Cuộc đời của Tôn giả Rāhula, vị A-la-hán trẻ tuổi nhất, là một minh chứng cho con đường tu tập và giữ gìn giới hạnh. Bài viết sẽ khám phá sâu hơn về hành trình trau dồi trí tuệ và phẩm hạnh của Ngài, mang đến những bài học quý giá cho Tăng Ni trẻ ngày nay. Truy cập Website Chia sẻ Đạo Phật để tìm hiểu thêm.
Phật dạy La Hầu La cách thức buông xả
Sự bất tử trong quan niệm con người thường gắn liền với những cống hiến cao quý cho cuộc đời, được hậu thế ca tụng và lưu truyền. Đây là sự bất tử đích thực của một kiếp người. Trong Tăng đoàn Phật giáo, đã có những bậc mô phạm đạt được sự bất tử ấy, trong số đó có tôn giả Rāhula (La-hầu-la).
Tôn giả Rāhula, vị A-la-hán trẻ tuổi nhất trong Thập đại đệ tử, nổi bật với sự tự giác, giữ gìn giới hạnh và trầm tư. Cuộc đời Ngài là minh chứng sống động cho những bài học về phẩm hạnh cao quý, quá trình trau dồi giới đức và trí tuệ. Mật hạnh của Ngài không chỉ là hình mẫu lý tưởng cho Tăng đoàn thời Đức Phật tại thế mà còn là tấm gương soi sáng cho Tăng Ni trẻ trong thời đại công nghệ số và bất kỳ ai mong muốn hướng đến một đời sống phạm hạnh, thanh tịnh.

Tôn giả Rāhula sinh ra và lớn lên tại kinh đô Kapilavatthu của tộc Sākya thuộc vương quốc Kosala, trên vùng biên giới Nepal và Bắc Ấn; là cháu nội của của vua Suddhodana (Tịnh Phạn) dòng dõi Gotama và hoàng hậu Mahāmāyā (Ma Da). Tôn giả là đứa con trai duy nhất của thái tử Siddhattha (Tất-đạt-đa) và công chúa Yasodharā (Da-du-đà-la).
Mật hạnh của Tôn giả Rāhula
Theo kinh điển ghi nhận, bảy vị Phật trong quá khứ đều có con khi còn tại thế. Đức Phật Tỳ-bà-thi có con tên Phương Ưng, Phật Thi-khí có con tên Vô Lượng, Phật Tỳ-xá-bà có con tên Diệu Giác, Phật Câu-lưu-tôn có con tên Thượng Thắng, Phật Câu-na-hàm có con tên Đạo Sư, Phật Ca-diếp có con tên Tập Quân. Và Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có con trai là La-hầu-la.
Tôn giả Rāhula sinh ra và lớn lên tại kinh đô Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), thuộc vương quốc Kosala (Kiều-tát-la), nằm trên vùng biên giới giữa Nepal và miền Bắc Ấn Độ ngày nay. Ngài là cháu nội của vua Suddhodana (Tịnh Phạn) thuộc dòng dõi Gotama và hoàng hậu Mahāmāyā (Ma Da). Tôn giả là người con trai duy nhất của thái tử Siddhattha (Tất-đạt-đa) và công chúa Yasodharā (Da-du-đà-la).
Theo sử liệu Nam truyền Phật giáo, Rāhula xuất gia khi mới 7 tuổi. Từ một Sa-di nhỏ tuổi nhất, Ngài đã trải qua 13 năm thực hành lời Phật dạy và đến năm 20 tuổi mới cầu thọ Cụ túc giới. Ở độ tuổi còn rất trẻ, những phẩm hạnh đáng kính của Tôn giả Rāhula đã được Đức Phật tán thán: “Này các Tỷ-kheo, trong các vị đệ tử Tỳ-kheo của Ta ưa thích học tập, Rāhula là tối thắng”.
Điều này được thể hiện rõ qua thói quen của Sa-di Rāhula: Ngài thường dậy sớm, nhặt lên một nắm cát và tự nhủ: “Cầu mong cho tôi có được những lời giáo giới từ Đức Thế Tôn và thầy tế độ của tôi nhiều như những hạt cát trong tay tôi”. Đây là một trong những mật hạnh cao quý, thể hiện khát khao học hỏi không ngừng, xây dựng cho Ngài một đời sống xứng đáng với người cha vĩ đại và được hậu thế tôn kính.
Chuyện tiền thân Tipallatthamiga kể về một con nai cháu đã học được những đức tính tốt đẹp và khôn ngoan từ nai cậu (tiền thân của Đức Phật) và nai mẹ Upplavannā, giúp nó thoát khỏi sự truy sát của người thợ săn. Con nai cháu này chính là tiền thân của Tôn giả Rāhula. Đức Thế Tôn đã một lần nữa khẳng định: “Rāhula không phải nay mới ham học, thuở trước cũng đã ham học như vậy”.
Với những phẩm hạnh tốt đẹp và mối quan hệ huyết thống với Đức Thế Tôn, lẽ ra Rāhula có thể dựa dẫm, ỷ lại. Tuy nhiên, Ngài không hề như vậy. Trong ba bài kinh tiêu biểu Đức Phật giảng dạy cho Rāhula, có đến hai lần Đức Phật đích thân gặp gỡ và thăm hỏi, giảng dạy. Điều này cho thấy mật hạnh đáng ngưỡng mộ của Ngài, ngay cả khi còn rất nhỏ. Rāhula luôn giữ thái độ cung kính, không hề tỏ ra bất kính với Đức Phật hay các vị trưởng lão trong Tăng đoàn. Kinh tạng ghi lại câu trả lời của Rāhula với Đức Phật:
“Thường chung sống người hiền,
Con không có khinh miệt
Người cầm đuốc loài người
Thường được con tôn trọng”
Mật hạnh của Rāhula còn được Đức Thế Tôn ấn chứng trong pháp hội Long Hoa: “Hạnh kín của Rāhula chỉ Ta biết mà thôi”.

Kinh tạng còn ghi lại câu trả lời của Rāhula với Đức Phật: “Thường chung sống người hiền/ Con không có khinh miệt/ Người cầm đuốc loài người/ Thường được con tôn trọng”. (Ảnh: Tranh Ấn Độ)
Kinh Ambalathika Rahulovada (M.i,61) ghi lại sự kiện Đức Phật đến thăm Rāhula khi Ngài đang ở rừng Ambala. Tôn giả đã chuẩn bị chỗ ngồi và nước rửa chân để hầu cận Đức Thế Tôn. Sau khi rửa chân, Đức Phật để lại một ít nước trong chậu và ví dụ: “Sa môn hạnh của người nào biết nói láo, không có tàm quý”. Kế đó, Ngài đổ nước đi, lật úp chậu rồi lại lật ngửa chậu lên, ví dụ cho Sa-môn hạnh trống rỗng của những người nói láo, thiếu tàm quý.
Việc sử dụng hình ảnh chậu nước để giáo huấn là một phương pháp dạy dỗ khéo léo của Đức Thế Tôn, phù hợp với lứa tuổi của Rāhula. Tính chân thật là bài học đầu tiên Đức Phật muốn truyền dạy cho Rāhula khi Ngài mới bước vào sinh hoạt Tăng đoàn. Bởi lẽ, ngay cả trong thế gian, sự thật thà, ngay thẳng, không lừa dối là chuẩn mực đạo đức để hình thành nhân cách. Đối với người thực hành lời Phật dạy, tính chân thật càng phải là nền tảng căn bản, giúp đời sống phạm hạnh được thăng hoa.
Đức Phật tiếp tục dùng hình ảnh “Một con voi của vua, có ngà dài như cán cày, to lớn, khéo luyện, thường dùng hai chân trước, hai chân sau, phần thân trước, phần thân sau, đầu, tai, ngà, đuôi nhưng bảo vệ cái ngà… Cũng vậy, này Rāhula, đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm”. Xuất thân từ hoàng cung, hình ảnh con voi quen thuộc với Rāhula. Qua đó, Đức Thế Tôn răn dạy rằng ngay cả người thế gian cũng không được nói dối, huống chi người đã từ bỏ gia đình, việc đùa cợt bằng lời nói dối là điều không nên làm, không mang lại lợi ích cho con đường tu tập.
Cuối cùng, Đức Phật dạy Rāhula quán xét nội tâm, thấy việc nào đưa đến khổ đau thì hãy từ bỏ, vững niềm tin mà hành động. Ngài nhấn mạnh việc quán chiếu không chỉ trước, trong mà còn sau khi làm, thông qua hình ảnh cái gương: “Này Rāhula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp… hãy hành khẩu nghiệp… hãy hành ý nghiệp”. Chiếc gương ở đây không chỉ để soi mặt mà còn để soi chiếu tâm hồn, giúp điều chỉnh lời nói, hành vi cho phù hợp với đạo đức và lời Phật dạy, nhằm trừ diệt mọi ý niệm, lời nói, hành vi bất thiện, mang lại lợi ích cho bản thân và người khác. Tổn hại đến mình và người khác chính là nhân dẫn đến bất thiện pháp và khổ đau. Vì vậy, bài pháp này được xem là kim chỉ nam cho mọi Sa-môn, không riêng gì cho Tôn giả Rāhula.
Những lời giáo huấn này là nền tảng vô cùng quý báu, giúp Rāhula hoàn thiện bản thân, củng cố giới hạnh và không vi phạm các quy định của Tăng đoàn.
Trong “Đại kinh Giáo Giới Rāhula” (M.i,62), khi cùng Tôn giả Rāhula (lúc này 18 tuổi) đi khất thực tại Sāvatthi (Xá-vệ), Đức Thế Tôn dạy Ngài quán sát Năm uẩn, Bốn đại… “Phải quán sát như thật với chánh trí tuệ: cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta”. Tôn giả đã quyết tâm nỗ lực tu tập, thực hành các thiện pháp để tiến bộ trên con đường tâm linh.

Tranh Thangka Rāhula.
Năm 20 tuổi, sau 13 năm gia nhập Tăng đoàn và được truyền thọ Cụ túc giới, vào mùa an cư đầu tiên với vai trò Tỳ-kheo, Đức Thế Tôn nhận thấy Rāhula đã thuần thục các pháp, tâm linh đã chín muồi và cần được huấn luyện để đoạn tận lậu hoặc. Đức Phật đã đến Andhavana giáo giới cho Ngài. Đức Thế Tôn dạy rằng mắt là vô thường, do vô thường mà chịu sự biến hoại, nên không hợp lý khi quán chiếu cái này là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi. Tương tự, đối với năm căn và năm trần, tất cả đều vô thường, khổ và vô ngã. “Vị đa văn thánh đệ tử là người nhìn thấy như vậy sẽ sanh khởi sự yếm ly, ly tham, do ly tham vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát là sự hiểu biết: Ta đã được giải thoát. Và vị ấy biết: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Nhờ huân tập căn lành từ vô lượng kiếp và nỗ lực tu tập miên mật, không giải đãi, từ ngày gia nhập Tăng đoàn, qua những bài pháp của Đức Thế Tôn, Rāhula đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ. Rāhula đã thành tựu quả vị A-la-hán khi mới 20 tuổi, trở thành vị A-la-hán trẻ nhất trong Giáo hội.
Những bài kinh Đức Phật giáo giới cho Tôn giả Rāhula, dù không nhiều, nhưng tiêu biểu như Ambalathika Rahulovada Sutta (Kinh Giáo giới Rāhula ở rừng Ambala) (M,i,61); Maha Rahulovada Sutta (Đại Kinh Giáo giới Rāhula) (M,i,62); Cula Rahulovada Sutta (Tiểu Kinh Giáo giới Rāhula) (M,ii,147) cùng một số bài kinh trong Tương Ưng bộ nói về tiến trình quán chiếu các pháp. Nếu hệ thống theo tiến trình tu tập Tam vô lậu học, vào những năm đầu khi còn là Sa-di, Đức Phật đã dạy Rāhula về đạo đức của người xuất gia, con đường thành tựu Giới uẩn. Năm 18 tuổi, Ngài dạy về phương pháp thiền quán, con đường thành tựu Định uẩn. Cuối cùng, khi 20 tuổi, sau khi truyền thọ Cụ túc giới và quán chiếu các thiện pháp đã thành tựu, Đức Phật dạy Rāhula về con đường dẫn đến Tuệ uẩn và chứng đắc đạo quả.
Bên cạnh đó, mật hạnh kín đáo, dễ thương, vâng lời và vô cùng cung kính của Rāhula đối với các vị Tỳ-kheo còn được minh chứng qua Jātaka 16 (Chuyện tiền thân): Chuyện con nai có ba cử chỉ. “Thỉnh thoảng, các Tỳ kheo từ xa đến, vì mục đích thử thách, thường quăng bên ngoài cái các chổi hay một ít rác, chờ khi tôn giả đến và hỏi:– Hiền giả, ai quăng đồ rác này?”
Nếu không phải là người thật tu, thật học, có lẽ đã tìm cách minh oan cho bản thân, làm ngơ để tránh phiền phức, hoặc nói rằng không biết. Trái lại, “Tôn giả thường dọn rác ấy đi, im lặng, khiêm tốn xin lỗi và sau khi được tha lỗi mới đi”. Cách ứng xử này cho thấy hạnh nhẫn nhục, khiêm nhường đã được thành tựu sâu sắc trong tâm thức của Tôn giả.
Hơn thế nữa, khi Đức Phật quy định Tỳ-kheo nào nằm ngủ chung với người chưa thọ đại giới là phạm tội Pācittiya (Ưng đối trị). Các vị Tỳ-kheo đã nhắc nhở Rāhula tìm chỗ ở riêng vì trước đó Ngài ngủ chung với các vị khác. Rāhula, là người nhỏ nhất trong Tăng đoàn, không còn nơi để ngủ. Tuy nhiên: “Rāhula không đi đến Thế Tôn là phụ thân của mình, cũng không đi đến Sāriputta là vị tướng quân chánh pháp cũng là Giáo thọ sự của mình, cũng không đi đến Moggallāna là bậc Sư trưởng của mình, lại đi vào phòng vệ sinh của Thế Tôn, như thể đi vào cung điện Phạm thiên và trú ở đấy”.

Việc chọn nơi ở này của Rāhula không phải vì sự sang trọng hay tiện nghi, mà là do sự kính trọng lời dạy bảo của các bậc trưởng thượng và mong muốn học hỏi. Khi Đức Phật hỏi, Tôn giả khiêm tốn bạch rằng: “Vì không có chỗ, vì sợ phạm tội, không cho con chỗ ở; vì nghĩ rằng đây là chỗ không va chạm một ai, nên con nằm ở đây”.
Câu trả lời của Rāhula không thể hiện sự ỷ lại vào thân phận con trai của Đức Thế Tôn, không chống đối, trách móc hay sân giận với các Tỳ-kheo. Hành động này đã khiến Đức Phật xúc động sâu sắc. “Này Xá-lợi-phất, nếu các ông vứt bỏ La-hầu-la như vậy, thì đối với các lớp trẻ mới xuất gia, có gì các ông không làm được? Nếu sự việc là vậy, những ai xuất gia trong giáo pháp này sẽ không ở lại. Bắt đầu từ hôm nay, các ông được phép cho người chưa thọ đại giới ở chung một hay hai ngày. Đến ngày thứ ba, cho họ ở ngoài, sau khi biết chỗ ở của họ”.
Tất cả những điều trên đã minh chứng cho đức hạnh kín đáo, sự thành tựu các oai nghi tế hạnh cũng như quyết tâm tu tập đạt đến tâm giải thoát và tuệ giải thoát của vị thánh Rāhula.
Hiện trạng và tương lai của đời sống phạm hạnh
Trong kinh Tương Ưng bộ, Đức Phật dạy về nguyên nhân làm mất đi diệu pháp: “Ở đây, này Kassapa, các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống không tôn kính, không tùy thuận bậc Đạo sư… không tùy thuận Chánh pháp… không tùy thuận chúng Tăng… không tùy thuận học giới… không tùy thuận đối với thiền định. Này Kassapa, chính những thối pháp này đưa đến sự hỗn loạn, sự biến mất của diệu pháp”.
Do đó, những vấn đề được trình bày ở đây là những chuẩn mực mà Đức Phật đặt ra để duy trì sự sống động của đời sống Tăng đoàn. Mặc dù đạo Phật là đạo của từ bi, trí tuệ, vô ngã, vị tha, nhưng không phải ai cũng có thể xuất gia, tu tập và chứng đạo. Luật Ma Ha Tăng Kỳ đã đưa ra 32 điều kiện mà một người không được phạm phải, ví như lừa đảo, phạm ngũ nghịch, mù điếc, câm què… Nếu phạm dù chỉ một điều, người đó cũng không thể xuất gia. Điều này không phải là Đức Phật thiếu từ bi hay bất bình đẳng, mà vì Ngài không muốn giáo pháp bị hủy hoại bởi những người không đủ khả năng hoặc tư chất để hành trì những lời dạy thâm sâu vi diệu.
Thông qua những mật hạnh và phẩm chất của tôn giả Rāhula, người viết cho rằng đây là cơ hội để tất cả những ai tự xem mình là Sứ giả Như Lai, đặc biệt là Tăng Ni trẻ, cần quán xét lại sự thực hành phạm hạnh của bản thân. Hãy cố gắng phát huy những điểm tích cực, sửa đổi những mặt còn hạn chế, chưa tốt để chuyển hóa thân tâm trong chánh pháp. Sau đó, dùng chính “thân” giáo để hóa độ chúng sanh, như tấm gương của Tôn giả Rāhula đã từng làm. Đây là cách vừa an toàn, vừa hiệu quả cho những ai muốn báo đáp công ơn Đức Từ Phụ và tha thiết mong muốn đoạn dứt sinh tử luân hồi. Nói cách khác, mật hạnh của Tôn giả Rāhula là tấm gương sống, là mẫu người lý tưởng cho những ai mong muốn đạt được sự vẹn toàn giữa đạo và đời.
Chú thích:
[1] Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh Tập I, Kinh Trường A Hàm, Taiwan, 2000, tr.14-15.
[2] HT.Thích Minh Châu dịch, Tăng Chi Bộ Kinh tập I, Nxb Tôn giáo, 2018, tr.24.
[3] Tỳ kheo Minh Huệ dịch, Đại Phật Sử VI, Nxb Hồng Đức, 2019, tr.220.
[4] HT.Thích Minh Châu dịch, Tiểu Bộ Kinh tập III, Nxb Tôn giáo, 2018, tr.91.
[5] HT.Thích Minh Châu dịch, Tiểu Bộ Kinh tập I, Nxb Tôn giáo, 2018, tr.402.
[6] HT Thích Trí Tịnh dịch, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Nxb Tôn Giáo, 2011, tr.224.
[7] HT Thích Minh Châu dịch, Trung Bộ Kinh tập I, Nxb Tôn giáo, 2018, tr.507.
[8] Sđd, tr.508.
[9] Sđd, tr.508.
[10] HT Thích Minh Châu dịch, Trung Bộ Kinh tập I, Nxb Tôn giáo, 2018, tr.508.
[11] Sđd, tr.625.
[12] HT Thích Minh Châu dịch, Tiểu Bộ Kinh tập III, Nxb Tôn giáo, 2018, tr.88.
[13 Sđd, tr.89.
[14] Sđd, tr.89.
[15]Sđd, tr.89.
[16] HT. Thích Minh Châu dịch, Tương Ưng Bộ Kinh, Nxb Tôn giáo, 2018, tr.566-567.
[17] Thích Trung Hữu, Đừng Ham Hành Đạo Sớm. Bài đăng trên báo Giác Ngộ, số 1020, 11/10/2019, tr.33.
Bên cạnh những phẩm hạnh cao quý của Tôn giả Rāhula, mời bạn khám phá thêm những bài viết sâu sắc về Đạo phật để có cái nhìn toàn diện hơn.
