy tất cả cảnh sắc làm thân, tất cả âm thanh làm khẩu, tất cả lý tưởng làm ý, và ba điều ấy biến khắp pháp giới, chỉ riêng Phật đã chứng được nên gọi là Phật.

[7] Vô sanh pháp nhẫn: Nói tắt là vô sanh nhẫn: là cái lý thể thật tướng, chân như bất động. Bồ tát từ sơ địa đến bát địa mới chứng được vô sanh nhẫn, gọi a bệ bạt trí, địa vị bất thối chuyển.

[8] 10 Trí lực của Phật:

1- Trí lực biết chỗ đúng đạo lý hay không đúng đạo lý của sự vật.

2- Trí lực biết nhân quả nghiệp báo ba đời của chúng sanh.

3- Trí lực biết các môn thiền định giải thoát tam muội.

4- Trí lực biết các căn thắng (hơn) liệt (kém) của chúng sanh.

5- Trí lực biết được sức hiểu biết sai khác của chúng sanh.

6- Trí lực biết mọi cảnh giới sai khác của chúng sanh.

7- Trí lực biết được chỗ sẽ đến của mọi đường chúng sanh.

8- Trí lực biết dùng thiên nhãn không chướng ngại.

9- Trí lực biết được túc mạng vô lậu.

10- Trí lực biết dứt hẳn tập khí.

[9] Ba nghiệp: Hành động của thân, khẩu, ý.

Kinh Lương Hoàng Sám (Quyển 4)

Chúng ta vừa cùng nhau chiêm nghiệm về sự hóa giải oán kết trong Kinh Lương Hoàng Sám, hy vọng những lời dạy này sẽ giúp bạn tìm thấy sự bình an và hướng đến con đường giác ngộ trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang