Phật tánh: Tại sao tu hành khi tất cả chúng sanh đều có?

01 1214 1
0
(0)

Mặc dù Phật tánh tiềm ẩn nơi mỗi chúng sanh, nhưng hành trình giác ngộ lại là một quá trình tích cực gạt bỏ vô minh để bản chất chân thật này hiển lộ. Việc phân biệt các tầng bậc tu chứng, từ Thanh Văn đến Phật quả, đều xoay quanh sự hiển lộ của Phật tánh, làm nổi bật tính nhất quán của đạo lý sâu xa này. Khám phá thêm về chiasedaophat.com để hiểu rõ hơn về con đường dẫn đến sự giải thoát.

Phật tánh là bản chất sẵn có trong mỗi chúng sanh, nhưng thường bị che lấp bởi vô minh và phiền não. Quá trình tu tập chính là hành trình gỡ bỏ những che chướng đó để Phật tánh hiển lộ. Sự phân biệt các phẩm vị Bồ tát, Thanh Văn, Duyên Giác hay quả vị Phật là kết quả của quá trình tu tập này, tất cả đều dựa trên nền tảng Phật tánh.

Kinh Đại Bát Niết Bàn, trong phẩm Bồ tát Sư Tử Hống, đã giải thích sâu sắc về các khái niệm như Sanh nhân, Liễu nhân, Chánh nhân và Duyên nhân, cùng với con đường tu tập của Bồ tát.

Kinh dạy rằng: “Thiện nam tử! Tất cả các pháp đều không có ngã, mà Niết bàn đây chân thật có ngã (theo nghĩa thường trụ). Do nghĩa này nên Niết bàn thì không có nhân, nhưng thể của nó chính là quả. Vì nó không sanh diệt; vì không do tạo tác, vì chẳng phải hữu vi (hợp tạo), vì là vô vi, vì thường chẳng biến đổi, vì không nương dựa vào ngôn ngữ, vì không thủy không chung.

Là nhân mà chẳng phải quả gọi là Phật tánh, vì chẳng phải do nhân sanh, vì chẳng phải quả của Sa môn nên gọi là chẳng phải quả. Vì sao gọi là nhân? Vì là liễu nhân vậy” (Kinh Đại Bát Niết Bàn – Phẩm Bồ tát Sư Tử Hống).

Niết bàn, với bản chất không sanh diệt, không do tạo tác, không thủy không chung, tự thân nó là quả, là tánh Không, là Pháp thân. Ngược lại, Phật tánh, dù là bản chất sẵn có, vẫn còn bị vô minh phiền não che lấp nên chưa phải là quả rốt ráo. Tuy nhiên, Phật tánh được xem là “liễu nhân” – nhân cho sự thấy biết và thành tựu rốt ráo, bởi nó không do nhân nào khác sinh ra.

Phật tánh và sự giải thoát con người khỏi khổ não

Kinh tiếp tục phân tích hai loại nhân: Sanh nhân (nhân sinh ra) và Liễu nhân (nhân thành tựu, nhân làm cho thấy biết). Sanh nhân là yếu tố trực tiếp tạo ra sự vật, ví như đèn chiếu sáng vật. Liễu nhân là yếu tố giúp nhận thức hoặc hoàn thiện, ví như cha mẹ thành tựu sự tồn tại của con cái.

Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tại sao phải tu? 1

Kinh nêu ví dụ:

  • Sáu Ba la mật là nhân sanh ra Vô thượng Bồ đề.
  • Phật tánh là nhân thành tựu Vô thượng Bồ đề.
  • Sáu Ba la mật cũng là nhân thành tựu Phật tánh.
  • Thủ Lăng Nghiêm tam muội là nhân sanh ra Vô thượng Bồ đề.
  • Tám chánh đạo là nhân thành tựu Vô thượng Bồ đề.
  • Tín tâm và Sáu Ba la mật là nhân sanh ra.

Khi nói về nhân, dù là nhân sanh ra hay nhân thành tựu, chúng ta đang xét trên phương diện tương đối và quy ước của thế giới hiện tượng. Mọi sự vật, sự việc, bao gồm cả con đường tu hành, đều cần có cả hai loại nhân này. Ví dụ, Sáu Ba la mật vừa là nhân để “sanh ra” các phẩm hạnh Bồ tát, vừa là nhân để “thành tựu” con đường Giác ngộ.

Mặc dù Phật tánh hay Niết bàn là bản thể vốn có, không cần nhân để sinh thành, nhưng đối với con người, để nhận thức trọn vẹn Phật tánh, cần có các nhân hỗ trợ. Đó là nhân sanh ra các pháp tu tập thanh tịnh tâm và nhân thành tựu để chứng ngộ bản chất vô ngã của Phật tánh.

Điều quan trọng là trong quá trình tu tập, nhân sanh ra và nhân thành tựu luôn song hành. Sáu Ba la mật vừa là nhân để sinh ra các phẩm hạnh, vừa là nhân để thành tựu Phật tánh.

Niết bàn, xét trên chân lý tuyệt đối, là quả tự tại, không cần nhân. Tuy nhiên, trong thế giới tương đối, để đạt đến quả vị ấy, con người phải đi qua các nhân, các phương tiện tu hành, bao gồm cả nhân sanh ra và nhân thành tựu, hay chánh nhân và duyên nhân.

Tìm hiểu thêm: Vinh danh người đã khuất hay xâm phạm đời tư? Ranh giới nào cho ảnh người mất trên mạng?

Kinh giải thích thêm: “Thiện nam tử! Nhân có hai thứ: Một là chánh nhân, hai là duyên nhân. Chánh nhân là như sữa sanh ra sữa đông (lạc). Duyên nhân là như ủ, hơi nóng. Vì sữa đông từ sữa sanh ra nên nói trong sữa có tánh sữa đông.

Thiện nam tử! Phật tánh của chúng sanh cũng có hai thứ nhân: Một là chánh nhân, hai là duyên nhân. Chánh nhân là các chúng sanh, duyên nhân là Sáu Ba la mật”.

Phật tánh có sẵn trong mỗi chúng sanh là chánh nhân. Tuy nhiên, để Phật tánh hiển lộ, cần có duyên nhân là sự tích tập công đức và trí tuệ thông qua các pháp môn tu tập như giới, định, huệ, Sáu Ba la mật.

Chúng ta có thể hình dung Phật tánh như một mỏ vàng nguyên chất, luôn sẵn có. Tuy nhiên, mỏ vàng này có thể bị bao phủ bởi đất đá, tạp chất của vô minh và phiền não. Vàng là chánh nhân, còn các pháp môn tu hành chính là duyên nhân, giúp loại bỏ tạp chất, làm cho vàng thêm tinh khiết và chế tác thành những vật phẩm quý giá.

Trong Đại thừa, duyên nhân không tách rời chánh nhân. Duyên nhân luôn nằm trong và biểu lộ từ chánh nhân Phật tánh. Tu tập Sáu Ba la mật chính là quá trình khai triển và biểu lộ của Phật tánh.

Ví dụ về sữa và sữa đông (lạc) minh họa rõ điều này. Sữa tượng trưng cho tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, còn lạc là tinh chất của sữa, là Phật tánh đã giác ngộ. Điều này cho thấy, trong bản tâm bình thường của chúng sanh đã tiềm ẩn bản tánh giác ngộ (Trí, Tự nhiên trí, Căn bản trí). Bản tánh này, hay chánh nhân Phật tánh, luôn hiện diện. Do đó, ở mức độ rốt ráo, kinh điển đề cập đến “Tất cả thức là Trí”, “Phiền não tức Bồ đề”, “Sanh tử tức Niết bàn”.

Đức Phật dạy: “Phật tánh của chúng sanh chẳng thể phá hoại, chẳng bị lôi kéo, trói buộc. Cũng như trong chúng sanh đều có sẳn hư không, tất cả chúng sanh đều có sẳn hư không, không có chướng ngại, nhưng mỗi người không tự thấy hư không đây. Nếu chúng sanh không có hư không thì làm sao có đến, đi, bước, đứng, ngồi, nằm… thì chẳng sanh ra, chẳng lớn lên. Do nghĩa này nên trong kinh ta nói tất cả chúng sanh đều có hư không giới. Hư không giới này gọi là hư không. Phật tánh của chúng sanh lại cũng như vậy. Bậc Thập trụ Bồ tát thấy được Phật tánh một phần ít như hạt châu kim cương.

Thiện nam tử! Chúng sanh Phật tánh là cảnh giới của chư Phật, chẳng phải Thanh Văn, Duyên Giác biết được. Tất cả chúng sanh vì chẳng thấy Phật tánh nên thường bị phiền não trói buộc mà lưu chuyển trong sanh tử. Thấy Phật tánh thì các phiền não không thể kết tập, trói buộc, nên giải thoát khỏi sanh tử, đắc Đại Niết bàn”.

Hư không, tánh Không, cũng chính là Phật tánh, luôn hiện hữu nhưng thường bị chúng ta bỏ quên. Để hiển lộ Phật tánh, cần gỡ bỏ những lớp màn phiền não và vô minh. Phật tánh còn được ví như “pháp giới”, bao trùm tất cả chúng sanh và thế giới.

Khám phá: Báu vật vô hình: Chìa khóa mở cánh cửa kho báu nội tại

Để đạt được sự bao trùm này, Bồ tát thực hành hạnh nguyện “Tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh”. Chúng sanh là một khía cạnh bí mật của Phật tánh. Khi khai mở được khía cạnh này, Bồ tát chứng ngộ và nhập vào pháp giới Phật tánh, bởi lẽ “thật tướng của chúng sanh chính là Phật tánh”.

Kinh nhấn mạnh: “Vì chúng sanh tức là Phật tánh, Phật tánh tức là chúng sanh, chỉ do có lúc này lúc khác mà có tịnh và bất tịnh” (phẩm Bồ tát Ca Diếp).

Phật tánh như vàng, cần được làm sáng sạch và trang nghiêm thông qua hạnh Bồ tát, trải rộng khắp thế giới. Chúng sanh vừa là mục đích, vừa là phương tiện để Bồ tát thực hành hạnh nguyện của mình, bởi nhờ chúng sanh mà Bồ tát phát tâm Bồ đề và tích tập công đức.

Kinh cũng chỉ rõ: “Phật tánh của chúng sanh chẳng gọi là Phật. Phải nhờ các công đức, nhân duyên (tu tập) hòa hợp nên được thấy Phật tánh, rồi sau mới thành Phật.

Ông nói, chúng sanh đều sẳn có Phật tánh, vì sao lại không thấy? Nghĩa ấy không đúng. Vì sao thế? Vì các công đức nhân duyên chưa hòa hợp vậy.

Do nghĩa này nên ta nói có hai nhân: Chánh nhân và duyên nhân. Chánh nhân là Phật tánh, duyên nhân là phát tâm Bồ đề. Do hai nhân duyên ấy mà được Vô thượng Bồ đề, như từ nơi quặng vàng lấy ra được vàng”.

Phát tâm Bồ đề và các công đức phụ thuộc vào chúng sanh, làm cho chúng sanh trở nên vô cùng quan trọng đối với hành trình của Bồ tát.

Tu tập Giới, Định, Huệ trên nền tảng Phật tánh

Kinh Đại Bát Niết Bàn, trong phẩm Bồ tát Sư Tử Hống, sau khi đề cập đến các loại nhân, đã đi sâu vào hạnh Bồ tát, đặc biệt là tu tập Giới, Định, Huệ như là duyên nhân để hiển lộ chánh nhân Phật tánh.

Tu tập Giới

Đức Phật dạy về việc giữ giới: “Nếu có người giữ giới chỉ vì muốn tự lợi, hưởng thọ sự vui cõi trời, cõi người, mà chẳng vì độ thoát tất cả chúng sanh, chẳng vì ủng hộ chánh pháp vô thượng, chỉ vì lợi dưỡng, sợ ba đường ác, vì muốn được sống lâu, sắc đẹp, sức mạnh, an ổn, vô ngại biện, vì sợ luật pháp của vua, vì sợ tiếng xấu, vì sự nghiệp thế gian, vì những việc như trên mà hộ trì giới luật thì chẳng được gọi là tu tập giới luật.

Thế nào gọi là chân thật tu tập giới luật? Lúc giữ giới nên vì độ thoát tất cả chúng sanh, vì hộ trì chánh pháp, vì độ người chưa được độ, giải thoát cho người chưa được giải thoát, quy y cho người chưa quy y, người chưa nhập Niết bàn làm cho được nhập. Khi tu tập như vậy chẳng thấy giới, chẳng thấy tướng của giới, chẳng thấy người giữ giới, chẳng thấy quả báo, chẳng tìm xem sự hủy phạm. Thiện nam tử! Nếu có thể như vậy, đó gọi là tu tập giới”.

Động lực tu tập giới của Bồ tát xuất phát từ lòng bi nguyện độ thoát chúng sanh và hộ trì chánh pháp, tạo nên sức mạnh to lớn. Giữ giới vì người khác, kết hợp với đại bi, sẽ lan tỏa khắp pháp giới. Tu tập giới này đồng thời với trí tuệ tánh Không, không chấp trước vào giới, người giữ giới hay quả báo.

Tu tập Tam Muội (Định)

“Thế nào gọi là tu tập tam muội? Khi tu chánh định, vì tự độ thoát, vì lợi dưỡng, mà chẳng vì chúng sanh, chẳng vì hộ pháp, vì thấy những lỗi tham dục, sự bất tịnh của thức ăn, của nam căn nữ căn, của chín lỗ trong thân, vì thấy sự bất tịnh của tranh đấu, cãi cọ, đánh đấm, giết hại lẫn nhau. Nếu vì những việc ấy mà tu tam muội thì không gọi là tu tập tam muội.

Thế nào là chân thật tu tam muội? Nếu vì chúng sanh mà tu tập tam muội, được tâm bình đẳng với chúng sanh, vì muốn giúp cho chúng sanh được pháp chẳng thối chuyển, vì khiến chúng sanh được thánh tâm, vì muốn cho chúng sanh đạt được Đại thừa, vì muốn hộ trì Pháp vô thượng, vì muốn khiến cho chúng sanh chẳng thối thất tâm Bồ đề, làm cho chúng sanh được tam muội Thủ Lăng Nghiêm, được tam muội Kim Cương, được Đà la ni, được Bốn Vô ngại, được thấy Phật tánh. Lúc làm những hạnh ấy, chẳng thấy tam muội, chẳng thấy tướng tam muội, chẳng thấy người tu, chẳng thấy quả báo. Nếu có thể như vậy, đó gọi là tu thập tam muội”.

Tu định không vì bản thân mà vì chúng sanh, đạt đến tâm bình đẳng với tất cả. Cái định này bao trùm chúng sanh bởi nó là “Định của Một Tâm”.

Tâm, Phật và chúng sanh
Cả ba không sai khác.
(phẩm Dạ ma cung kệ tán, Kinh Hoa Nghiêm)

Xem thêm: Nhẫn Nhục – Chìa Khóa Bình An Vượt Qua Sóng Gió Cuộc Đời

An trụ trong định Một Tâm, nhận thức chúng sanh và bản thân đồng một Tâm, Bồ tát mới có thể làm lợi lạc cho chúng sanh, thực hiện nguyện lực hy sinh thay chúng sanh chịu khổ.

Tu tập Trí Huệ

“Thế nào là tu trí huệ? Nếu người tu hành suy nghĩ như vầy: Nếu tôi tu trí huệ này thì sẽ được giải thoát, ra khỏi ba đường xấu ác. Đâu có ai có thể làm lợi ích cho tất cả chúng sanh? Đâu có ai có thể ở trong đường sanh tử mà độ mọi người? Phật ra đời thì khó gặp như hoa Ưu Đàm. Nay tôi có thể đoạn các phiền não trói buộc để được quả giải thoát, thế nên tôi phải chuyên cần tu trí huệ, mau chóng đoạn dứt phiền não, sớm được giải thoát. Tu tập như thế thì chẳng gọi là tu tập trí huệ.

Thế nào là chân thật tu tập trí huệ? Người trí nếu quán sát sanh, lão, tử, khổ. Tất cả chúng sanh vì bị vô minh che lấp, chẳng biết tu tập chánh đạo vô thượng. Nguyện thân tôi đây thay cho chúng sanh nhận khổ não lớn. Nguyện cho những tâm bần cùng, hạ tiện, phá giới, những nghiệp tham sân si của chúng sanh đều chồng chất vào thân tôi. Nguyện cho chúng sanh chẳng tham bám, chẳng bị danh sắc trói buộc. Nguyện cho chúng sanh sớm thoát khỏi sanh tử, chỉ để một thân tôi ở nơi sanh tử chẳng chán mệt. Nguyện cho tất cả chúng đều đạt được Vô thượng Bồ đề. Lúc tu như vậy, chẳng thấy trí huệ, chẳng thấy tướng trí huệ, chẳng thấy người tu, chẳng thấy quả báo, đó gọi là tu tập trí huệ.

Thiện nam tử! Người tu tập giới định huệ như vậy thì gọi là Bồ tát. Người không thể tu tập giới định huệ như vậy gọi là Thanh Văn”.

Trí huệ giúp Bồ tát quán sát thế gian, thâm nhập thật tướng của nó. Ban đầu là quán sát chân lý tương đối (sanh, lão, tử, khổ), từ đó phát khởi tâm đại bi. Sau đó, ở cấp độ chân lý tuyệt đối, thấy rõ tánh Không của vạn pháp, nền tảng vững chắc cho đại bi và nguyện lực.

Trong các định như Thủ Lăng Nghiêm, Kim Cương, Hải Ấn, định và tuệ hòa hợp. Định là sự tĩnh lặng, còn tuệ là sự phản chiếu tất cả hiện hữu. Đây là sự hợp nhất giữa tánh Không và đại bi.

Chính nhờ “duyên nhân” là chúng sanh, Bồ tát dần hợp nhất duyên nhân và chánh nhân Phật tánh. Đức Phật Thích Ca đã thành tựu Vô thượng Chánh giác nhờ tu tập Giới, Định, Huệ trên nền tảng Phật tánh.

“Xưa kia trong tám mươi ức kiếp, ta thường giữ giới trong sạch, ít muốn biết đủ, thành tựu oai nghi, khéo tu vô lượng pháp tạng của chư Phật, thuở ấy ta cũng tự biết một cách quyết định rằng mình có Phật tánh. Thế nên nay ta thành Vô thượng Chánh giác, được gọi là Phật, có đại từ đại bi” (Phẩm Tà Chánh).

Đức Phật là hiện thân của Đại Trí, Đại Từ Bi và Đại Hạnh, như lời kệ tán thán:

Như Lai nhiều kiếp hành khổ hạnh
Vì lợi ích quần sanh chúng con
Được thành đạo Vô thượng Chánh giác
Đồng thương chúng sanh như con một.

Ban cho pháp lành thuốc vô thượng
Y sư trị bệnh là Y vương
Mây đại Từ Bi che chúng sanh
Mưa Huệ cam lồ rưới khắp cả.

Ánh sáng huệ nhật phá vô minh
Chúng sanh mê mờ thấy Thánh đạo
Nguyệt chiếu Từ quang soi sáu nẻo
Ba cõi được nhờ thoát các khổ…

(Phẩm Ứng Tận Hoàn Nguyên)

Hy vọng những chia sẻ trên đã giúp bạn hiểu rõ hơn về hành trình tu tập trên nền tảng Phật tánh. Hãy tiếp tục khám phá sâu hơn về giáo lý này trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang