Phật giáo: Nghi Lễ Cúng Dường & Ý Nghĩa Tâm Linh

1405 be trai cung kinh cung duong len su phu trong nagy tu bat quan trai 0113 1
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Trong đạo Phật, hành động dâng cúng không chỉ là biểu hiện lòng biết ơn mà còn là dịp để chiêm nghiệm về sự vô thường của cuộc sống. Khám phá ý nghĩa sâu sắc và cách thực hành cúng dường cao quý nhất để đạt được an lạc tinh thần tại Chia sẻ Đạo Phật.

Trong Phật giáo, “cúng dường” hay “cung dưỡng” mang ý nghĩa là cung cấp, nuôi dưỡng, dâng cúng các lễ vật như thức ăn, hương, hoa, đèn, kinh sách, giáo lý. Hành động này nhằm bày tỏ lòng biết ơn đến chư Phật và chư Bồ Tát, tương tự như lòng hiếu thảo của con cái với cha mẹ hay sự tôn kính của học trò với thầy cô. Cúng dường hương hoa bên ngoài thể hiện sự kính trọng đối với Đức Phật. Khi dâng hoa cúng dường, chúng ta chiêm nghiệm về sự vô thường, hoa rồi sẽ tàn phai, héo úa, cũng như vạn vật và chính ta rồi cũng sẽ hoại diệt. Nhận thức này giúp ta thêm quyết tâm tu hành. Tuy nhiên, cách cúng dường cao quý nhất là thành tựu và sống thuận theo Chánh pháp.

Tổng Quan Về Cúng Dường

Cúng dường là hành động cung cấp, nuôi dưỡng, dâng cúng các lễ vật như thức ăn, hương, hoa, đèn, kinh sách, giáo lý. Phật tử thực hiện cúng dường đến chư Phật và chư Bồ Tát để thể hiện lòng biết ơn, giống như con cái thể hiện lòng kính trọng với cha mẹ, hay học trò tôn kính thầy cô. Tại nhiều ngôi chùa, việc Phật tử dâng hương, hoa là biểu hiện bên ngoài của lòng kính trọng đối với Đức Phật. Khi dâng hoa, chúng ta nên suy ngẫm về tính vô thường của vạn vật: hoa rồi sẽ tàn phai, héo úa, cũng như chính chúng ta cũng sẽ hoại diệt. Hiểu được lẽ vô thường này, chúng ta càng thêm quyết tâm tu hành. Trong các hình thức cúng dường lên chư Phật, Pháp thí (cúng dường bằng giáo lý) được xem là cao tột nhất. Pháp thí là việc chia sẻ, giảng dạy Phật pháp để giúp người khác diệt khổ, giải quyết các vấn đề tâm linh, hướng đến giác ngộ và giải thoát. Thuyết pháp, ban bố chân lý Phật pháp chính là một hình thức cúng dường pháp cao quý, mang lại cơ duyên giúp người nghe vượt thoát luân hồi sanh tử để đạt đến Phật quả. Do đó, cách cúng dường cao quý nhất đến Đức Phật là thành tựu và sống thuận theo Chánh pháp.

Cúng dường theo quan điểm Phật giáo 1

Các Loại Cúng Dường Trong Phật Giáo

Theo truyền thống Phật giáo, cúng dường được phân loại theo nhiều cách:

Phân loại theo mục đích cầu phước:

  • Xuất triền cúng dường: Cúng dường không cầu mong phước báo nhân thiên, thường hướng đến các bậc đã thoát ly sanh tử.
  • Tại triền cúng dường: Cúng dường để cầu mong phước báo nhân thiên cho bản thân, hướng đến các bậc còn luân hồi trong sanh tử.

Phân loại theo đối tượng cúng dường:

  • Cúng Dường Pháp Thân Phật: Bao gồm việc đọc, tụng, biên chép, ấn tống và lưu hành 12 bộ kinh của Đức Phật.
  • Cúng Dường Sinh Thân Phật: Cúng dường Ứng, Hóa Thân Phật, các hình tượng hoặc pháp tượng của Phật.

Phân loại theo hình thức cúng dường:

  • Tài Cúng Dường: Dâng cúng các vật phẩm như hương, hoa, quả, của cải, quần áo, thức ăn, nhà cửa, châu báu.
  • Lễ Bái Cúng Dường: Thể hiện lòng tôn kính thông qua các hành động lễ bái.
  • Giới Cúng Dường: Thực hành và gìn giữ giới luật một cách nghiêm túc.

Theo Kinh Đại Bảo Tích, có các cách phân loại khác về cúng dường:

  • Theo nghi thức: Hợp Chưởng (chắp tay), Dâng Nước Thơm, Chân Ngôn Ấn Khế (sử dụng các thủ ấn để biểu đạt ý nghĩa), Vận Tâm (tưởng tượng tâm mình thành Phật).
  • Theo lễ vật thông dụng: Đồ Hương, Hoa Man (tràng hạt), Thiêu Hương (nhang), Thực phẩm, Đăng Minh (đèn). Một số tự viện thường dùng Nước, nhang, hoa, gạo và đèn trong các nghi thức cúng kiến.

Theo Kinh Đại Bảo Tích, Đức Phật dạy về năm loại cúng dường Pháp Thân và Sinh Thân Phật:

  1. Xây dựng nhà cửa, chỗ kinh hành để cúng dường.
  2. Xây dựng rừng cây, vườn hoa, giảng đường, tịnh xá để cúng dường.
  3. Dâng cúng ẩm thực, ngọa cụ (giường, nệm, chăn, chiếu), thuốc men, phòng nhà.
  4. Lắng nghe các vị Pháp sư thuyết pháp.
  5. Cúng dường y phục, ẩm thực, ngọa cụ, thuốc men, phòng nhà, vườn rừng, xe cộ, ruộng nương cho Pháp sư.

Theo truyền thống Phật giáo, có bảy loại cúng dường:

  1. Cúng dường cho khách lạ hoặc người lận đận nơi xứ người.
  2. Cúng dường cho người đi đường.
  3. Cúng dường cho người ốm đau, bệnh tật.
  4. Cúng dường cho người chăm sóc bệnh nhân.
  5. Cúng dường cho các tịnh xá, chùa chiền.
  6. Cúng dường đồ ăn hàng ngày cho Tăng Ni.
  7. Cúng dường tùy thời, tùy lúc (trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt như nóng, lạnh, gió bão).

Một cách phân loại khác cũng có bảy loại cúng dường:

  1. Cúng dường thân: Dùng thân mình để phục vụ.
  2. Cúng dường tâm: Dùng tâm từ bi để phục vụ tha nhân.
  3. Cúng dường mắt: Một ánh nhìn ấm áp mang lại sự an tịnh.
  4. Cúng dường hòa tu (nụ cười): Ban tặng một nụ cười hiền hòa.
  5. Cúng dường ái ngôn: Dùng lời nói ái ngữ mang lại niềm vui.
  6. Cúng dường sàng tọa: Nhường chỗ ngồi cho người khác.
  7. Cúng dường phòng xá: Cho phép người khác nghỉ qua đêm.

Theo Trung Bộ Kinh, Kinh Phân Biệt Cúng Dường, có bảy loại cúng dường cho Tăng Chúng:

  1. Cúng dường cho cả hai Tăng Chúng khi Đức Phật còn tại thế.
  2. Cúng dường cho cả hai Tăng Chúng sau khi Đức Phật nhập diệt.
  3. Cúng dường cho Tỳ Kheo Tăng.
  4. Cúng dường cho Tỳ Kheo Ni.
  5. Cúng dường cho Tăng và Ni (chỉ định một số Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni).
  6. Cúng dường cho Tăng Chúng (chỉ định một số Tỳ Kheo).
  7. Cúng dường cho Ni Chúng (chỉ định một số Tỳ Kheo Ni).

Theo Phật giáo Đại Thừa, có mười loại cúng dường:

Tìm hiểu thêm: Bí ẩn Mười Hai Loại Cô Hồn: Lời Than Thở Của Những Linh Hồn Lang Thang

  1. Hoa: Tương truyền mang lại phước báo về hình tướng đẹp đẽ. Tuy nhiên, Phật tử thuần thành không nên mong cầu điều này mà nuôi dưỡng lòng tham. Công đức viên mãn tự nhiên sẽ mang lại tướng mạo tốt đẹp.
  2. Lư hương: Tương truyền mang lại phước báo về thân thể thơm tho. Tương tự như cúng hoa, không nên mong cầu điều này để tránh nuôi dưỡng lòng tham.
  3. Nến (Đèn): Tương truyền cúng dường đèn giúp đời sau có nhãn quang trong sáng, nhìn thấy những điều người khác không thấy.
  4. Nước: Tương truyền cúng dường nước giúp đời sau có tâm thanh lương, trong sáng, biết những điều người khác không biết.
  5. Quả (Trái cây): Nên cúng dường với tâm nguyện chỉ thọ dụng trái cây và rau quả trong cuộc sống hằng ngày.
  6. Trà: Thường được dùng trong các buổi lễ cúng vong tại tự viện. Theo Giáo sư Soothill, các tự viện còn dùng hoa, hương, nước, nhang, thức ăn và đèn trong các buổi cúng vong.
  7. Tràng Phan Bảo Cái: Các vật phẩm trang trí bằng vải với hình ảnh và màu sắc tôn nghiêm, thường được dâng trước bàn thờ Phật.
  8. Quần Áo: Thường được cúng dường cho chư Tăng Ni, đặc biệt trong nghi thức dâng y vào dịp lễ Tự Tứ mùa Vu Lan.
  9. Đàn dành cho lễ hội: Các nhạc cụ như mõ, trống, chuông, khánh, chêng, la. Một số truyền thống Đại Thừa tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam chấp nhận việc sử dụng các nhạc cụ này trong tự viện.
  10. Hợp Chưởng: Chắp mười ngón tay hoặc hai bàn tay vào nhau.

Trong “Hợp Chưởng”, việc chắp hai lòng bàn tay lại với nhau diễn tả sự nương về, lòng biết ơn và sự hợp nhất với Đức Phật. Bàn tay phải tượng trưng cho Đức Phật, bàn tay trái tượng trưng cho chúng sanh. Khi hai bàn tay hợp lại, ta cảm nhận Đức Phật đang hiện hữu trong ta và ta trong Đức Phật. “Hợp Chưởng” là biểu tượng của sự hợp nhất hoàn hảo giữa con người và Đức Phật. Tư thế chắp tay nâng lên trán khi khất thực cũng thể hiện sự khẩn khoản và tôn kính.

Theo Trung Bộ Kinh, Kinh Phân Biệt Cúng Dường, có mười bốn loại cúng dường phân loại theo hạng người:

  1. Cúng dường cho các Đức Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Chánh Giác.
  2. Cúng dường cho các vị Độc Giác Phật.
  3. Cúng dường cho các bậc đệ tử A La Hán của Phật.
  4. Cúng dường cho các vị đang trên đường chứng quả A La Hán.
  5. Cúng dường cho các vị chứng quả Bất Lai.
  6. Cúng dường cho các vị đang trên đường chứng quả Bất Lai.
  7. Cúng dường cho các vị chứng quả Nhất Lai.
  8. Cúng dường cho các vị đang trên đường chứng quả Nhất Lai.
  9. Cúng dường cho các vị chứng quả Dự Lưu.
  10. Cúng dường cho các vị đang trên đường chứng quả Dự Lưu.
  11. Cúng dường cho các vị ngoại học đã ly tham trong các dục vọng.
  12. Cúng dường cho những phàm phu gìn giữ giới luật.
  13. Cúng dường cho những vị phàm phu theo ác giới.
  14. Cúng dường cho các loại bàng sanh.

Bên cạnh đó, theo Phật giáo, có năm đối tượng đáng kính trọng và cúng dường: Cha mẹ, thầy dạy, người dạy đạo, và người bệnh. Theo Kinh Tự Hoan Hỷ và Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bảy loại người đáng kính trọng: Hạng Câu Phần Giải Thoát, hạng Tuệ Giải Thoát, hạng Thân Chứng, hạng Kiến Chí, hạng Tín Giải Thoát, hạng Tùy Pháp Hành, và hạng Tùy Tín Hành. Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có tám loại người đáng được cung kính: Hạng đã thành tựu Dự Lưu quả, hạng đang thành tựu Dự Lưu quả, hạng đã thành tựu Nhất Lai quả, hạng đang thành tựu Nhất Lai quả, hạng đã thành tựu Bất Lai quả, hạng đang thành tựu Bất Lai quả, hạng đã thành tựu A-La-Hán quả, và hạng đang thành tựu A-La-Hán quả.

Cúng Dường Theo Truyền Thống Tây Tạng

Cúng Dường Mạn Đà La: Theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng, Mạn Đà La (Mandala) có nghĩa là vòng tròn quanh trung tâm. Trong tiếng Tây Tạng là “Kyil-Kor”, “Kyil” mang ý nghĩa tinh túy, “Kor” là lấy ra. Do đó, Mạn Đà La có nghĩa là lấy ra tinh túy. Cúng dường Mạn Đà La là một phương pháp hiệu nghiệm để tích lũy công đức và thanh tịnh hóa chướng ngại.

Cúng Dường Theo Hầu Hết Các Truyền Thống Tây Tạng:

  1. Dâng cúng phẩm vật lên Đấng Quy Y Hộ Pháp, Bổn Sư tôn kính và Thánh chúng.
  2. Từ bình tịnh thủy tuôn ra bốn dòng Cam Lộ thanh tịnh.
  3. Cây nở hoa đẹp, vòng hoa, bó hoa trang nhã.
  4. Mây xanh mùa hạ cuồn cuộn, khói lam từ hương trầm thơm ngát.
  5. Ánh mặt trời, ánh trăng rực rỡ như châu báu; ánh đèn cúng dường nhảy múa xua tan bóng tối.
  6. Nước thơm tỏa mùi hương nghệ, trầm hương, long não.
  7. Phẩm vật, thức uống, thức ăn ngon từ trăm vị hương lấy từ núi Tu Di.
  8. Nhã nhạc hòa hợp giao hưởng đến ba cõi.
  9. Chư Thiên nữ mang biểu tượng gìn giữ Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc tràn ngập muôn phương.
  10. Dâng cúng Đấng Quy Y Hộ Pháp tất cả châu báu của Từ Bi, ruộng Công Đức tối thượng, bảy biểu tượng tôn quý của hoàng gia, các biểu tượng tôn quý phụ và nhiều phẩm vật khác.
  11. Dâng cúng những phẩm vật an bày và quán tưởng như lùm cây an lạc trên bờ biển Như Ý Nguyện.
  12. Dâng cúng trà thơm vàng ướp trăm vị huy hoàng với tràng hoa thanh nhã. Ngũ câu, ngũ đăng đều thanh tịnh hóa, chuyển hóa và tăng trưởng thành biển nước Cam Lộ. Dâng cúng các Phật mẫu như ảo diễm kiều, chủ tể các sứ giả Thiên Nữ.
  13. Dâng cúng Bồ Đề Tâm tối thượng, Tánh Không vũ trụ, Kim Cang Bồ Đề. Dâng cúng thần dược trị bốn trăm lẽ bốn nỗi khổ đau phiền não. Dâng cúng thân mình để phụng sự. Cầu nguyện Đức Bổn Sư giữ chúng con lại để phụng sự Người mãi mãi.

Cúng dường theo quan điểm Phật giáo 4

Cách Cúng Dường Cao Quý Nhất Đến Với Đức Phật

Một số người lầm tưởng Phật giáo là tôn giáo thờ tượng. Quan niệm này hoàn toàn sai lầm. Trong những giây phút cuối đời, Đức Phật đã dạy A Nan rằng, sự kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai chân chính là khi có Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, hay nam nữ cư sĩ nào thành tựu Chánh pháp và sống thuận theo Chánh pháp. Do đó, A Nan cần phải thành tựu Chánh pháp, sống chân chính trong Chánh pháp và hành trì đúng Chánh pháp. Lời khuyến hóa này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tu tâm và hành đạo chân chính trong lời nói và việc làm, chứ không chỉ đơn thuần là cúng dường hương hoa đến bậc Giác Ngộ. Sống chân chính theo Giáo pháp là điều Đức Như Lai luôn nhấn mạnh. Khi Phật tử dâng hương, hoa, đèn trước kim thân Đức Phật hay một đối tượng thiêng liêng, và suy ngẫm về ân đức của Ngài mà không cầu nguyện cho bất kỳ ai, hành động đó không mang tính sùng bái hay mê tín. Những bông hoa rồi sẽ tàn úa, những ngọn nến rồi sẽ tắt, nhắc nhở về tính vô thường của vạn pháp. Đối với Phật tử, hình tượng Đức Phật là một đề mục để tập trung, để hành thiền; từ đó, họ tìm thấy sự truyền cảm và khích lệ để noi theo những phẩm hạnh cao quý của Ngài.

Pháp Cúng Dường

Pháp cúng dường bao gồm việc tin pháp, giảng pháp, bảo vệ pháp, tu tập tinh thần và hộ trì Phật giáo. Theo kinh Duy Ma Cật, chương mười ba, phẩm Pháp Cúng Dường, một vị trời từ hư không nói với chúng Bồ Tát: “Này thiện nam tử! Pháp cúng dường là hơn hết trong các việc cúng dường.” Khi được hỏi “Sao gọi là Pháp cúng dường?”, vị trời chỉ dẫn đến Đức Dược Vương Như Lai để được giải đáp rõ ràng hơn.

Phật dạy: “Thiện nam tử! Pháp cúng dường là kinh thâm diệu của chư Phật nói ra, khó tin, khó nhận, nhiệm mầu, thanh tịnh, không nhiễm, không thể dùng suy nghĩ phân biệt mà biết được. Kinh này nhiếp về pháp tạng của Bồ Tát, ấn đà la ni, cho đến bất thối chuyển, thành tựu lục độ, phân biệt các nghĩa, thuận pháp Bồ Đề, vào đại từ bi, lìa ma và tà kiến, thuận pháp nhân duyên, không ngã, không nhân, không chúng sanh, không thọ mạng, vô tướng, vô tác, vô khởi. Pháp này giúp chúng sanh ngồi nơi đạo tràng mà chuyển pháp luân, được chư Thiên, Long thần, Càn thát bà ngợi khen, đưa chúng sanh vào pháp tạng của Phật, nhiếp trí tuệ của Hiền Thánh, diễn nói cách tu hành của Bồ Tát, nương theo nghĩa thực tướng, tuyên bày pháp vô thường, khổ, không, vô ngã, tịch diệt, cứu độ chúng sanh hủy phá giới cấm, làm cho tà ma ngoại đạo, người tham lam sợ hãi, được chư Phật, Hiền, Thánh ngợi khen, trái khổ sanh tử, chỉ vui Niết Bàn. Nếu người nghe những kinh như thế mà tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, giải nói cho chúng sanh, giữ gìn chánh pháp, đó gọi là Pháp cúng dường.”

Lại nữa, tu hành đúng theo lời Phật dạy, thuận theo 12 nhân duyên, lìa tà kiến, được vô sanh nhẫn, quyết định không có ngã, không có chúng sanh, không trái quả báo nhân duyên, lìa các ngã sở, y theo nghĩa không, y theo trí, y theo kinh liễu nghĩa, y theo pháp. Quán sát 12 nhân duyên không có tướng diệt, không có tướng khởi, đó là Pháp cúng dường hơn hết.

Quảng Tu Cúng Dường

Quảng Tu Cúng Dường là hạnh nguyện thứ ba trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Đây là việc khởi tâm tín giải sâu sắc, dâng cúng những vật phẩm thượng diệu lên pháp hội chư Phật. Tuy nhiên, trong các loại cúng dường, pháp cúng dường vẫn là quý hơn cả. Pháp cúng dường bao gồm việc tu hành đúng theo lời Phật dạy, làm lợi ích cho chúng sanh, chịu khổ thay cho chúng sanh, nhiếp thọ chúng sanh, siêng năng tu tập căn lành, không thối chuyển Bồ Tát hạnh, và không rời tâm Bồ đề.

Theo Kinh Đại Bảo Tích, chương 12, phẩm Đề Bà Đạt Đa, Đức Phật từng kể về tiền kiếp khi Ngài làm quốc vương, phát nguyện cầu đạo vô thượng bồ đề. Ngài đã bố thí cúng dường vô số voi, ngựa, bảy báu, tôi tớ. Về nội cúng dường, Ngài đã hiến dâng mắt, tai, mũi, óc, thân, thịt, tay chân mà không tiếc thân mạng. Kinh Đại Bảo Tích, chương 23, phẩm Dược Vương Bồ Tát Bản Sự, kể về Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát đã tự đốt thân mình để cúng dường Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh và Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Chư Phật đồng khen ngợi đây là pháp cúng dường Như Lai chân thật, vượt xa các loại cúng dường bằng hoa, hương, chuỗi, phan lọng. Điều này cho thấy sự hy sinh thân thể để cúng dường là cách cúng dường tối thượng.

Tuy nhiên, Phật tử thuần thành nên luôn ghi nhớ rằng cách cúng dường cao quý nhất đến Đức Phật là thành tựu và sống thuận theo Chánh pháp. Lời dạy của Đức Phật cho A Nan về việc sống tùy thuận Chánh pháp đã chỉ rõ rằng, vấn đề cốt yếu là tu tập tâm và hành đạo chân chính, chứ không phải chỉ đơn thuần cúng dường hương hoa. Khi Phật tử dâng hương, hoa, đèn và suy ngẫm về ân đức của Phật, đó là cách thực hành không mang tính mê tín, mà là phương tiện để chiêm nghiệm về tính vô thường và tìm cảm hứng noi theo phẩm hạnh cao quý của Ngài.

Xem thêm: Quy Luật Vô Hình: Bí Mật Đằng Sau Mỗi Cuộc Đời

Cúng Dường Thanh Tịnh

Theo truyền thống đạo Phật, người tại gia luôn tôn kính người xuất gia. Tuy nhiên, khi cúng dường cho Tăng Ni, tín thí không nên khởi tâm phân biệt, lựa chọn. Việc nghĩ rằng vị này tu hành tốt nên cúng, vị kia không đạo hạnh nên không cúng là thái độ không đúng đắn. Khi đã phát tâm cúng dường, nên nghĩ rằng mình đang cúng dường lên ngôi Tam Bảo, không nên khởi tâm phân biệt. Sự phân biệt này có thể dẫn đến tâm cống cao ngã mạn, làm tổn hại đến việc hộ trì Tam Bảo.

Người xuất gia khi nhận sự cúng dường cần tự phản tỉnh xem bản thân có xứng đáng hay không. Họ phải xem xét việc tu hành có thành khẩn, có xứng đáng với chiếc áo xuất gia hay không. Họ cần tự soi xét liệu bản thân có làm gương tốt cho người tại gia, hay tâm trí vẫn còn chứa đầy vọng tưởng, nóng giận, đố kỵ, làm chướng ngại cho người khác. Nếu người tu có thái độ như vậy thì không đủ tư cách nhận sự cúng dường. Nếu nhận một cách miễn cưỡng, họ nên cảm thấy hổ thẹn. Quan niệm xuất gia để nhận sự cúng dường của người tại gia là hoàn toàn sai lầm. Người xuất gia nên nhớ rằng người tại gia cúng dường là để họ tu tập và làm gương sáng cho người tại gia noi theo. Hạt cơm thí chủ nặng hơn núi Tu Di, nên cần suy xét kỹ lưỡng. Để xứng đáng nhận sự cúng dường, người xuất gia phải nhiếp tâm tu đạo, không vọng tưởng, không phiền não, đố kỵ như phàm phu. Nếu chưa đạt được điều này, thì không nên vội vàng xuất gia. Tăng Ni không phải là một nghề nghiệp, mà là những người thoát ly trần tục để tu làm Phật.

Theo Trung Bộ Kinh, Kinh Phân Biệt Cúng Dường và Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn sự thanh tịnh của các loại cúng dường:

  1. Cúng dường thanh tịnh bởi người cho, nhưng người nhận không thanh tịnh: Người cho giữ giới luật, theo thiện pháp; người nhận theo ác giới, ác pháp. Đây là loại cúng dường thanh tịnh bởi người cho, nhưng không thanh tịnh bởi người nhận. Đức Phật dạy Tăng Ni không được dùng thủ đoạn để được cúng dường. Chư Tăng Ni không cầu xin cúng dường vì phải thành thật tu hành và thuận theo sự sắp đặt của chư Phật, chư Bồ Tát. Sự tu đạo của Tăng Ni sẽ cảm ứng đến chư Phật, Bồ Tát, Thiên Long Bát Bộ, Hộ Pháp và thiện thần. Nếu Tăng Ni không tu hành chân chính, dù có người cúng dường cũng sẽ cảm thấy hổ thẹn. Cổ đức có câu: “Tam tâm bất liễu thủy nan tiêu; ngũ quán nhược minh kim diệu hóa” (Nếu tu hành mà ba tâm quá khứ, hiện tại, vị lai chưa đoạn, thì dù thí chủ cúng dường nước lạnh uống vào cũng khó tiêu. Nhưng nếu hiểu rõ đạo lý của năm điều quán tưởng một cách chân thật thì vàng sắt cũng tiêu hóa dễ dàng). Trước khi nhận cúng dường, Tăng Ni cần suy xét:
    • Hạt gạo của thí chủ nặng hơn núi Tu Di.
    • Công lao tạo ra bát cơm này.
    • Đức hạnh của bản thân có xứng đáng nhận cúng dường này hay không.
    • Ngăn ngừa tâm cống cao ngã mạn và tham lam khi nhận cúng dường.
    • Xem thức ăn như vị thuốc giúp cơ thể khỏe mạnh, là phương tiện cho việc tu hành.
  2. Cúng dường thanh tịnh bởi người nhận, nhưng không thanh tịnh bởi người cho: Người cho theo ác giới, ác pháp; người nhận giữ giới, theo thiện pháp.
  3. Cúng dường không thanh tịnh bởi người cho và cũng không thanh tịnh bởi người nhận: Cả người cho và người nhận đều theo ác giới, ác pháp.
  4. Cúng dường thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận: Cả người cho và người nhận đều giữ giới, theo thiện pháp.

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười pháp thanh tịnh cúng dường của chư Đại Bồ Tát:

  1. Bình đẳng cúng dường (không lựa chúng sanh).
  2. Tùy ý cúng dường (thỏa mãn chỗ nguyện cầu).
  3. Chẳng loạn cúng dường (làm cho được lợi ích).
  4. Tùy nghi cúng dường (biết thượng, trung, hạ).
  5. Chẳng trụ cúng dường (không cầu quả báo).
  6. Mở rộng xa cúng dường (tâm không luyến tiếc).
  7. Tất cả cúng dường (rốt ráo thanh tịnh).
  8. Hồi hướng Bồ Đề cúng dường (xa rời hữu vi vô vi).
  9. Giáo hóa chúng sanh cúng dường (nhẫn đến đạo tràng chẳng bỏ).
  10. Tam luân thanh tịnh cúng dường (chánh niệm quán sát người cho, kẻ thọ, và vật cúng dường như hư không).

Cúng dường theo quan điểm Phật giáo 6

Hành Giả Tu Tập Bố Thí – Trì Giới – Tinh Tấn Là Đang Đi Vào Cửa Phước Đức

Sáu Ba La Mật (Lục độ) là sự tích lũy năng lực thanh sạch trong tâm. Khi tâm không bị ảnh hưởng bởi tham, sân, si, nó sẽ trở nên tinh khiết, tạo ra dòng tâm thức vững chắc để vượt qua cõi Ta Bà. Đối với hành giả tu Phật, khi các yếu tố vô tham, vô sân, vô si được tích lũy đầy đủ, dòng tâm thức tinh khiết sẽ trở thành sức mạnh sinh ra hạnh phúc và an lạc giải thoát.

Lục độ Ba La Mật là sáu giáo pháp giúp con người vượt qua biển sanh tử, đồng thời cứu độ chúng sanh. Chúng bao gồm sáu đức tính cốt yếu của Bồ Tát và là sáu giai đoạn hoàn thiện tinh thần trên tiến trình thành Phật. Lục độ Ba La Mật không chỉ đặc trưng cho Phật giáo Đại Thừa mà còn chứa đựng những đạo đức chung cho mọi tôn giáo.

Riêng đối với việc tu tập phước đức, bố thí, trì giới và tinh tấn đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Khám phá: Giải mã vô thường: Chìa khóa bình an nội tại

Bố thí: Là cho đi vì lợi ích và hạnh phúc của chúng sanh, bất cứ thứ gì và tất cả những gì ta có thể cho: của cải vật chất, kiến thức (thế tục và tôn giáo), hoặc tâm linh. Bồ Tát sẵn sàng bố thí cả sinh mạng mình. Bố thí tài sản vật chất là cho tiền bạc, vật chất. Ai cũng có thể thực hiện một hình thức bố thí nào đó, dù là nhỏ nhặt, hoặc phục vụ cộng đồng. Bố thí Pháp là dạy dỗ người khác đúng đắn, chia sẻ kiến thức, trí tuệ. Bố thí vô úy là gỡ bỏ ưu tư, khổ đau của người khác, an ủi họ vượt qua lúc khó khăn. Đàn na bao gồm tài thí, pháp thí và vô úy thí, giúp diệt trừ tâm tham lam, bòn xẻn.

Trì giới: Dạy rằng không thể cứu độ người khác nếu chưa tự mình tháo gỡ những nhiễm trược bằng cách sống phạm hạnh và chánh trực. Trì giới còn là tấm gương tốt cho người khác noi theo. Hạnh trì giới thanh tịnh là thực hành các giới luật Phật giáo, các thiện hạnh dẫn đến toàn thiện đạo đức. Trì giới giúp tâm giải thoát khỏi hối hận, lo âu. Nền tảng giới luật là cần thiết cho sự phát triển tâm linh, giúp tâm an tĩnh và nhất tâm. Người tu tập phước huệ song hành luôn nỗ lực trì giới, kềm chế tâm thức, hành động theo lời nguyện thanh tịnh của Bồ Tát.

Tinh tấn: Là tiến thẳng lên mục tiêu quan trọng mà không xao lãng. Tinh tấn đòi hỏi ý tưởng và hành xử thanh sạch, dù nỗ lực tu tập giáo lý Phật. Khi đã quyết định tu Bồ Tát đạo, cần giữ vững lòng kiên quyết tiến đến mục tiêu mà không đi lệch. Tinh tấn là kiên trì thể hiện động lực chí thiện. Đời sống theo Phật giáo Đại Thừa là một cuộc đời hăng say, không chỉ trong hiện tại mà còn trong tương lai. Tinh tấn còn có nghĩa là khích lệ thân tâm tiến tu năm Ba La Mật còn lại, giúp diệt trừ sự giải đãi.

Lời Phật Dạy Về Cúng Dường Trong Kinh Điển Phật Giáo

Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy:

  • Mỗi tháng bỏ ra hàng ngàn vàng để sắm vật hy sinh, tế tự cả trăm năm, chẳng bằng trong giây lát cúng dường bậc chân tu. Cúng dường bậc chân tu trong giây lát thắng hơn tế tự quỷ thần cả trăm năm (câu 106).
  • Cả trăm năm ở rừng sâu thờ lửa, chẳng bằng trong giây lát cúng dường bậc chân tu. Cúng dường bậc chân tu trong giây lát thắng hơn thờ lửa cả trăm năm (câu 107).
  • Suốt một năm bố thí cúng dường để cầu phước, công đức chẳng bằng một phần tư sự kính lễ bậc chính trực chánh giác (câu 108).
  • Thường hoan hỷ, tôn trọng, kính lễ các bậc trưởng lão thì được tăng trưởng bốn điều: sống lâu, đẹp đẽ, tươi trẻ, khỏe mạnh (câu 109).
  • Kẻ nào cúng dường những vị đáng cúng dường, hoặc chư Phật hay đệ tử, những vị thoát ly hư vọng, vượt khỏi hối hận lo âu (câu 195). Công đức của người ấy đã cúng dường các bậc tịch tịnh vô úy ấy, không thể kể lường (câu 196).
  • Hàng Tỳ kheo dù được chút ít cũng không sinh tâm khinh hiềm, cứ sinh hoạt thanh tịnh và siêng năng, nên đáng được chư thiên khen ngợi (câu 366).

Tài Liệu Tham Khảo:

1. Trích trong bộ Phật Pháp Căn Bản, Thiện Phúc, USA, 2009, Chương 137, Tập VI.

2. Trích trong Phước Huệ Song Tu, cùng tác giả Thiện Phúc, California, U.S.A., 2021, Quyển 1.

Hy vọng những chia sẻ trên đây đã giúp bạn hiểu rõ hơn về ý nghĩa và các hình thức cúng dường trong Phật giáo. Để khám phá sâu hơn về giáo lý và thực hành tâm linh, bạn có thể tìm đọc thêm các bài viết khác trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang