Trong cõi tu tập, khái niệm “nhập thất” mang nhiều hình thái khác nhau, từ việc cá nhân hướng nội đến các khóa tu cộng đồng, tất cả đều chung mục đích thanh lọc tâm thức và cắt đứt mọi kết nối trần thế. Khám phá hành trình tìm về sự tĩnh lặng tuyệt đối và khai mở những tầng giác ngộ sâu sắc hơn qua những phương pháp độc đáo tại chiasedaophat.com.
Trong giới tu tập, khái niệm “nhập thất” mang nhiều tầng nghĩa khác nhau tùy thuộc vào truyền thống. Trường Sinh Học – TSH, một nhánh của Thầy M., sử dụng thuật ngữ này cho các học viên chuẩn bị trở thành giảng huấn, nhằm khai mở luân xa. Khác với “thất” biệt lập của Nguyên Thủy Chơn Như, TSH tổ chức các buổi nhập thất chung cho vài chục đến vài trăm người. Điểm chung là trong thời gian nhập thất, học viên tuyệt thực hoàn toàn và cắt đứt mọi liên lạc bên ngoài, chỉ trao đổi thông tin cần thiết thông qua “bút đàm” để giữ sự im lặng tuyệt đối.
Trong truyền thống Nguyên Thủy, “thất” được phân chia rõ ràng hơn. Có những “thất” dành cho tu sinh thọ bát quan trai giới theo ngày, tuần, hoặc tháng. Những “thất” này tuy biệt lập nhưng vẫn có sự kết nối với lối đi kinh hành. Đối với những người “chuyên tu” chuẩn bị thành bậc A-la-hán, “thất” của họ càng xa cách, tĩnh mịch và trầm mặc hơn. Đây là nơi họ chuẩn bị cho Tứ Thánh Định, một trạng thái tu tập kéo dài 7 ngày không thọ dụng thực phẩm, đánh dấu sự hoàn tất lộ trình tu tập. “Chuyên tu” hay “Tứ Thánh Định” còn được gọi là “vào Tứ Niệm Xứ”.
Một điểm quan sát thú vị về “thất” trong Nguyên Thủy là nó khuyến khích lối sống “độc cư”, hạn chế tối đa việc giao tiếp, trò chuyện. Việc hạn chế nói và nghe dẫn đến việc dành nhiều thời gian hơn cho tư duy. Tư duy đúng nghĩa được xem là hoạt động cốt lõi, là phương tiện để đạt được “chánh tư duy”. Quá trình lắng nghe, suy xét, phản tỉnh và hành trì Tứ Chánh Cần (ngăn ác diệt ác, sinh thiện tăng trưởng thiện) là vô cùng quan trọng. Ngay cả đối với bậc thánh tăng, “chánh tư duy” vẫn là hoạt động thường xuyên, liên tục. Thiếu đi sự tư duy này, việc lầm chấp thiện ác là điều khó tránh khỏi, theo quy luật nhân quả. “Chánh tư duy” không phải là một công thức sẵn có, mà nó còn là “định vô lậu”, là nền tảng cho “chánh kiến”. Hai yếu tố này tương hỗ lẫn nhau: chánh kiến phát triển chánh tư duy và ngược lại. Từ đó, các yếu tố còn lại của Bát Chánh Đạo như chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định mới được hình thành và phát triển.

Việc cố gắng xây dựng Bát Chánh Đạo như một công thức hay khuôn thước để ứng xử, hành trì tu tập, ban rải tâm từ và chánh pháp, hay tiếp duyên thiện pháp là một sai lầm. Thực chất, Bát Chánh Đạo là 8 pháp trong 37 phẩm trợ đạo, là những tham chiếu, vận dụng trên con đường thiền định Tứ Thánh Định. Đây là con đường duy nhất đã dẫn dắt Đức Phật đạt đến Chánh Đẳng, Chánh Giác, Vô Lậu, Thanh Tịnh và Niết Bàn. Ba mươi bảy pháp tham chiếu này giống như những “ta-luy” trên con đường đèo dốc khúc khuỷu, hoặc như những đề mục hướng dẫn cho luận văn sau đại học.
Việc “rút bỏ Bát Chánh Đạo khỏi 37 phẩm” và tập trung vào “tám lớp học để chuẩn bị vào chuyên tu đào tạo A-la-hán” là một cải cách mạnh mẽ và táo bạo của Thầy Thông Lạc. Mặc dù cá nhân người viết không dám đưa ra ý kiến về chương trình “tháo dỡ, phá bỏ” này, nhưng Thầy Thông Lạc là người đã dẫn dắt người viết tìm về đúng hướng trên con đường chánh đạo, một điều vô cùng kính ngưỡng. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là sau 33 năm miệt mài, dường như vẫn chưa xuất hiện một vị A-la-hán nào từ chương trình này. Thêm vào đó, danh xưng “A-la-hán” và “bậc vô lậu” đang bị lạm dụng một cách tràn lan trên mạng xã hội, do sự “sáng tạo” của các hội nhóm trong một trào lưu thời thượng vô tội vạ, với những cái tên như “A-la-hán tại thế”, “Tu theo chánh Phật pháp”, “Bậc vô lậu”.
Một cách tình cờ, Việt Nam dường như đã trở thành mảnh đất màu mỡ để “gieo ươn” và tạo ra số lượng lớn các “A-la-hán” và “giáo sư, tiến sĩ” trên mạng. Những trích dẫn như “…trải qua dòng lịch sử phát triển của Tu viện Chơn Như có những pháp thoại về lộ trình đường lối tu tập. Những đầu sách cũng lần lượt ra đời theo thời gian như những cột mốc minh chứng cho trí tuệ Tam Minh – Trí tuệ siêu việt. Nhờ đó là duyên lành cảm hóa biết bao người có duyên với chánh pháp được tu tập mà không uổng phí kiếp người…” hay “…Thực ra quý tu sinh đã chứng đạo – chứng từng phần! Chắc chắn như vậy! Xưa thời của đức Trưởng lão – Ngài đã xác nhận cho nhiều người tu chứng giống các vị Tỳ kheo thời đức Phật như cô Liễu Kim, cô Huệ Ân, thầy Chơn Thành, v.v.. Những bức tâm thư còn đó do đức Trưởng lão trực tiếp xác chứng. Và còn rất nhiều người đã giải thoát không còn luân hồi, tái sanh làm sao M.H kể ra cho hết được…” cho thấy sự nhận định về “chứng đạo” đang bị đánh giá quá cao và dễ dãi.
Chúng ta dễ dàng nhận thấy những sai lầm nối tiếp nhau của hậu thế sau thời Trưởng lão, khi mà họ cứ lặng lẽ xô nhau vào ám thị xả tâm, ám thị trật tự tôn giáo và đức tin tôn giáo. Lời khuyên “Nói ít, dành thời gian để nghe. Nghe ít dành thời gian để tư duy” dường như bị lãng quên. Câu nói “…Đường về xứ Phật không khó! Không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức! Nhưng bằng cách nào? Tu sinh đã tu chứng đạo nhưng còn chưa thấy rõ mình tu chứng thì làm sao kéo dài trạng thái đó từ 1 phút đến 30 phút? Từ 1 giờ đến 6 giờ liền?…” cho thấy sự nhầm lẫn tai hại trong việc định nghĩa “chứng đạo”.
Việc “chứng đạo” bị đo đếm bằng giây, phút là một sai lầm nghiêm trọng. Điều này tương tự như sai lầm trong việc xác định các pháp tu tập. Câu dạy của Đức Phật: “Nhất tâm là định” lẽ ra phải được hiểu một cách khéo léo. Chính vì không “khéo hiểu” mà Trưởng lão đã xem thường, đánh rơi chìa khóa vàng này. Việc nặng nề công kích, đả phá đã khiến Trưởng lão đánh rơi thiện nghiệp, mất hẳn “từ tính” của thiện pháp, thiếu sự phản tỉnh cần thiết. Tứ Niệm Xứ và Tứ Chánh Cần là bộ đôi hỗ trợ cho tiến trình nhất tâm, điều thân và điều tâm, kéo gần lại đến sự trùng khớp. Thân định trên tâm, tâm định trên thân, xóa dần sự bất xứng mà hành trình ngũ dục lạc đã khiến thân và tâm chia đôi: Tâm hướng về danh, lợi; Thân hướng về thực, thúy. Chỉ có sắc (dục) là đạt được sự tương tác tích cực của cả hai, mang lại sự thăng hoa và khoái cảm tính dục.
Tham chiếu các khái niệm như Nhất Tâm, Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, bằng sự khổ luyện và gian nan hợp nhất thân-tâm, khi vượt qua được, người tu sẽ vào Sơ Thiền. Đây là trạng thái giải thoát khỏi những tham dục thô phù, tai ách, bệnh tật (bao gồm tất cả lậu hoặc, kể cả những “cơn đau thiền” là dấu hiệu của việc thoát khỏi bệnh khổ). Chỉ cần đạt được những căn bản này, người tu đã có thể giúp cho vô số Phật tử giải thoát. Trong thời Đức Phật, 320 Tỳ kheo đã hoàn thành giới luật. Tuy nhiên, hành trình cơ bản này dường như vẫn chưa đi đúng lộ trình.
Tóm tắt con đường tu tập của Đức Phật và con đường giúp chứng đạo là gì? Chắc chắn việc tìm kiếm một câu trả lời ngắn gọn, chuẩn xác và đúng đắn là vô cùng khó khăn. Nếu nắm vững con đường thiền định ngay từ đầu, toàn bộ lộ trình tu tập sẽ dựa vào đó mà triển khai. Cần hết sức chú ý để không còn ai nhầm lẫn, ngộ nhận hay vẽ vời làm sai lệch con đường mà Đức Phật đã đi: con đường thiền định.
Chính vì không hiểu rõ con đường thiền định, việc “cải cách giáo dục” đã không coi trọng thiền định. Nhiều phương pháp thiền định bị loại bỏ, chỉ tập trung vào việc “xả tâm cho sạch, xả cho hết”. Cuối cùng, khi giam mình vào “nhập định Tứ Thiền”, tất cả đều bị quật ngã bởi ngũ ấm ma. Trong các clip về “Hiểu rõ về 10 loại thiền định và 13 trí tuệ siêu việt”, có đề cập đến việc “định” nhiều như vậy nhưng lại “không được phép ngồi thiền”.
Các loại định được liệt kê bao gồm:
- Định niệm hơi thở
- Thánh định, phòng hộ 6 căn
- Thánh định chánh niệm tỉnh thức
- Chánh định thiểu dục tri túc
- Thánh định vô lậu
- Thánh định sơ thiền
- Thánh định nhị thiền
- Thánh định tam thiền
- Thánh định tứ thiền
- Thánh định Diệt thọ tưởng
“…Giới đức thanh tịnh tâm, giới bổn Pathimoka, hạnh giới ly trần tâm, 13 giới tuệ: Tam minh, lục thông, tứ như ý túc…” Đây được xem là trí tuệ viên mãn, trí tuệ siêu việt.
“Thánh định tứ thiền chỉ giữ được thân không hoại diệt trong 49 ngày còn định thứ 10 diệt thọ tưởng giữ được thân không hoại diệt trăm năm, ngàn năm không hư hoại…”
“Gồm chung 10 loại định này gọi là giới đức, giới tâm hay gọi là thiền định, còn gọi là trung thiện…”
“…Trị thân bệnh thì phải ăn ngày một bữa, không được ăn nhiều, và hơi thở được ổn định, điều hoà… Còn tâm mà không bệnh thì ít khi mà thân bị bệnh…Tâm bệnh thì lấy trí tuệ mà trị…”
Chỉ một câu này thôi, nếu biết dừng đúng chỗ, đúng lúc, đừng luận giải mơ hồ, sẽ giúp cho biết bao Phật tử nhận chân ranh giới giữa ly dục và thiểu dục. Việc chỉ rõ ranh giới này là cực kỳ quan trọng, khác với cách làm hiện tại, vốn đã tạo ra “ổ kiến rối”.
Đối với những nhân vật như Cô Liễu Kim, Cô Huệ Ân, Thầy Chơn Thành (những người được cho là “chứng đạo”), nếu còn chút trách nhiệm với đàn na tín thí, xin Thầy M.H. vui lòng cùng đàm đạo để giúp mọi người ngộ ra con đường tu tập. Cần làm rõ những người này đã “chứng ở bậc nào”: Giới (sơ thiền), Định (nhị, tam thiền), hay Tuệ (Tứ thiền), và tại sao lại tính thời gian tu chứng từ 1 phút đến 30 phút, hay từ 1 giờ đến 6 giờ liền?
Trong Đức Phật tu pháp môn nào trong 49 ngày chứng đạo?
“… Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta phải hiểu nghĩa “tầm tứ”. Tầm là sự suy tư nghĩ ngợi của mình; nó thuộc về ý thức. (Lẽ ra phải là tư duy). Tứ là ý tứ từ việc nhỏ cho đến việc lớn; nó thuộc về ý thức. (Lẽ ra là chủ định, là tác ý). Như vậy, diệt tầm tứ là diệt ý thức của mình, không cho nó hoạt động. Khi nhập Nhị Thiền thì ý thức phải ngưng hoạt động hoàn toàn, giống như một người đang ngủ say. Nếu bảo diệt ý thức khi còn tỉnh táo, không buồn ngủ thì quý vị có làm được không? Do đó, muốn làm được việc này, quý vị phải tu đúng pháp Tứ Niệm Xứ thì mới có những thần lực diệt tầm tứ…”
Như đã đề cập, Tứ Niệm Xứ từng bị “cất giữ”. Giờ đây, con đường nhất tâm mất phương hướng mới được đưa vào sử dụng, tập trung thần lực diệt tầm tứ. Toàn bộ “các lệnh” được truyền dụ và thực hiện bởi: Tứ thần túc, Thất giác chi, tam minh, lục thông… Đây chính là mưu lược, quyết đoán, dự liệu cho một tiến trình nhân quả.
“…Thiền Thứ Tư cũng là pháp môn thân hành niệm cuối cùng trong 13 pháp thân hành niệm, nhưng quý vị nên nhớ, bốn pháp thiền của Phật giáo không phải là pháp môn thân hành niệm để tu tập, mà để thực hiện những năng lực siêu việt khi tâm đã thanh tịnh, tức là tâm chứng đạt chân lý vô lậu. Bởi vậy, muốn nhập thiền định của Phật giáo thì không phải tu tập thiền định, mà tu tập giới luật. Khi tu tập giới luật tâm đã thanh tịnh thì nhập thiền định không có khó khăn, không có mệt nhọc, chỉ cần dùng pháp như lý tác ý là nhập thiền định ngay liền. Cho nên muốn nhập (163) Tứ Thiền thì nên tác ý: “Tịnh chỉ hơi thở nhập Tứ Thiền”. Chỉ tác ý như vậy là đủ nhập vào Tứ Thiền…”
“…Cho nên sự chứng đạo của Phật giáo không ngoài tâm của chúng ta, chỉ khi nó bất động, thanh thản, an lạc và vô sự thì chứng đạo ngay liền tại đó …”.
Không thể có một tâm bất động khi sự bất xứng thân-tâm, trạng thái hợp nhất thân-tâm… còn chưa bắt đầu bằng giới. Cái tâm bất động bị nhầm lẫn với “ngồi im”, “không nhúc nhích”, “cục cựa” thì không còn gì đáng buồn hơn.
Cho phép tôi trình bày tóm tắt, thật ngắn gọn con đường mà Đức Phật đã đi. Có hai lộ trình:
1. Học thiền vô sắc với 2 vị thầy Alara Kalama và Uddaka Ramaputa (Đại kinh Saccaca (36) và Kinh Thánh cầu (26)).
2. Rời xa cả hai để tự mình tìm kiếm con đường vô thượng tối thắng, an tịnh đạo lộ và rồi đó là con đường Tứ Thánh Định.
Tóm tắt về sự trái ngược nhau của 2 loại thiền này là:
1. Vô sắc: (Giống như hàng loạt thiền định khác cùng thời và cho đến bây giờ nói chung) đó là loại thiền thoát ly. Nghĩa là tìm hướng đi để giải thoát tâm khỏi những vướng bận với cái thân trần tục, uế nhiễm, nhớp nhúa đáng sợ với đủ dạng: Thiền định tâm linh, Thiền tập trung, Thiền chuyển động, Thiền thần chú, Thiền siêu việt, Thư giãn tiến bộ, Thiền tâm từ, Thiền quán tưởng, Thiền chi, Thiền quán… Ngay cả 10 loại thiền định và 13 trí tuệ siêu việt, cá nhân người viết cho rằng cũng không tránh khỏi lối thoát ly thân và tâm.
2. Hữu sắc: Chính Đức Phật đã tìm ra con đường hợp nhất vì không ai có thể thoát khỏi sự “giả hợp”, sự chi phối tương tác của thân tâm. Rời xa ra là đồng nghĩa với cái chết (Ngũ uẩn giai không, mất một uẩn thôi là mất trắng, mất tất cả. Vì vậy vô sắc không thể rời hữu sắc). Thử thách để có được trải nghiệm đó, Đức Phật đã “chết” với sự hốt hoảng của tất cả sa môn khác. Đúc kết cho thử thách đó là: Mỗi một con người là một thân cây, muốn nhen lửa lên thì thân cây ấy phải được quán chiếu:
- Thân tươi đầy nhựa đặt trong nước;
- Thân khô nhựa đặt trong nước;
- Thân khô được vớt khỏi nước, đặt lên đất khô.
Chẳng phải đến 10 loại định và 13 trí tuệ siêu việt rối rắm, chết chìm trong ám thị mà cuối cùng chẳng biết lối nào mà lần.
Hành trình tìm về bình an nội tại qua thiền định là một con đường sâu sắc, đòi hỏi sự tinh tấn và hiểu biết đúng đắn. Để tiếp tục khám phá những khía cạnh sâu xa hơn về đạo lý và con đường tu tập, mời bạn tìm hiểu thêm trong chuyên mục Đạo phật.
