Câu chuyện đầy ám ảnh về hành trình vượt qua cửa tử của một vị Ni sư tại TP. Hồ Chí Minh đã khơi dậy những bí ẩn về thế giới bên kia mà ít người dám đối mặt. Từ thuở ấu thơ với khả năng nhìn thấy những cõi giới khác, bà đã trải qua vô vàn biến cố cuộc đời, dẫn lối đến con đường tu tập đầy gian nan, mang đến những bài học sâu sắc về sự giải thoát, được chia sẻ trên Chia sẻ Đạo Phật.
Vào năm 2002 tại TP. Hồ Chí Minh, một câu chuyện kỳ lạ và rùng rợn đã xảy ra, khiến nhiều người không khỏi kinh sợ. Đó không phải là một câu chuyện ma, mà là trải nghiệm “du hành” vào cõi âm phủ của một vị Ni sư pháp danh Diệu Hân (tên khai sinh là Nguyễn Thị Quân).
Ni sư Diệu Hân hiện đang tu tập tại am Bát Nhã, tọa lạc tại địa chỉ 365b/1, đại lộ Nguyễn Văn Linh nối dài, xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh. Ngay từ thuở nhỏ, bà đã có khả năng đặc biệt là “mở mắt âm dương”, nhìn thấy được nhiều loại chúng sinh thuộc cõi giới khác, từ những vong linh vất vưởng đến những loài quỷ có hình thù đáng sợ. Đặc biệt hơn, bà còn có cơ duyên diện kiến chư vị Bồ Tát trong cõi siêu hình, qua đó học được nhiều đạo lý quý báu, trở thành hành trang quan trọng trên con đường tu hành sau này.
Cuộc đời bà trải qua nhiều biến cố. Sau khi lập gia đình và sinh con, cuộc sống vẫn đầy rẫy những nỗi đau thương. Sau nhiều năm nếm trải những cay đắng của cuộc đời, bà đã quy y cửa Phật để tìm kiếm sự giải thoát khỏi những khổ lụy trần thế.
Tuy nhiên, con đường tu tập cũng không hề bằng phẳng, bà phải đối mặt với nhiều thử thách và sự dè bỉu. Sau đó, bà rời khỏi đại chúng, về nhà tự cất một am nhỏ để tu hành. Chính trong khoảng thời gian này, câu chuyện kỳ lạ và rùng rợn về cuộc đời bà đã diễn ra.
Vào lúc 2 giờ sáng ngày 1 tháng 11 năm 2002, tại am nhỏ của mình, khi đang nằm trên võng, Ni sư Diệu Hân bỗng thấy linh ảnh Đức Phật hiện ra với hào quang rực rỡ. Đức Phật chỉ tay về phía bà rồi dần tan biến. Bà mừng rỡ bật dậy thắp nhang cúng Phật, thì phát hiện đôi mắt mình có vấn đề, không thể mở to như bình thường, chỉ hé mở được một chút. Sang ngày hôm sau, tình trạng không khá hơn, bà đành tìm đến một tiệm thuốc tây gần đó. Dược sĩ kiểm tra và cho biết mắt bà không có bệnh lý. Bà nài nỉ xin mua thuốc ngủ với hy vọng có thể ngủ một giấc thật dài để mắt mau chóng hồi phục. Cuối cùng, bà mua được hai viên thuốc ngủ.

Ảnh minh họa.
Về nhà, bà dặn mọi người không làm phiền để bà có thể nghỉ ngơi. Bà uống thuốc và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ vào khoảng 10 giờ sáng.
Trong giấc mơ, bà thấy mình lạc vào một khung cảnh tươi đẹp với cây cối xanh tươi. Bà bước lên một chiếc cầu dài, nhưng đi được một lúc thì cầu đổ sập, bà rơi xuống một dòng sông.
Dòng sông trông thật đẹp, bà cố gắng bơi vào bờ nhưng không thể. Dù bờ sông ở ngay trước mắt, bà bơi mãi vẫn không tới. Cảm giác chới với, hốt hoảng và sợ hãi bao trùm lấy bà.
Dần dần, dòng nước cuốn bà ra cửa biển, nước trở nên lạnh buốt thấu tim gan. Bà nhìn quanh và thấy mình không đơn độc mà có vô số người khác cũng trôi dạt theo dòng nước lạnh giá này. Có đủ mọi người, từ người Tây, người Ta, Âu, Á, già, trẻ, nam, nữ…
Cơ thể bà lạnh cứng. Trong cơn hoảng loạn, bà nghe thấy một giọng nói từ trên cao nhắc nhở hãy niệm Phật. Bà cố gắng hết sức, ban đầu chỉ phát âm được chữ “…Phật! …Phật”, sau đó niệm được “A Di Đà Phật!”, và cuối cùng là câu đầy đủ “Nam Mô A Di Đà Phật!”. Nhờ đó, bà cảm thấy dễ chịu hơn rất nhiều. Bà quay sang nắm lấy hai người bên cạnh và niệm Phật giúp họ. Một lúc sau, họ hết lạnh. Một người nói: “Cô ơi, con chết đã mười mấy ngày rồi”, người còn lại cũng cho biết đã chết hai mươi mấy ngày. Bà nhận ra đây chính là biển ngâm xác người chết trong vòng 49 ngày.
Nghe đến đây, Ni sư Diệu Hân kinh hoàng tột độ, ngỡ rằng mình đã chết và vô cùng đau khổ. Tuy nhiên, sau này bà mới biết mình xuống đây để chứng kiến cảnh địa ngục và trở về trần gian tường thuật lại cho mọi người, chứ không phải đã chết.
Dòng nước tiếp tục đưa bà đến một cửa biển khác, nơi có vô số người chìm nổi, dày đặc. Nơi đó hiện ra một tòa thành đồ sộ, phía sau là núi cao vời vợi, che khuất cả bầu trời (trong kinh gọi là núi Thiết Vi).
Bà dạt vào bờ, bước lên tòa thành và kinh hoàng nhận thấy các vị đầu trâu mặt ngựa, các vị quỷ vương với đủ hình thù kinh dị, dữ tợn. Mỗi vị đều to lớn khủng khiếp, số lượng đông đảo không thể đếm xuể.
Một vị quỷ vương dẫn bà đến một cánh cửa. Cánh cửa tự động mở ra, ánh hào quang bừng sáng, và bà nhìn thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, và Chuẩn Đề Bồ Tát uy nghi ngự trên đài. Bà lập tức cúi đầu quỳ lạy ba vị.
Sau đó, bà được ba vị Bồ Tát hướng dẫn phát lồ sám hối các ác nghiệp. Sám hối xong, hai vị quỷ vương dẫn bà vào các địa ngục, bắt đầu một hành trình khủng khiếp. Bà được biết, mỗi bước chân của hai vị quỷ vương tương đương với hai ngàn dặm, cho thấy địa ngục thực sự vô cùng rộng lớn, không thể đi hết nếu không có thần thông.
Cánh cửa địa ngục đầu tiên mở ra, trên đó có ghi chữ Hán mà bà không hiểu. Hỏi ra mới biết đó là ngục Bất Hiếu. Trước mắt bà là những chông sắt ghê rợn trên một bàn khổng lồ, tròn, với vô số người bị hành hình trên đó.
Các quỷ vương đẩy những tội hồn đang lơ lửng trên không trung xuống, rồi bị những tảng đá từ trên cao đè xuống, cắm phập vào những chông sắt to bằng ngón tay, máu tuôn xối xả. Hình phạt này, cũng như mọi hình phạt khác, cứ lặp đi lặp lại không ngừng.
Ở một khu vực khác, có những bàn băng lạnh lẽo, tội hồn nằm, ngồi ngổn ngang, lạnh thấu xương tủy. Hai vị quỷ vương giải thích, đó là quả báo cho việc bỏ mặc cha mẹ chịu đói, chịu lạnh. Chung cho toàn ngục này là do 12 loại tội bất hiếu khi còn sống, như hỗn xược với cha mẹ, phá hoại tài sản của cha mẹ, đánh đập, giết hại cha mẹ, bỏ mặc cha mẹ đói rét…
Địa ngục có thật không?

Ảnh minh họa.
Tiếp theo, Ni sư Diệu Hân được dẫn vào địa ngục thứ hai, tên là Vô Gián. Ngục này dành cho những người phạm 80 tội danh khác nhau, như mua gian bán lận, cướp đoạt hại người, cho vay nặng lãi, bóc lột người làm công, anh em tranh giành tài sản…
Các hình phạt ở đây vô cùng đa dạng, như đổ nước đồng sôi vào miệng, móc lưỡi kéo ra chặt, chặt tay, chân, cho rắn, bọ cạp cắn xé, bị quỷ địa ngục đâm lòi ruột kéo ra… Tội hồn gào thét thảm thiết. Nếu có máy quay ghi lại, không bộ phim kinh dị nào có thể sánh bằng, chắc chắn ai xem cũng thà chết chứ không dám phạm tội.
Tiếp đến, bà được dẫn vào ngục Đại Thập Ác, nơi có nhiều hình cụ như cối xay, đinh đâm, cột đồng rực lửa… Có một vạc dầu khổng lồ, tựa như một cái hồ lớn, bên trong là vô số người chìm nổi, gào thét. Tội hồn đọa vào đây vì các tội: giết vợ, giết chồng, giết con, phá thai, gian dâm, loạn luân, hành nghề mại dâm, khinh chê, phỉ báng người khác…
Bà đặc biệt ấn tượng với hình phạt Kim châm, dành cho những người có tội châm chích, kích bác, khinh chê, lườm nguýt người khác, ăn xén, ăn bớt… Tội hồn bị hàng ngàn cây kim sáng loáng, dài khoảng một gang tay, phóng từ hư không vào người, xuyên qua từng thớ thịt, không ngừng nghỉ, thật đáng sợ.
Tiếp đến là Địa ngục Hỏa Thiêu, nơi đâu đâu cũng rực lửa, dành cho những người làm thầy giáo, cô giáo, học trò phạm tội, như thầy dạy giấu nghề, dạy sai giáo án, thiếu lương tri, hại trò, trò đánh thầy, giết thầy…
Nữa là ngục Thập Nhị Tội Ác, dành cho 12 đại tội gây nguy hiểm cho xã hội, bao gồm:
1. Chạy xe cố ý đâm chết người.
2. Cai ngục thả tử tù.
3. Làm tiền giả.
4. Xây nhà không đúng chất lượng.
5. Xây cầu đường cẩu thả, không đúng chất lượng.
6. Buôn bán chất nổ.
7. Buôn bán ma túy, chất gây nghiện.
8. Đầu cơ, phá hoại nền kinh tế.
9. Quan tòa bao che tội phạm.
10. Bức hại, tàn sát nhân dân.
11. Thông đồng ngoại bang hại nước.
12. Mượn danh quốc gia ép, hại nhân dân.
Những tội hồn vào đây rất khó thoát ra để siêu sinh cõi khác. Trong ngục có một biển nước lạnh giá, dưới nước là các quái vật hung dữ, bên trên là đủ thứ hình cụ rùng rợn.
Ni sư Diệu Hân kinh hoàng nhận ra người dì họ của mình đang ở trong đó, giữa biển người trùng trùng. Bà bị các đầu trâu mặt ngựa kéo thân xác, chặt chém liên tục, máu thịt vương vãi đầm đìa. Nếu cố vùng vẫy bỏ chạy, bà sẽ bị các hình cụ, móc sắt bên trên ập tới, đâm nát thân. Bà cố gọi người dì, nhưng tội hồn ở đây dường như không thể nghe thấy.
Khi còn sống, người dì này hành nghề buôn bán ma túy từ Campuchia về, cuộc sống giàu sang, tiền bạc, nhà cửa, xe cộ đầy đủ, con cái ăn xài phung phí. Sau năm 1975, báo ứng hiện tiền, gia sản tiêu tán, con cái bất hiếu, lưu lạc mỗi người một nơi. Ngày bà qua đời, không có tiền mua quan tài. Nhưng người đời chỉ thấy được chút báo ứng đó, chứ đâu biết hậu quả còn thê thảm gấp triệu tỷ lần ở dưới địa ngục này.
Những nghiệp nào phải đọa địa ngục A Tỳ?

Ảnh minh họa.
Bà cũng ngạc nhiên nhận ra một người quen khác, ông hàng xóm cũ trên đường Nhật Tảo, TP. Hồ Chí Minh. Ông là chủ một hãng in lớn. Khi còn sống, bà thường chơi thân với con gái thứ hai của ông. Ông vào địa ngục này vì tội in tiền giả. Khi còn sống, ông đã bị bắt và tuyên án tử hình. Sau khi chết, ông đã ở địa ngục này hơn hai mươi năm, bị các tảng đá đập nát thân thể, máu me be bét, vô cùng khốn khổ, kéo dài đến muôn kiếp.
Bà muốn ở lại thêm, nhưng các vị quỷ vương đã nhanh chóng đẩy bà đi đến các ngục khác.
Ngục tiếp theo là Hỏa Ốc (Nhà lửa), dành cho các bậc trí thức thiếu lương tâm, như nhà văn viết truyện lệch lạc, y bác sĩ tha hóa, điều chế, buôn bán thuốc giả, in ấn kinh sách sai lệch… Tội hồn bị quỷ đóng đinh vào đầu, óc máu tung tóe, chết rồi lại hoàn lại thân xác, tiếp tục chịu hình phạt. Hoặc bị cột đá rơi từ trên cao xuống giã nát thân thể, hoặc bị quỷ dữ móc ruột, móc họng rồi ăn nuốt một cách rùng rợn, cứ thế nối tiếp không biết đến khi nào.
Tiếp đến, hai vị quỷ vương đưa bà đến ngục Hỏa Ưng, thuộc Đại địa ngục A Tỳ. Ngục này dành cho những cư sĩ, những người hủy báng Tam Bảo, lạm dụng, trộm cướp tài sản Tam Bảo, lấn quyền điều hành trong chùa, khinh chê, bức hại bậc chân tu, Tăng Ni, Phật tử; đánh đập, chửi rủa Bồ Tát hiện tiền, phá hủy tượng Phật, chùa chiền, hành dâm trong chùa, lợi dụng Tam Bảo để buôn bán cắt cổ… Các hình phạt bao gồm ăn giòi, sói lửa cắn xé, quả cầu lửa thiêu đốt, chim ưng mổ mắt…
Đặc biệt, có những con chim đại bàng khổng lồ, với móng vuốt to gấp mấy lần bàn tay người, bay xà xuống chụp đầu các tội hồn, móc mắt, xé xác. Rồi có những con quỷ to lớn, lông lá xồm xoàm, mắt to như quả cam, hung tợn xé xác tội hồn ăn thịt.
Hai vị quỷ vương chỉ cho bà xem một tội hồn. Khi còn sống, bà tên Diệu Tích, là Phật tử một chùa lớn ở Sài Gòn. Năm 1972, bà nắm quyền trong chùa, thường chửi mắng Hòa thượng, đánh đập tăng ni, gây sự với các Phật tử công quả khiến ai cũng khiếp sợ. Vào ngục A Tỳ này, bà bị chó xé xác, bị giòi đục khoét, bị lửa cháy thiêu đốt liên tục, gào thét đau đớn.
Ngục kế tiếp bà được dẫn tới tên là Đại A Tỳ. Đúng như tên gọi, ngục này lớn hơn nhiều các ngục khác, mang vẻ âm u, rùng rợn khó tả. Ngục này dành cho những tu sĩ của các tôn giáo khác nhau, như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, cùng nhiều tôn giáo nhỏ, giáo phái tự xưng, tà đạo, yêu mị của dân tộc thiểu số… do núp bóng tôn giáo mà làm chuyện bậy bạ. Gồm hàng trăm thứ tội khác nhau, như đánh mắng bậc chân tu, lạm dụng tài vật Tam Bảo, phá giới, tu không giới hạnh, đưa người nhà vào nắm quyền trong chùa, giả danh người xuất gia chuộc lợi, xây chùa giả chuộc lợi, giảng sai chánh pháp, mê hoặc người đời vào tà đạo…
Bà được các vị quỷ vương chỉ cho xem một ông sư đã lên chức Thượng tọa, khoảng hơn bảy mươi tuổi, mặc áo vàng, đang ngồi trên bàn chông, bị chó cắn xé tay chân, trên đầu thì quạ mổ mắt, máu me đầm đìa, ghê sợ.
Ông này đi tu từ nhỏ. Lớn lên được giao làm trụ trì một chùa ở Sài Gòn. Ông thông minh, có học thức về Phật pháp, thông thạo kinh sách, được tín chúng kính ngưỡng, cúng dường nhiều, sinh tâm kiêu mạn. Ông khinh thường các bậc tu hành khác, thường lấy tiền cúng dường để tư lợi riêng, khiến đại chúng trong chùa thiếu hụt. Sau này ông còn lấy tiền đó mua nhà cho họ hàng đứng tên. Vì tội này, ông bị giảm 15 năm tuổi thọ, bị Hành Bệnh quỷ vương dày vò bằng bệnh tật, liệt giường liệt chiếu cho đến khi chết. Chết rồi bị đưa vào đây chịu muôn vàn thống khổ.
Các vị quỷ vương còn chỉ thêm hai chú cháu cùng nối tiếp nhau làm trụ trì một chùa khu Chợ Lớn, thường lấy tiền chùa tiêu xài việc tư, đưa cha mẹ vào chùa bắt tăng ni phục vụ, và nhiều tội khác. Bây giờ, họ có hình thù kỳ dị, cổ nhỏ bụng to, mang gông xiềng xích, bị quỷ sứ đổ nước đồng sôi lên người, đau đớn khôn xiết.
Chuẩn bị rời khỏi ngục này, đột nhiên năm vị quỷ vương hiện đến chặn Ni sư Diệu Hân lại. Họ tuyên bố chính bà sẽ phải chịu hình phạt trong ngục này, vì những tội đã gây ra trước kia. Nghe đến đây, bà giật mình kinh sợ. Các tội danh của bà bao gồm: chê sư phụ không có đạo hạnh, phá thai, ăn trộm gà về giết thịt, làm chứng cho người khác gian dâm, khiến vợ chồng bỏ nhau, chê bai đại chúng xuất gia, không chịu về chùa nhập chúng tu hành.
Bà hết sức bất ngờ, không thể lường trước mình cũng sẽ phải chịu hình phạt nơi đây. Rất nhanh chóng, các vị quỷ vương đưa bà đến một chảo dầu. Chảo rất to lớn, chứa được muôn vạn người, dầu sôi sùng sục, độ nóng khủng khiếp.
Các vị quỷ vương ném bà vào chảo dầu. Vì đã chuẩn bị trước, bà lập tức niệm Phật liên tục. Thật vi diệu, dù xung quanh là dầu sôi sùng sục, bà không thấy đau đớn gì. Tưởng đã thoát nạn, nhưng không.
Một vị quỷ vương lôi bà ra, ấn tay vào cổ Ni sư Diệu Hân, đọc thần chú khóa khẩu, không cho bà niệm Phật được nữa. Có lẽ họ muốn bà nếm mùi đau đớn của cực hình, sau này mới nghiêm trì giới hạnh. Đọc chú xong, họ ném bà lại vào chảo dầu sôi với độ nóng ghê hồn.
Lần này, bà không thể niệm Phật được nữa, phải hứng chịu nỗi đau đớn tột độ, nhức buốt đến tận xương tủy. Cái nóng khiếp đảm của chảo dầu sôi sùng sục, như kim châm vào từng thớ thịt, như xé tan thân xác, lời lẽ khó tả xiết. Cứ thế suốt hai canh giờ (tức 4 tiếng đồng hồ), bà chìm nổi, giãy giụa trong chảo dầu kinh hồn ấy.
Xong xuôi, bà được đưa ra. Một vị tên Ác Độc quỷ vương với bàn tay to lớn, xương xẩu, ghê rợn bắt đầu thực thi hình phạt tiếp theo. Vị đó tát vào mặt bà từng nhát, tát đến đâu, máu thịt tuôn ra đến đó. Cứ thế kéo dài một canh giờ (tức 2 tiếng đồng hồ).
Tiếp đến, các vị quỷ vương đem ra một rổ đầu gà rất lớn, banh miệng Ni sư Diệu Hân ra, nhồi từng cái đầu gà vào họng. Cảm giác đau đớn như rách toạc cổ họng. Bà trợn mắt hứng chịu cực hình ấy cho đến khi nuốt trọn hết thúng đầu gà. Rồi lại bị quỷ vương vỗ đầu cho ói ra hết, xương gà, mỏ gà móc vào họng. Lúc nhét vào thì đỡ đau hơn, nhưng khi ói ra thì đau đớn tăng gấp trăm lần, bà cảm thấy thống khổ ghê gớm, nước mắt đầm đìa. Hình phạt này kéo dài khoảng một canh giờ (tức 2 tiếng đồng hồ), do trước kia bà hay mua đầu gà về cho con ăn.
Chịu xong các hình phạt đó, bà lại được dẫn đi đến các ngục khác. Có một ngục tên là “Sơn hà xã tắc”, có lẽ dành cho các quan chức, lãnh đạo đất nước phạm tội. Nhưng bà không được vào xem mà đi qua các ngục khác.
Có một ngục tên là ngục Ăn Giòi, dành cho người đổ bỏ thức ăn, khinh chê người phục vụ, ngang ngược, hống hách… Tội hồn bị triệu triệu con giòi rúc rỉa, hoặc có người phải bốc những con giòi đó cho vào miệng ăn, nhìn nổi hết da gà.
Có một ngục tên là Tham Lợi, dành cho những người bóc lột sức lao động của cấp dưới, tham lam, ăn bớt tiền công… Họ vào đây bị bắt ăn toàn sỏi đá, hoặc tệ hơn, bắt ăn sắt nóng đỏ, đau đớn gào khóc.
Lại một ngục khác tên là Sát Sinh, tội hồn ở đây, khi còn sống giết con vật bằng cách nào, thì bị quỷ hành hình bằng đúng cách đó. Ví như lấy búa đập đầu trâu, thì bị quỷ đập nát đầu bằng búa. Hay khi xưa dùng dao cắt cổ gà, thì giờ cũng bị quỷ dùng dao cắt cổ lại. Cứ thế nên trong ngục này hình cụ đủ muôn nghìn loại khác nhau.
Rồi có một ngục hành hình bằng cột đồng cháy rực, cùng chảo dầu sôi, dành cho những kẻ tà dâm, ngoại tình, mua bán dâm, buôn bán phụ nữ làm gái lầu xanh, truyền bá dâm dục…
Lại có ngục tội hồn bị quỷ xé miệng, cắt lưỡi, chọc sắt nóng vào mồm… vì tội khinh chê dè bỉu, ăn không nói có, thị phi nhiều chuyện, chửi mắng hỗn xược…
Ngoài ra còn rất nhiều ngục khác, dành cho đủ hạng người trong xã hội tạo ác, từ dân đầu đường xó chợ, đâm thuê chém mướn mạt hạng, đến tầng lớp tri thức như luật sư, giáo viên, bác sĩ, nghệ sĩ, nhà văn, diễn viên… Tội danh thì muôn trùng sai khác, tội tày trời có, tội tầm thường có, nặng có, nhẹ có, ứng với mỗi tội lại hiện ra các thứ hình phạt khác nhau, mỗi mỗi đều cực kỳ đau đớn, rùng rợn.
Tội hồn ngục nào cũng thế, đâu đâu cũng máu me đầm đìa, xương thịt vương vãi, gào thét kinh hồn, đau đớn khôn xiết… Cứ chết đi lại hoàn lại hình hài cũ, tiếp tục hình phạt nối nhau. Một ngày một đêm, chết đi sống lại nghìn muôn lần thống khổ.
Sau khi đi qua các Địa ngục, bà được đưa đến một khu tập hợp vong linh rất đông đúc, người người lớp lớp đứng hồi hộp chờ đợi. Nếu vẫn còn dư báo, thì bị các quỷ vương đọc thần chú biến hình thành các loại súc sinh, như gà, trâu, chó, rắn, rết… cho vào bao đưa đi đầu thai làm kiếp súc sinh, tiếp tục đền trả nợ cũ.
Nếu nghiệp nhẹ hơn thì được tái sinh làm người nghèo đói, tàn tật, hèn hạ… Họ phải đi qua một cây cầu bằng trúc, gặp một người phụ nữ rất đẹp (có lẽ là Mạnh Bà). Bà cho từng vong linh uống một thứ nước gì đó, rồi mới đưa đi đầu thai làm người.
Cuối cùng, các quỷ vương đưa bà trở lại chỗ ban đầu, diện kiến và cung kính đảnh lễ ba vị Quán Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát, Chuẩn Đề Bồ Tát. Đảnh lễ xong, các vị Bồ Tát bảo bà hãy niệm Phật. Bà liền làm theo, thì thấy mình bay bổng lên không trung, trở lại thế gian, nhập vào xác. Lúc đó là 12 giờ trưa, kết thúc chuyến đi với những trải nghiệm rùng rợn, kinh hoàng nơi Địa Ngục.
Địa Ngục là một danh từ có mặt trong từ điển của mọi quốc gia, từ Đông sang Tây, Âu sang Á. Từ những nền văn minh lớn, đến những lời truyền miệng của các dân tộc thiểu số khắp thế giới, từ những tôn giáo lớn như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, đến các tín ngưỡng nhỏ lẻ ở mọi đất nước, đâu đâu cũng đề cập đến địa ngục.
Nếu địa ngục là sản phẩm của trí tưởng tượng, một biểu tượng mang tính tượng trưng, tại sao Đông Tây kim cổ, ngàn xưa tới nay, ở khắp nơi trên thế giới, dù bị địa lý, đại dương ngăn cách, con người lại có thể tưởng tượng ra cùng một thứ giống nhau như vậy?
Câu trả lời rất đơn giản, vì địa ngục là có thật. Vì đó là sự thật, nên ở mọi nơi đều xuất hiện những bằng chứng cho thấy sự tồn tại của địa ngục. Các bậc trí giả ở mọi nền văn minh đều xác quyết đó là sự thật, thậm chí mô tả tỉ mỉ về địa ngục.
Ấy thế mà từ xưa đến nay, luôn có rất nhiều người cho rằng địa ngục là sản phẩm của trí tưởng tượng, nhằm răn đe là chính, chứ không phải sự thật. Để rồi họ mặc sức xuôi theo dục vọng mà làm đủ thứ tội ác lớn nhỏ, vì cho rằng chết là hết, sẽ chẳng có hình phạt nào cho những tội lỗi của họ. Đâu biết được rằng, phía sau cái chết là địa ngục với quỷ dữ, đao kiếm, lửa cháy dầu sôi, cùng đủ thứ quả báo kinh khủng đang chờ đợi họ.
Nếu ngay từ đầu, họ thức tỉnh sớm, bằng trí tuệ hay bằng niềm tin, nhận ra chân lý rằng Địa ngục là sự thật, Báo ứng là sự thật, mà nói “không” với các tội lỗi và sự sa đọa. Thế thì đâu đến mức phải có hàng triệu, hàng tỷ vong linh bị đầy đọa trong dầu sôi, lửa cháy, núi dao, rừng kiếm, gào thét đau đớn, ngàn vạn năm không biết khi nào thoát ra.
Hy vọng câu chuyện này, dù ít hay nhiều, sẽ giúp thế nhân thoát khỏi những tà kiến phủ nhận Báo ứng, chối bỏ Địa ngục, tìm lại được sự thật, soi sáng được một chút chân lý, mà sớm dập tắt được ngọn lửa đau khổ, đã và đang nhen nhúm trong từng hành vi của chính mình.
Câu chuyện của Ni sư Diệu Hân là lời cảnh tỉnh sâu sắc về những gì chờ đợi phía sau cái chết; hãy khám phá thêm về những giáo lý và bài học quý giá trong chuyên mục Đạo phật.
