Trong khuôn khổ của những lời dạy uyên thâm, Đức Phật đã khai mở về quy luật nhân quả, nơi mọi trải nghiệm sống của chúng sinh đều chịu sự chi phối từ chính hành động của mình. Hiểu rõ sự đa dạng của nghiệp, từ những hệ lụy về sức khỏe, tuổi thọ, dung mạo cho đến địa vị xã hội, sẽ giúp chúng ta định hướng tốt hơn trên con đường tu tập. Khám phá sâu hơn về cách nghiệp báo vận hành và làm thế nào để chuyển hóa chúng, bạn có thể tìm hiểu thêm tại Chiasedaophat.
Trong khu vườn của ông Cấp Cô Độc, thuộc khu rừng Kỳ Đà tại thành Xá Vệ, Đức Phật đã thuyết giảng cho trưởng giả Thủ Ca về sự khác biệt trong nghiệp báo thiện ác.
Đức Phật đã chỉ dạy cho trưởng giả Thủ Ca rằng:
— Này trưởng giả, tất cả chúng sinh đều bị chi phối bởi nghiệp, nương tựa vào nghiệp và luân chuyển theo nghiệp của chính mình. Chính vì vậy, có sự khác biệt lớn lao, dù là nhỏ hay lớn, trong các trải nghiệm của chúng sinh. Có những nghiệp dẫn đến cái chết yểu, có nghiệp lại mang đến tuổi thọ dài lâu. Có nghiệp gây bệnh tật triền miên, có nghiệp giúp thân thể khỏe mạnh. Có nghiệp khiến dung mạo thô kệch, có nghiệp lại ban cho vẻ ngoài đoan trang. Có nghiệp làm giảm uy thế, có nghiệp lại ban cho quyền lực lớn. Có nghiệp khiến sinh vào dòng dõi thấp kém, có nghiệp lại đưa đến cao sang. Có nghiệp khiến tài sản ít ỏi, có nghiệp lại mang đến sự giàu có. Có nghiệp dẫn đến trí tuệ mờ mịt, có nghiệp lại mang đến sự minh mẫn. Có nghiệp đọa vào địa ngục, nghiệp khác đọa vào loài súc sinh, ngạ quỷ, A tu la. Lại có nghiệp đưa đến cõi người, cõi trời, cõi Sắc và Vô Sắc. Nghiệp có thể quyết định tương lai hoặc bất định. Nghiệp có thể khiến sinh nơi biên địa xa xôi hoặc trung tâm phồn hoa. Nghiệp còn chi phối cả thời gian chịu khổ trong địa ngục, từ trọn kiếp, nửa kiếp, đến vào rồi ra. Nghiệp còn được phân loại theo hành động và sự tích lũy: nghiệp làm mà không tụ, tụ mà không làm, vừa làm vừa tụ, không làm cũng không tụ. Nghiệp có thể dẫn đến quả báo trước vui sau khổ, trước khổ sau vui, trước khổ sau khổ, hay trước vui sau vui. Nghiệp còn biểu hiện qua sự giàu có nhưng keo kiết, nghèo khó nhưng bố thí, hay thân an lạc mà tâm khổ, tâm an lạc mà thân khổ, hoặc cả thân tâm đều khổ hoặc đều vui. Nghiệp có thể khiến mạng đã hết nhưng nghiệp chưa dứt, nghiệp đã dứt mà mạng vẫn còn, hoặc cả nghiệp và mạng cùng dứt hoặc cùng còn. Nghiệp còn ảnh hưởng đến hình tướng khi tái sinh vào các cõi, dù là ác đạo, có thể có dung mạo đẹp đẽ, đôi mắt thanh tú, làn da sáng mịn, khiến ai cũng yêu mến, hoặc ngược lại, hình dung thô xấu, da thịt xù xì, không ai muốn nhìn, thậm chí thân miệng hôi thối, ngũ quan khiếm khuyết.
Chúng sinh tu tập mười nghiệp bất thiện sẽ chịu quả báo xấu về ngoại cảnh, còn tu tập mười thiện nghiệp sẽ nhận được quả báo tốt đẹp.
Đức Phật tiếp tục giảng về các phước lành từ việc cúng dường và kính ngưỡng:
— Này trưởng giả, việc kính lạy tháp miếu của Phật, cúng dường bảo cái, tràng phan, chuông linh, y phục, chén bát, đồ ăn thức uống, giày dép, hương hoa, đèn sáng, hay chỉ đơn giản là cung kính chắp tay, đều mang lại mười loại công đức tương ứng. Đây là tóm lược về sự sai biệt của các nghiệp trong thế gian.
Đức Phật sau đó đã chi tiết hóa mười loại nghiệp dẫn đến các quả báo cụ thể:
Mười Nghiệp Dẫn Đến Cái Chết Yểu
- Tự mình thực hiện hành vi sát sinh.
- Bảo người khác thực hiện hành vi sát sinh.
- Tán dương, khen ngợi hành động giết chóc.
- Cảm thấy vui mừng khi chứng kiến cảnh giết chóc.
- Nuôi dưỡng ý định tiêu diệt kẻ thù.
- Cảm thấy sung sướng khi kẻ thù bị tiêu diệt.
- Phá hoại thai nhi của người khác.
- Dạy dỗ người khác phá hoại thai nhi.
- Xây dựng miếu thờ thần linh để thực hiện nghi lễ hiến tế sinh vật.
- Khuyến khích người khác tham gia vào các cuộc xung đột, dẫn đến tàn sát lẫn nhau.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ dẫn đến quả báo chết yểu.
Mười Nghiệp Mang Lại Tuổi Thọ Trường Cửu
- Bản thân không thực hiện hành vi sát sinh.
- Khuyên nhủ người khác không nên sát sinh.
- Tán dương, ca ngợi hành động không sát sinh.
- Cảm thấy vui mừng khi chứng kiến người khác không sát sinh.
- Cứu giúp, bảo vệ những sinh vật đang bị giết hại.
- An ủi, trấn an những người đang đối mặt với nguy hiểm tính mạng.
- Thực hiện hành vi bố thí sự vô úy cho những người đang sợ hãi.
- Đối với những sinh linh đang chịu khổ nạn, khởi tâm thương xót.
- Đối với những chúng sinh đang gặp nguy cấp, khởi tâm đại bi.
- Sử dụng thức ăn, thức uống để bố thí cho chúng sinh.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ mang lại quả báo trường thọ.
Mười Nghiệp Dẫn Đến Bệnh Tật Triền Miên
- Thường xuyên đánh đập, hành hạ chúng sinh.
- Khuyến khích người khác đánh đập, hành hạ.
- Tán dương, khen ngợi hành động đánh đập, hành hạ.
- Cảm thấy vui mừng khi chứng kiến cảnh đánh đập, hành hạ.
- Làm cha mẹ phiền lòng, buồn khổ.
- Gây phiền nhiễu cho các bậc Thánh Hiền.
- Cảm thấy vui mừng khi kẻ thù gặp bệnh tật, khổ đau.
- Cảm thấy không vui khi kẻ thù bệnh tật thuyên giảm.
- Cố tình không cung cấp thuốc men hoặc phương pháp chữa trị cho kẻ thù.
- Ăn thức ăn ôi thiu, khó tiêu, gây hại cho sức khỏe.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ dẫn đến quả báo nhiều bệnh tật.
Mười Nghiệp Mang Lại Cơ Thể Khỏe Mạnh
- Không đánh đập, hành hạ chúng sinh.
- Không khuyến khích người khác đánh đập, hành hạ.
- Tán dương, ca ngợi hành động không đánh đập, hành hạ.
- Cảm thấy vui mừng khi chứng kiến người khác không đánh đập, hành hạ.
- Cúng dường, chăm sóc cha mẹ và những người bệnh.
- Giúp đỡ, chăm sóc và cúng dường các bậc Hiền Thánh khi họ bị bệnh.
- Cảm thấy vui mừng khi kẻ thù khỏi bệnh.
- Khi thấy người bệnh khổ, thực hiện bố thí thuốc men và khuyên người khác làm việc tương tự.
- Đối với chúng sinh bệnh tật, khởi tâm thương xót.
- Tiết kiệm trong việc sử dụng thức ăn, thức uống.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ mang lại quả báo ít bệnh tật.
Mười Nghiệp Dẫn Đến Dung Mạo Thô Sấu
- Thường xuyên nổi giận, sân hận.
- Nuôi dưỡng lòng oán ghét, thù hận.
- Nói dối, lừa gạt người khác.
- Gây phiền nhiễu, làm hại chúng sinh.
- Không có lòng kính yêu đối với cha mẹ và nơi ở của họ.
- Không có tâm cung kính đối với các bậc Hiền Thánh.
- Chiếm đoạt tài sản, ruộng vườn của các bậc Hiền Thánh.
- Làm tắt lịm ánh sáng đèn tại các tháp miếu của Phật.
- Khi thấy người có dung mạo thô xấu, liền khinh bỉ, chê bai.
- Thường xuyên thực hành các hạnh ác.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ dẫn đến quả báo dung mạo thô xấu.
Mười Nghiệp Mang Lại Dung Mạo Đoan Chính
- Không nổi giận, sân hận.
- Bố thí y phục cho người khác.
- Thương yêu, kính trọng cha mẹ.
- Tôn trọng các bậc Hiền Thánh.
- Sửa sang, làm đẹp các tháp Phật.
- Lau dọn, gìn giữ từ đường.
- Lau dọn, gìn giữ chốn già lam.
- Lau dọn, gìn giữ tháp Phật.
- Khi thấy người có dung mạo thô xấu, không khinh khi, nhưng giữ tâm cung kính.
- Nhận thức rõ ràng về nhân quả, hiểu rằng sự đoan chính là kết quả của thiện nghiệp đời trước.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ mang lại quả báo dung mạo đoan chính.
Mười Nghiệp Dẫn Đến Ít Uy Thế
- Đối với chúng sinh khác, khởi tâm ganh ghét.
- Khi thấy người khác đạt được tài lợi, sanh tâm buồn rầu, bực tức.
- Khi thấy người khác bị mất lợi, trong lòng vui mừng.
- Khi thấy người khác được danh tiếng, sanh tâm ganh ghét.
- Khi thấy người khác bị mất danh dự, trong lòng hân hoan.
- Thối thất tâm Bồ Đề, hủy hoại hình tượng của Phật.
- Không có tâm thờ phụng, kính yêu đối với cha mẹ và nơi ở của các bậc Hiền Thánh.
- Khuyến khích người khác tu tập những hành động thiếu oai nghi.
- Cản trở người khác tu tập những hành động có oai nghi.
- Khi thấy người có ít oai đức, sanh lòng khinh dễ.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ dẫn đến quả báo có ít uy thế.
Mười Nghiệp Mang Lại Uy Thế Lớn
- Đối với chúng sinh khác, không có tâm đố kỵ.
- Khi thấy người khác đạt được tài lợi, sanh tâm hoan hỷ.
- Khi thấy người khác bị mất lợi, trong lòng thương xót.
- Khi thấy người khác được danh tiếng, trong lòng hân hoan.
- Khi thấy người khác bị mất danh dự, giúp đỡ họ giảm bớt buồn lo.
- Phát tâm Bồ Đề, tạo hình tượng Phật, cúng dường bảo cái.
- Đối với cha mẹ và nơi ở của các bậc Hiền Thánh, cung kính nghinh rước.
- Khuyến khích người khác từ bỏ nghiệp ít có oai đức.
- Khuyến khích người khác tu tập nghiệp có oai đức lớn.
- Khi thấy người không có oai đức, không đem lòng khinh chê.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ mang lại quả báo có uy thế lớn.
Mười Nghiệp Dẫn Đến Sinh Vào Dòng Dõi Thấp Kém
- Không biết kính trọng Cha.
- Không biết kính trọng Mẹ.
- Không biết kính trọng Sa môn.
- Không biết kính trọng Bà la môn.
- Đối với các bậc Tôn trưởng không biết kính ngưỡng.
- Đối với các bậc Sư trưởng không cung nghinh cúng dường.
- Khi thấy các bậc Tôn trưởng không mời ngồi.
- Đối với lời giáo huấn của cha mẹ không tuân theo.
- Đối với bậc Hiền Thánh không thọ giáo.
- Khinh chê những người thấp kém.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ dẫn đến quả báo sinh vào dòng dõi thấp kém.
Mười Nghiệp Mang Lại Sinh Vào Dòng Dõi Cao Thượng
- Biết cách kính trọng Cha.
- Biết cách kính trọng Mẹ.
- Biết cách kính trọng Sa môn.
- Biết cách kính trọng Bà la môn.
- Kính trọng, bảo vệ các bậc Tôn trưởng.
- Thờ kính các bậc Sư trưởng.
- Khi thấy các bậc Sư trưởng, cung kính mời ngồi.
- Đối với lời giáo huấn của cha mẹ, kính cẩn thọ nhận.
- Đối với bậc Hiền Thánh, tôn kính và thọ giáo.
- Không khinh chê những người thấp hèn.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ mang lại quả báo sinh vào dòng dõi cao thượng.
Mười Nghiệp Dẫn Đến Ít Của Cải
- Bản thân thực hiện hành vi trộm cắp.
- Khuyến khích người khác trộm cắp.
- Tán dương, khen ngợi hành vi trộm cắp.
- Cảm thấy vui mừng khi chứng kiến cảnh trộm cắp.
- Không lo làm ăn, gây dựng sự nghiệp cho cha mẹ.
- Chiếm đoạt tài vật của các bậc Hiền Thánh.
- Khi thấy người khác có tài vật, tâm không hoan hỷ.
- Ngăn cản người khác đạt được lợi ích, gây ra tai họa cho họ.
- Khi thấy người khác bố thí, không có tâm tùy hỷ.
- Khi thấy người đời đói khổ, không thương xót mà còn vui mừng.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ dẫn đến quả báo đời sống có ít của cải.
Mười Nghiệp Mang Lại Nhiều Của Cải
- Bản thân xa lìa hành vi trộm cắp.
- Không khuyến khích người khác trộm cắp.
- Không tán dương hành vi trộm cắp.
- Cảm thấy vui mừng khi chứng kiến người khác không trộm cắp.
- Phụng sự, hỗ trợ cha mẹ trong việc làm ăn.
- Cung cấp những vật dụng cần thiết cho các bậc Hiền Thánh.
- Khi thấy người khác đạt được lợi ích, sanh tâm hoan hỷ.
- Giúp đỡ, hỗ trợ những người cầu lợi.
- Khi thấy người bố thí thuốc men, sanh tâm hoan hỷ.
- Khi thấy người đời đói khổ, sanh tâm thương xót.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ mang lại quả báo đời sống có nhiều của cải.
Mười Nghiệp Dẫn Đến Tà Trí
- Không tìm học hỏi từ các vị Sa môn, Bà la môn có trí tuệ.
- Loan truyền những giáo lý sai lầm, tà pháp.
- Không thể tu tập, thọ trì chánh pháp.
- Tán dương những pháp không phải là định, cho rằng đó là pháp định.
- Tiếc nuối giáo pháp, không chịu chia sẻ.
- Thân cận những kẻ tà trí, thiếu hiểu biết.
- Xa lìa những bậc có chánh trí.
- Tán dương tà kiến.
- Bỏ rơi chánh kiến.
- Khi thấy người ngu si, hung ác, liền khinh khi, chê bai.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ dẫn đến quả báo tà trí.
Mười Nghiệp Mang Lại Chánh Trí
- Biết cách tìm hỏi các vị Sa môn, Bà la môn có trí tuệ.
- Loan truyền những giáo lý đúng đắn, chánh pháp.
- Nghe và thọ trì chánh pháp.
- Khi nghe người nói pháp định, khen ngợi rằng: “Lành thay!”.
- Thích thú chia sẻ chánh pháp.
- Thân cận những người có chánh trí.
- Nhiếp hộ, gìn giữ chánh pháp.
- Siêng năng tu tập, học hỏi giáo pháp.
- Xa lìa tà kiến.
- Khi thấy người ngu si, hung ác, không khinh chê.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ mang lại quả báo chánh trí.
Mười Nghiệp Dẫn Đến Địa Ngục
- Thực hiện các ác nghiệp nặng.
- Miệng nói những lời ác nghiệp nặng.
- Ý nghĩ về các ác nghiệp nặng.
- Khởi sinh đoạn kiến (quan niệm cho rằng sự sống chấm dứt hoàn toàn sau khi chết).
- Khởi sinh thường kiến (quan niệm về sự tồn tại vĩnh cửu của linh hồn hoặc bản ngã).
- Khởi sinh vô nhân kiến (quan niệm không có nguyên nhân cho mọi sự vật, hiện tượng).
- Khởi sinh vô tác kiến (quan niệm không có hành động hay nghiệp báo).
- Khởi sinh vô kiến kiến (quan niệm không có cái thấy hoặc nhận thức).
- Khởi sinh biên kiến (quan niệm cực đoan, phiến diện).
- Không biết báo ân, vô ơn với người đã giúp đỡ.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ dẫn đến quả báo đọa vào địa ngục.
Mười Nghiệp Dẫn Đến Loài Súc Sinh
- Thân thực hiện các ác nghiệp bậc trung.
- Miệng nói các ác nghiệp bậc trung.
- Ý nghĩ về các ác nghiệp bậc trung.
- Khởi sinh các ác nghiệp từ phiền não tham ái.
- Khởi sinh các ác nghiệp từ phiền não sân hận.
- Khởi sinh các ác nghiệp từ phiền não si mê.
- Chửi mắng, lăng mạ chúng sinh.
- Hành hạ, gây tổn hại chúng sinh.
- Bố thí những vật không tinh khiết, ô uế.
- Thực hiện hành vi tà dâm.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ dẫn đến quả báo đọa vào loài súc sinh.
Mười Nghiệp Dẫn Đến Ngạ Quỷ
- Thân thực hiện các ác nghiệp nhẹ.
- Miệng nói các ác nghiệp nhẹ.
- Ý nghĩ về các ác nghiệp nhẹ.
- Khởi sinh tâm tham lam quá độ.
- Khởi sinh tâm tham lam độc ác.
- Tật đố, ghen ghét người khác.
- Tà kiến, tin tưởng vào những điều sai lầm.
- Ái luyến của cải, vật chất rồi chết đi.
- Chết vì đói khát.
- Chết vì bị khô hạn bức bách.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ dẫn đến quả báo đọa vào cõi ngạ quỷ.
Mười Nghiệp Dẫn Đến A Tu La
- Thân thực hiện các ác nghiệp dù chỉ một chút.
- Miệng nói các ác nghiệp dù chỉ một chút.
- Ý nghĩ về các ác nghiệp dù chỉ một chút.
- Kiêu mạn, tự cao tự đại.
- Ngã mạn, cho mình là hơn người.
- Tăng thượng mạn, tự cho mình đã đạt được những điều chưa đạt.
- Đại mạn, có thái độ ngạo mạn lớn.
- Tà mạn, có sự tự cao sai lầm.
- Mạn mạn, có sự tự cao liên tục.
- Hướng các căn lành về đạo A Tu La.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ dẫn đến quả báo đọa vào cõi A Tu La.
Mười Nghiệp Mang Lại Sanh Ở Cõi Trời
Thực hành đầy đủ mười thiện nghiệp (không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không nói lời ác, không tham, không sân, không tà kiến) sẽ dẫn đến quả báo sinh về cõi trời.
Nếu mười thiện nghiệp này không được thực hành một cách trọn vẹn, mà chỉ bị sứt mẻ, thì sẽ dẫn đến quả báo sinh về cõi người.
Thực hành mười thiện nghiệp một cách đầy đủ và tăng thượng sẽ dẫn đến quả báo sinh vào các cõi trời Dục giới.
Thực hành mười thiện nghiệp hữu lậu, tương ưng với các tầng thiền định, sẽ dẫn đến quả báo sinh vào các cõi trời Sắc giới.
Bốn Nghiệp Dẫn Đến Cõi Trời Vô Sắc
- Vượt qua tất cả tưởng về sắc, diệt trừ những đối tượng có thể nhận thức, nhập vào Không xứ định.
- Vượt qua Không xứ định, nhập vào Thức xứ định.
- Vượt qua Thức xứ định, nhập vào Vô Sở Hữu xứ định.
- Vượt qua Vô Sở Hữu xứ định, nhập vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng xứ định.
Thực hiện bốn nghiệp này sẽ mang lại quả báo sinh vào cõi Trời Vô Sắc.
Nghiệp Báo Quyết Định
Nếu ai đó thực hiện hành vi bố thí với tâm tăng thượng đối với Phật, Pháp, Tăng, hoặc những người giữ giới thanh tịnh, và phát nguyện hồi hướng phước báu đó, thì sẽ được vãng sanh về cõi Tịnh độ. Đây được gọi là nghiệp báo quyết định.
Nghiệp Báo Bất Định
Nếu tạo nghiệp mà không phải với tâm tăng thượng, không tu tập thêm, cũng không phát nguyện hồi hướng, thì kết quả sẽ là nghiệp báo bất định, tùy duyên mà chiêu cảm quả báo.
Nghiệp Báo Sanh Ở Biên Địa
Nếu tạo nghiệp đối với Phật, Pháp, Tăng, người trì giới, hay nơi thanh tịnh, mà không phát tâm tăng thượng cúng dường, thì căn lành này sẽ khiến sinh về biên địa, thọ nhận cả quả báo tịnh và bất tịnh.
Nghiệp Báo Sanh Ở Trung Quốc
Nếu khi tạo nghiệp đối với Phật, Pháp, Tăng, người trì giới thanh tịnh, hay nơi thanh tịnh, mà khởi tâm tăng thượng, ân cần bố thí, thì nhờ thiện căn này, quyết định phát nguyện cầu sinh trung quốc, gặp Phật và nghe Chánh Pháp, thọ nhận quả báo thanh tịnh thượng diệu.
Các Loại Nghiệp Khác Nhau
Nghiệp khiến mãi mãi ở trong địa ngục: Những người tạo nghiệp địa ngục mà không hổ thẹn, không chán ghét, không sợ hãi, thậm chí còn hoan hỷ và không sám hối, còn tiếp tục tạo nghiệp ác sâu nặng, như Đề Bà Đạt Đa, sẽ mãi mãi đọa trong địa ngục.
Nghiệp khiến đọa địa ngục, nửa chừng yểu mạng: Nếu tạo nghiệp địa ngục, tích lũy rồi mà sau đó sinh sợ hãi, xấu hổ, nhàm chán, sám hối và từ bỏ, thì sẽ đọa vào địa ngục nhưng chỉ chịu khổ nửa chừng rồi mạng yểu, không hết tuổi thọ.
Nghiệp khiến đọa địa ngục, vừa vào liền ra: Nếu tạo nghiệp địa ngục rồi sợ hãi, khởi tâm tin tấn, xấu hổ, chán điều ác, xả bỏ và sám hối chân thành, không tạo nữa, như vua A Xà Thế giết cha, thì khi vào địa ngục sẽ được giải thoát ngay. Như lời kệ của Đức Phật:
“Nếu ai tạo tội nặng,
Tạo rồi tự trách mình.
Sám hối không tạo nữa
Nhổ hết nghiệp căn bản.”
Nghiệp làm mà không nhóm tập: Tạo ác nghiệp rồi sợ hãi, xấu hổ, tự trách mình, than trách và không còn tạo ác nữa.
Nghiệp nhóm tập mà không làm: Không tự mình tạo nghiệp ác, nhưng vì ác tâm mà khuyên người khác làm ác.
Nghiệp vừa tạo tác vừa nhóm tập: Tạo nghiệp rồi không hối cải, thỉnh thoảng lại tiếp tục tạo nghiệp, và còn khuyên người khác tạo ác.
Nghiệp không tạo tác cũng không nhóm tập: Tự mình không tạo ác, cũng không dạy người khác tạo ác, thuộc về nghiệp vô ký.
Nghiệp ban đầu vui, kết thúc khổ: Ví dụ, bố thí do người khác khuyên, tâm không kiên cố, sau hối tiếc. Sinh ra đời giàu có sung sướng ban đầu, nhưng sau đó bần cùng nghèo khổ.
Nghiệp ban đầu khổ, kết thúc vui: Ví dụ, miễn cưỡng bố thí chút ít, nhưng sau đó hoan hỷ, không hối tiếc. Sinh ra đời nghèo khổ ban đầu, nhưng về sau giàu có sung sướng.
Nghiệp ban đầu khổ, kết thúc khổ: Xa lìa thiện tri thức, không ai hướng dẫn, không thể bố thí dù chút ít. Sinh ra đời bần cùng ngay từ đầu và tiếp tục bần cùng.
Nghiệp ban đầu sướng, kết thúc sướng: Gần gũi thiện tri thức, được khuyến hóa bố thí, sanh tâm hoan hỷ, kiên cố tu tập. Sinh ra đời giàu có sung sướng ngay từ đầu và tiếp tục giàu có sung sướng.
Nghiệp nghèo mà ưa bố thí: Đã từng bố thí nhưng không gặp phước điền, lưu chuyển sinh tử, sinh ra đời ít ỏi, vừa được liền mất. Tuy nghèo khó nhưng vẫn giữ thói quen bố thí.
Nghiệp giàu có mà xan tham: Chưa từng bố thí, gặp thiện tri thức khuyên hóa, tạm thời bố thí, gặp được phước điền tốt lành, nên đời sống sung túc. Nhưng vì trước đó không có tập nhân bố thí nên vẫn keo kiết.
Nghiệp giàu có mà hay bố thí: Gặp thiện tri thức, tu hạnh bố thí thật nhiều, gặp phước điền tốt. Do đó được hết sức giàu có, nhiều tiền của, và vẫn thực hành bố thí.
Nghiệp nghèo mà xan tham: Xa lìa thiện tri thức, không ai khuyến hóa, không thể bố thí. Sinh ra đời bần cùng và vẫn giữ tâm xan tham.
Nghiệp thân an lạc, tâm không an lạc: Như người phàm phu có phước.
Nghiệp tâm an lạc, thân không an lạc: Như A La Hán có phước.
Nghiệp cả thân lẫn tâm đều an lạc: Như A La Hán có phước.
Nghiệp cả thân lẫn tâm đều không an lạc: Như kẻ phàm phu vô phước.
Nghiệp mạng đã tận mà nghiệp không tận: Lưu chuyển từ địa ngục sang các cõi khác và ngược lại, nghiệp vẫn tiếp tục chiêu cảm.
Nghiệp nghiệp đã tận mà mạng không tận: Hết khổ được vui, hết vui lại khổ, mạng vẫn tiếp tục trôi lăn trong luân hồi.
Nghiệp cả nghiệp lẫn mạng đều tận: Sau khi ra khỏi địa ngục có thể sinh vào các cõi khác, nghiệp và mạng đều chấm dứt ở đó để tiếp tục luân chuyển.
Nghiệp cả nghiệp lẫn mạng đều không tận: Đã đoạn trừ các phiền não, chứng quả Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán. Đây là trạng thái nghiệp và mạng đã vĩnh viễn chấm dứt.
Nghiệp sinh ác đạo nhưng hình dung tốt đẹp: Do dục phiền não khởi nghiệp phá giới, tuy sinh vào ác đạo nhưng dung mạo đoan nghiêm, da thịt sáng mịn, ai cũng yêu thích.
Nghiệp sinh ác đạo nhưng hình dung xấu xí: Do sân phiền não khởi nghiệp phá giới, sinh vào ác đạo với hình sắc xấu xí, da thịt thô ráp, không ai muốn nhìn.
Nghiệp sinh ác đạo, thân miệng hôi thối, ngũ quan khuyết tật: Do si phiền não khởi nghiệp phá giới, sinh vào ác đạo với thân miệng hôi thối, các căn khuyết tật.
Mười Nghiệp Bất Thiện Gây Ác Báo Bên Ngoài
- Nghiệp sát: Đại địa nhiễm mặn, cỏ thuốc không mọc.
- Nghiệp trộm cắp: Mưa đá, sâu bọ phá hoại mùa màng, dẫn đến đói khát.
- Nghiệp tà dâm: Gió mưa dữ dội, ô nhiễm môi trường.
- Nghiệp nói dối: Vật thực sinh ra bị hôi thối.
- Nghiệp nói hai lưỡi: Địa hình hiểm trở, gai góc, khó đi lại.
- Nghiệp ác khẩu: Cảm sinh vật chất thô ráp, khó gần.
- Nghiệp nói thêu dệt: Cây cối rậm rạp, gai nhọn.
- Nghiệp tham: Mầm lúa, hạt giống nhỏ bé, năng suất thấp.
- Nghiệp sân hận: Cây trái có vị đắng.
- Nghiệp tà kiến: Lúa mạ, thu hoạch ít ỏi.
Thực hiện mười nghiệp này sẽ chịu quả báo xấu về ngoại cảnh.
Mười Thiện Nghiệp Mang Lại Quả Báo Thù Thắng Bên Ngoài
Nếu chúng sinh tu mười thiện nghiệp một cách chân chính, sẽ nhận được mười quả báo thù thắng về ngoại cảnh.
Công Đức Từ Việc Lạy Tháp Miếu Phật (Mười Điểm)
- Được sắc đẹp, tiếng hay vang xa.
- Lời nói ai cũng tin phục.
- Không sợ hãi trước đám đông.
- Được trời, người ái hộ.
- Đầy đủ oai thế.
- Chúng sinh tìm đến nương nhờ.
- Thường được thân cận chư Phật, Bồ Tát.
- Có đầy đủ đại phước đức.
- Mạng chung được sanh lên cõi trời.
- Mau chứng quả Bồ Đề.
Công Đức Từ Việc Cúng Thí Bảo Cái (Mười Điểm)
- Sống đời như chiếc dù che chở chúng sinh.
- Thân tâm an ổn, xa lìa khổ não.
- Được mọi người kính trọng, không ai dám khinh mạn.
- Có uy thế lớn.
- Thường được thân cận chư Phật, Bồ Tát, lấy đó làm quyến thuộc.
- Thường được làm Chuyển Luân Thánh Vương.
- Luôn đi đầu trong việc tu tập thiện nghiệp.
- Có đầy đủ phước báo lớn.
- Mạng chung được sanh lên cõi trời.
- Mau chứng quả Niết Bàn.
Công Đức Từ Việc Cúng Thí Tràng Phan (Mười Điểm)
- Được kính trọng bởi vua chúa, đại thần, thân hữu.
- Giàu có tự tại, tài sản lớn.
- Danh tiếng lừng lẫy khắp nơi.
- Tướng mạo đoan nghiêm, thọ mạng dài lâu.
- Thường ở vị trí cao, kiên cố trong sự nghiệp.
- Có danh xưng lớn.
- Có uy đức lớn.
- Sinh vào nhà thượng tộc.
- Thân hoại mạng chung được sanh lên cõi trời.
- Mau chứng quả Bồ Đề.
Công Đức Từ Việc Cúng Thí Chuông Linh (Mười Điểm)
- Được tiếng nói âm vang như tiếng Phạm âm.
- Được danh tiếng lớn.
- Tự biết rõ các kiếp trước.
- Lời nói ai cũng kính nghe và vâng lời.
- Thường có vật quý báu để trang nghiêm bản thân.
- Có ngọc anh lạc đẹp làm đồ trang sức.
- Diện mạo đoan nghiêm, ai nhìn thấy cũng hoan hỷ.
- Có đủ đại phước báo.
- Mạng chung được sanh lên cõi trời.
- Mau chứng quả Niết Bàn.
Công Đức Từ Việc Cúng Thí Y Phục (Mười Điểm)
- Khuôn mặt, đôi mắt đoan nghiêm.
- Da thịt mềm mại, mịn màng.
- Không bị bụi bặm bám dính.
- Khi sinh ra đã có sẵn y phục tốt đẹp.
- Có chốn nghỉ ngơi tốt đẹp, y phục che thân.
- Có đủ y phục để giữ gìn sự đoan chính.
- Ai thấy cũng kính yêu.
- Có tài sản lớn.
- Mạng chung được sanh lên cõi trời.
- Mau chứng quả Niết Bàn.
Công Đức Từ Việc Cúng Thí Đồ Ăn Thức Uống (Mười Điểm)
- Được thọ mạng dài lâu.
- Được sắc đẹp.
- Được sức lực dồi dào.
- Có tài hùng biện, nói năng lưu loát, an ổn.
- Được vô sở úy (không sợ hãi).
- Không còn biếng nhác, mọi người kính ngưỡng.
- Được mọi người yêu thích.
- Có đủ phước báo lớn.
- Mạng chung được sanh lên cõi trời.
- Mau chứng quả Niết Bàn.
Công Đức Từ Việc Cúng Thí Giày Dép (Mười Điểm)
- Có đầy đủ phương tiện di chuyển tốt đẹp.
- Bước chân bình an trên mọi nẻo đường.
- Bàn chân mềm mại, êm ái.
- Đi xa khỏe mạnh, nhẹ nhàng.
- Thân không mệt mỏi.
- Dù đi đến đâu cũng không bị vật nhọn làm tổn thương chân.
- Được thần thông lực.
- Có đầy đủ người hầu kẻ hạ giúp đỡ.
- Mạng chung được sanh lên cõi trời.
- Mau chứng quả Niết Bàn.
Công Đức Từ Việc Cúng Thí Hương Hoa (Mười Điểm)
- Sống đời ý nghĩa, như đóa hoa tươi đẹp.
- Thân thể không có mùi hôi.
- Hương giới đức lan tỏa khắp nơi.
- Các căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) không bị hư hoại.
- Vượt lên trên thế gian, được mọi người quy ngưỡng.
- Thân thường tỏa hương thơm sạch sẽ.
- Yêu thích chánh pháp, thọ trì và đọc tụng.
- Đủ phước báo lớn.
- Mạng chung được sanh lên cõi trời.
- Mau chứng quả Niết Bàn.
Công Đức Từ Việc Cúng Thí Đèn Sáng (Mười Điểm)
- Chiếu sáng thế gian như ngọn đèn.
- Mắt thịt không bị tổn hại dù sinh ở đâu.
- Được thiên nhãn (mắt trời).
- Có trí tuệ phân biệt thiện ác.
- Trừ diệt lớn sự si ám.
- Được trí tuệ sáng suốt.
- Trong dòng luân hồi, không còn bị lạc lối trong bóng tối vô minh.
- Có đủ phước báo lớn.
- Mạng chung được sanh lên cõi trời.
- Mau chứng quả Niết Bàn.
Công Đức Từ Việc Cung Kính Chắp Tay (Mười Điểm)
- Được phước báo thù thắng.
- Sinh vào nhà dòng dõi cao quý.
- Có dung mạo đẹp đẽ thù thắng.
- Có giọng nói hay thù thắng.
- Có y phục đẹp đẽ thù thắng.
- Có tài hùng biện vi diệu thù thắng.
- Có đức tin vi diệu thù thắng.
- Có giới hạnh vi diệu thù thắng.
- Có sự hiểu biết rộng lớn vi diệu thù thắng.
- Có trí tuệ vi diệu thù thắng.
Sau khi Đức Phật thuyết giảng, trưởng giả Thủ Ca vô cùng tin tưởng vào lời dạy của Như Lai.
Trưởng giả Thủ Ca cúi đầu đảnh lễ Đức Phật và thỉnh cầu:
— Nay con kính thỉnh Đức Phật quang lâm thành Xá Vệ, đến nhà trưởng giả Đao Đề, cha của con. Nguyện cầu Ngài làm cho cha con và tất cả chúng sinh mãi mãi được an lạc.
Đức Phật vì lợi ích của chúng sinh nên im lặng nhận lời thỉnh cầu.
Nghe Đức Phật dạy xong, trưởng giả Thủ Ca vui mừng khôn xiết, đảnh lễ rồi lui ra.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
- DỮ LIỆU KINH PHẬT
Phân tích sâu hơn về các nguyên nhân và kết quả của nghiệp báo, từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về cách chuyển hóa và làm chủ cuộc đời. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về những bài học sâu sắc và ý nghĩa, hãy khám phá chuyên mục Đạo phật.