Quần áo, vật dụng người thân qua đời: Nên xử lý thế nào cho đúng?

nen lam gi voi quan ao vat dung cua nguoi than vua qua doi 4 1621 1
0
(0)

Khi người thân ra đi, câu hỏi về cách xử lý tài sản, đặc biệt là quần áo còn sót lại, trở thành nỗi băn khoăn lớn, nhất là khi có những lời khuyên trái chiều về việc đốt hay giữ lại. Liệu những vật phẩm trần gian có thực sự mang lại sự ấm no cho người ở thế giới bên kia, hay có cách nào khác để tưởng nhớ và vỗ về người đã khuất một cách trọn vẹn? Website Chia sẻ Đạo Phật sẽ cùng bạn tìm hiểu về vòng luân hồi và những quan niệm tâm linh xung quanh vấn đề này.

Việc cúng 49 ngày cho người đã khuất mang ý nghĩa gì?

Câu hỏi: Gia đình tôi vừa có người thân qua đời, việc lo liệu tang lễ khiến tôi rất phiền lòng. Gia đình tôi có điều kiện khá giả, người thân đã mất để lại nhiều quần áo hàng hiệu. Mọi người khuyên nên đốt hết quần áo này, thay vào đó là mua quần áo vàng mã để đốt, với mong muốn người thân ở thế giới bên kia sẽ không bị đói rét, có đầy đủ những gì họ cần. Nếu không đốt, họ sẽ về đòi. Có gia đình gần đó, người thân đã khuất về báo mộng rằng rất đói rét, cần đốt quần áo vàng mã, nhà cửa, xe hơi, điện thoại iPhone, tiền đô la và cả người hầu. Gia đình họ đã làm theo và đốt rất nhiều. Tôi không hiểu việc đốt vàng mã cho người đã khuất như vậy có đúng không, và liệu người âm có nhận được không? Quần áo của người đã mất có nên đốt đi không? Nếu cho người khác mặc thì người đó có bị sao không? Có cần phải làm lễ cúng, trì chú hay đọc kinh gì để hóa giải những vấn đề này không? Tôi xin cảm ơn Sư.

Giải đáp:

I. Vòng Luân Hồi Sinh Tử

Nên làm gì với quần áo, vật dụng của người thân vừa qua đời? 1

Nói đến cái chết là nói đến sự sống. Có sống có chết, có sinh có diệt, có hoại diệt rồi tiếp tục tái sinh theo nghiệp thức.

Bàn về lễ tang là bàn về vấn đề cốt lõi của con người: “Sống chết”. Nói đến chết tức là nói đến sống, có sống có chết, có sinh có diệt, có hoại diệt rồi tiếp tục tái sinh theo nghiệp thức. Vấn đề sinh tử là quy luật tự nhiên, luôn hiện hữu và đồng hành cùng con người. Sự sống và cái chết nối tiếp nhau như một mắt xích, giống như hạt giống nảy mầm thành cây, cây lại cho ra trái và hạt giống, con người cũng cứ thế chuyển nối nhau sinh sinh hóa hóa không ngừng nghỉ (theo Kinh Na Tiên Tỳ Kheo). Đức Phật đã chỉ dạy rất chi tiết về thân ngũ uẩn, về quy luật hợp tan của vật chất. Nhờ hiểu và quán chiếu về vô thường, khổ, không, vô ngã, con người có thể giảm bớt đau khổ, hướng đến sự an lạc.

Theo Phật giáo, thân người được hình thành từ tứ đại (hoặc lục đại): đất (thịt, gân, xương), nước (máu mủ và các dịch thể), lửa (hơi nóng), gió (hơi thở), thức đại (sự hiểu biết), không đại (trí tuệ). Sự hình thành rồi tan rã là quy luật tất yếu. Do vô thường, ta thấy có sự sống rồi lại có cái chết. Do vô ngã, ta biết thân này là duyên hợp, là huyễn hóa, không tồn tại cố định, và cái chết không theo ý muốn. Cuộc đời con người chỉ tồn tại trong khoảnh khắc (sát na vô thường), trong một hơi thở. Thân người luôn nằm trong quy luật sinh, trụ, dị, diệt. Có sinh ắt có tử, có sinh tất có diệt. Chúng ta không thể đòi hỏi gì hơn khi sự sống mang lại niềm vui, còn cái chết lại đem đến khổ đau. Con người là trung tâm của sự sống, là nơi có trí tuệ, có huệ lực. Thiếu đi ý thức, con người dù sống cũng như xác không hồn. Ví như chiếc xe, dù được lắp ráp bởi trí tuệ con người, nhưng nếu không có người điều khiển, nó chỉ là một khối sắt vô tri.

Trong suốt hành trình trên hành tinh này, con người là trung tâm của mọi suy tư, tranh luận. Những cuộc tranh luận này có thể dẫn con người đến chân thiện mỹ, nhưng cũng có thể dẫn đến áp lực, o ép, ức chế và hận thù kéo dài. Nếu thiếu vắng tôn giáo và trật tự, con người sẽ mất phương hướng để đối phó với thiên tai, địch họa. Tôn giáo mang lại trí tuệ và đạo đức. Có trí tuệ, con người mới tìm được lối thoát cho bản thân, cho cộng đồng và xã hội, vượt qua khổ đau phiền não trong hiện tại, từ đó có tâm trí để giải quyết các vấn đề chung.

II. Hành Trình Sinh Khởi

Trước hết, chúng ta hãy cùng tìm hiểu về hành trình con người khi chào đời và đến với thế gian. Cuộc sống con người vô cùng đa dạng và phong phú. Ngay từ khi lọt lòng mẹ, người thân đã lo lắng, cầu mong mọi điều tốt lành cho cả mẹ và bé. Họ đặt tên cho con, làm giấy khai sinh, nhập hộ khẩu, mong muốn con có một vị trí vững vàng trong xã hội. Cha mẹ luôn dành thời gian chăm sóc, bảo vệ con cái, tổ chức lễ đầy tháng, thôi nôi. Cha mẹ luôn mong muốn con cái được khỏe mạnh, khôn lớn nên người, có tương lai tươi sáng. Tình cha nghĩa mẹ luôn được ca ngợi qua bao thế hệ:

“Đi khắp thế gian không ai sánh bằng mẹ

Gian khổ cuộc đời ai nặng gánh hơn cha.

Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ

Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha.

Tảo tần sớm hôm mẹ nuôi con khôn lớn

Đưa tấm lưng gầy cha che chở đời con”

(Diễn đàn Lê Quý Đôn – Chúc Khả)

Xem thêm: 2025: Quý Sửu 1973 Chọn Đúng Đối Tác, Tài Lộc Thăng Hoa Vượt Trội

Trẻ thơ khi mới sinh ra là trung tâm của gia đình. Dù giàu hay nghèo, cha mẹ đều lo cho con ăn học, mong con có chí khí, thông minh, nên thân nên phận, gánh vác việc đời, việc xã hội, việc nhà. Cuối cùng, cha mẹ mong con đến tuổi thành nhân, dựng vợ gả chồng, mong con hạnh phúc an vui. Con trai nối dõi tông đường, con gái làm rạng danh gia phong:

“Dạy cho con biết việc đời

Đi trong nhân thế rạng ngời gia phong

Trai thì nối dõi giống dòng

Gái thì đức hạnh sạch trong vẹn toàn”

Sự ra đi

Nên làm gì với quần áo, vật dụng của người thân vừa qua đời? 2

Sự ra đi mang lại sự tiếc nuối, đặc biệt là với những người đã được đào tạo thành nhân, đang có trách nhiệm phụng sự gia đình và xã hội.

Khi có người thân qua đời, gia đình gọi đó là “hữu sự”, tức là có tang sự. Sự mất mát người thân là một bước ngoặt lớn trong đời, mang lại đau đớn vì sự chia ly, nhất là những cái chết bất đắc kỳ tử, chết trẻ, chết oan. Đối với những trường hợp người thân qua đời liên tiếp, gia đình sẽ cảm thấy lo âu, sợ hãi rằng gia đình thiếu đức, thiếu phước.

Sự ra đi mang lại sự tiếc nuối, đặc biệt là với những người đã được đào tạo thành nhân, đang có trách nhiệm phụng sự gia đình và xã hội. Cái chết đột ngột, không thể lường trước, chắc chắn sẽ khiến người thân, dù giàu hay nghèo, đều phải lo liệu tang lễ đặc biệt. Người Á Đông nói chung, người Việt nói riêng, coi việc lo tang chay cho người đã khuất như một vinh dự lớn lao. Lễ tang là dịp để mọi người gặp gỡ, phân định vai vế trong gia đình, giới thiệu những người thân quen. Người chủ tang được coi là người có quyền lực và quan trọng nhất trong buổi lễ. Người đã khuất được bày biện bàn thờ trang nghiêm, mọi người đến viếng, dâng hương, hoa, tiền phúng điếu.

Ngày nay, theo nghi lễ ở miền Bắc, miền Trung và Nam, việc phúng viếng là rất quan trọng. Người phúng viếng dâng hương, tưởng niệm người quá cố, sau đó bỏ tiền phúng điếu vào thùng kính. Con cháu quỳ lạy đáp lễ khi có người xá hay lạy. Việc cúng cơm cho người đã khuất cũng không dám chậm trễ, sợ vong hồn người thân đói khát. Sau lễ tang, người có trách nhiệm xây mộ, kiến thiết nhà mồ trang trọng, sạch sẽ, uy nghi, thể hiện lòng hiếu thảo của con cháu. Tuy nhiên, cũng có những gia đình hoàn cảnh khó khăn, đau lòng khi người chết không có ai hương khói cúng quảy.

Từ việc tế sống đến việc tế chết, mừng sinh nhật hay tang chế đều ảnh hưởng lớn đến đời sống con người. Từ vua chúa đến thứ dân, từ giàu đến nghèo, ai ai cũng có bổn phận với trời đất, tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Việc thiết lập đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc ở cố đô Huế vào thế kỷ 17, hay việc người dân xây dựng từ đường, đều mang ý nghĩa tôn trọng đạo trời đất, đạo ông bà, có ảnh hưởng sâu sắc đến tâm linh, tôn vinh các giá trị đạo đức như trung, tín, lễ, nghĩa, hiếu, đễ, liêm, sỉ.

Người Việt học Phật có câu: “Vạn hạnh Bồ Tát hiếu nghĩa vi tiên”. Do quá trình du nhập và hội nhập, lễ tang theo nghi thức Phật giáo luôn có sự pha trộn với văn hóa đa phương, trong đó có tư tưởng “kính già yêu trẻ” của Khổng Tử. Người dân luôn kính thờ tổ tiên, những người đã khuất. Trong sách Trung Dung có dạy: “Kính trọng người chết cũng như người còn sống, trọng người đã mất như người còn sống”. Có câu:

“Sự tử như sự sanh,

Sự vong như sự tồn”,

Nghĩa là sự chết cũng như sự sống, sự mất mát cũng như sự tồn tại. Trong chốn thiền môn, chư tôn đức thường giảng câu: “Dương gian Âm phủ đồng nhất lý”. Không đâu như người Á Đông, đặc biệt là người Việt Nam, dù đi xa quê hương, dù quên đi nơi chôn nhau cắt rốn, dù trải qua chiến tranh tàn khốc hay đi theo những tư tưởng xa lạ, họ vẫn luôn thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ ruột thịt. Họ luôn hoài niệm về cội nguồn, dòng máu huyết thống không bao giờ bị lãng quên.

III. Lễ Tang

Tang chế là việc hiếu, là cơ hội để con cháu báo ân báo hiếu. Tang chế diễn ra trong gia đình khi có người thân qua đời. Lễ tang quan trọng theo sự ra đi của người thân, dù là người lớn hay trẻ nhỏ, ông bà, cha mẹ hay con cái, dù giàu hay nghèo, nam hay nữ, từ vua quan đến thứ dân đều không tránh khỏi quy luật sinh lão bệnh tử. Cái chết là sự lui về quá khứ, chuẩn bị cho một cuộc sống mới ở tương lai. Chết như người cởi bỏ chiếc áo cũ và tái sinh, như người mặc chiếc áo mới. Sự ra đi của người thân luôn mang lại nỗi buồn sâu sắc trong gia đình, vì đó là sự chia ly vĩnh viễn, là sự vắng bóng đột ngột của một người thân yêu, một cuộc hành trình không bao giờ trở lại.

Theo từ điển Việt Nam của Thanh Nghị, “Lễ tang” là một cuộc lễ có vẻ ảm đạm, tang tóc, sầu bi. Hình thức của lễ tang thường mang không khí buồn thương. Vào thập niên 1950, tại quê hương của tác giả, trong một lễ tang gia giáo, tại ấp Mỹ Thạnh, xã Hòa Định, Quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho, có người thân là hiền thê 37 tuổi qua đời. Ông chồng cũng khoảng 37 tuổi, vừa đau khổ khóc lóc, vừa nhờ người bạn thân khéo tay dùng kéo cắt mo cau thành một đàn chim dán vào mành trúc, tạo thành cảnh vật đàn chim tung cánh giữa khung trời đang bay về núi, những con cò đi ăn đêm đậu lại cành cây lông cánh ủ rũ. Lễ tang này thật lớn, có nhiều bà con họ hàng thân thuộc, hàng xóm láng giềng tham dự đông đảo, các con các cháu đều tỏ lòng thương tiếc, khóc lóc bi ai, kêu gào thảm thiết bày tỏ nỗi lòng.

Đức Phật Niết Bàn, chư Trưởng lão cảm thương nhớ Phật, để kim quan của Ngài suốt một tuần lễ, sau khi kết tập Kinh Luật lần thứ nhất xong mới hỏa thiêu (Trích đoạn Lời tựa Nhị Khóa Hiệp Giải). Lúc bấy giờ có 7 vương quốc lân bang và Vương quốc Câu Thi na đến canh chừng an ninh nghiêm ngặt, sau khi hỏa thiêu thâu lấy Xá lợi (xương cốt) vô số. Có ông Trưởng giả Hương Tánh đứng ra ổn định cuộc lễ và phân Xá lợi Phật chia cho tám vương quốc thờ tại quê hương của xứ mình, tháp thứ chín thờ cái bình, tháp thứ mười thờ tro hài cốt, và tháp thứ mười một thờ tóc Phật khi Ngài còn tại thế gian. Đặc biệt, Phật đản sanh, xuất gia, thành đạo, nhập Niết-Bàn đều nhằm vào ngày mùng 8 tháng hai âm lịch. (Thư viện Hoa Sen – Toàn Không)

Tang lễ của các vị vua chúa rất rườm rà, tốn kém công sức thiên hạ. Như lễ tang thời nhà Lê đã được thương nhân Pháp Jean Baptiste Tavernier thế kỷ 17 ghi lại. Khi vua Lê Hy Tông băng hà thì người ta đem ướp tử thi ngài ngay và đặt lên long sàng. Trong sáu mươi lăm ngày dân chúng mới được phép chiêm ngưỡng, vẫn hầu hạ, dâng cơm như khi vua còn sống. Cơm cúng xong thì một nửa đem biếu các Nhà Sư và một nửa đem bố thí cho người nghèo đói. Khi ngài vừa tắt nghỉ thì chúa Trịnh báo tin ngay cho các quan đầu các đạo và định thời hạn để tang là bao lâu. Thường thì quan võ và quan án ba năm; tôn thất sáu tháng; triều thần sáu tháng và dân sự ba tháng. Trong ba năm để tang vua, bỏ hết các cuộc vui, trừ lễ đăng quang tân quân. Những món ăn dâng vua mới đều đựng trong đĩa phủ sơn đen; vua cạo đầu và đội mũ gai. Các hoàng thân và bốn mươi quan đại thần cũng để tang như vậy cho đến khi rước linh cữu xuống thuyền đem đi an táng một nơi đã định mới thôi. Ba quả chuông đặt trên một ngọn tháp cũng đánh mãi cho đến khi linh cữu rước xuống thuyền. Ba ngày sau các quan mới được vào ai điếu tiên vương và đến ngày thứ mười trở đi dân sự mới được vào chiêm bái.

Lễ tang các cụ già thường có đông con cháu, tang chủ rước quý Sư Thầy thuộc hàng giáo phẩm, mua áo quan loại “hàng nhất” bằng gỗ quý ở một nhà mai táng nổi tiếng. Thời gian lễ tang kéo dài cả tuần lễ để con cháu ở xa về. Việc đãi đằng ở nông thôn xưa thì giết heo, bò, trâu đãi khách đến viếng lễ tang. Việc tiếp tân cũng có nhiều hình thức đối với các bậc ông Cố, ông Cả, ông Chủ trong làng đến phúng viếng có khác, các hiệp hội, những người thân, sui gia, bạn bè đến phúng viếng tiếp tân hình thức nhẹ hơn những người già cả. Khi có người phúng viếng thì nhạc lễ trỗi lên báo hiệu và rước người làm lễ phúng viếng. Người chết là Phật tử thì ngoài bàn vong còn có bàn thờ Phật bên cạnh. Các chùa đến viếng nếu có tụng kinh thì tụng ở bàn Phật, gia chủ sẽ trao cho vị chủ lễ 4 cây nhang, một cây dâng tưởng niệm trước bàn vong, còn 3 cây niệm hương tại bàn Phật, phía đại chúng mỗi thầy 2 cây nhang một cây tưởng niệm tại bàn vong, một cây dâng tại bàn Phật. Tùy theo lễ tang, lễ có ít người thì quý Sư Thầy thông báo gia chủ sẽ tụng một thời kinh ngắn cầu nguyện cho hương linh siêu sanh lạc quốc, nếu có đông người đến viếng thì chỉ chia buồn vài lời an ủi với gia chủ. Lễ tang ngày nay đối với các cụ già thì còn chôn cất theo đất nhà, nhưng cũng phải cầu xin lắm với cơ quan thẩm quyền địa phương mới cho phép, còn lại phần đa là thiêu hóa rải trong không gian, rải xuống sông biển, hoặc gửi vào chùa phụng thờ.

Khám phá: Bàn thờ Canh Thân 1980: Bí quyết hút tài lộc, an yên vượng khí

Thọ tang

Ở Việt Nam, con cháu thường để tang ông bà, cha mẹ 3 năm (thực tế là 24 tháng). Trong thời gian này, khi cúng vong tiến linh, con cháu phải mặc đồ tang. Ngoài ra, người thọ tang dù đi bất cứ nơi đâu, hay chỉ ra khỏi nhà đều phải đeo một miếng tang nhỏ màu đen hoặc trắng, độ chừng 2 cm x 1,5 cm trước ngực hoặc trên chiếc nón. Tang có khi là màu đen, tang màu trắng. Trong nhà Phật, người đệ tử xuất gia thọ tang Thầy Tổ màu vàng. Theo một vị thầy cúng nói về việc thọ tang, con cháu để tang ông bà, tính theo bên Nội, thuộc dòng họ cùng huyết thống, như sau:

  • Con trai và con gái thọ tang trắng.
  • Con trai trưởng nam thọ tang trắng đội bích cân, có chống gậy (Trong gia đình chỉ có một trai dù là trai đầu lòng, ở giữa hay trai út cũng gọi là trưởng nam).
  • Con rể, con dâu thọ tang trắng.
  • Cháu nội thọ tang trắng có chấm đỏ.
  • Cháu ngoại thọ tang trắng có chấm xanh.
  • Cháu cố thọ tang trắng có chấm vàng.

Việc thờ cúng, kỵ giỗ có phù hợp với giáo lý Phật giáo?

Xem lịch số ngày giờ, cúng cơm cho người chết

Người thân qua đời, dù có đi coi thầy nhằm ngày tốt hay xấu cũng chỉ là thời gian không còn cân đối nữa để gia đình quan tâm. Coi là coi vậy thôi chứ hiện nay lịch số thế gian không còn phù hợp và đúng nữa do ảnh hưởng thời tiết khí hậu diễn biến vô chừng, có cả sự nóng lạnh vô chừng theo hiện tượng Elnino, hiệu ứng nhà kính, nạn phá rừng, xây đập thủy điện xen vào… các hiện tượng. Sự tiến bộ của khoa học làm cho lịch số trở thành vô nghĩa, chệch hướng sai với ngày đêm, năm tháng nếu có xem cũng chỉ là nhờ thầy xem giúp dùm vậy thôi. Vả lại, lịch số ở mỗi nơi có khác nhau, như ở Tây bán cầu tính một thế kỷ là 100 năm, ở Đông bán cầu tính một thế kỷ là 60 năm, người Maya một năm có 18 tháng, một tháng có 20 ngày, như vậy lịch số có sự trùng lắp với nhau chăng? Chẳng lẽ người Tây phương, người Á đông hay người Maya, người Hồi giáo sẽ chết vì những ngày xấu của đạo bên này hay xấu của đạo bên kia? Việc thầy cúng coi ngày giờ năm tháng hiện nay có pha trộn giữa đông và tây, khi thì Việt, khi thì Trung, khi thì nương vào các tôn giáo nên không rõ ngày giờ nào là chuẩn, là xấu là tốt, không còn hiệu lực.

Nhà Phật khuyên bà con Phật tử không nên khóc cho người đã chết, vì làm chấn động thần thức người chết khó mà siêu thoát. Người Hoa kiều ở Chợ Lớn rất sợ người chết dù đó là ông bà cha mẹ, nhưng khóc thì khóc cho người chết dữ lắm, có khi tang chủ mướn người khóc hộ. Năm 1967 tác giả bài này có kết hợp đưa lễ tang người Hoa qua đời tại bệnh viện Chợ Rẫy, xe tang chỉ đưa từ nhà xác bệnh viện đến nghĩa trang. Khi đoàn tang lễ đi ngang qua nhà, tang chủ không cho đem vô nhà vì sợ ma mới nhập vào nhà, chỉ cho xe tang đi chậm chứ không được ghé, bên cạnh có người đi theo “khóc mướn” thật thảm thiết bi ai vô cùng.

Theo sách Liễu sanh thoát tử có hai dạng người mau đầu thai: Một là người niệm Phật chánh niệm khi lâm chung liền vãng sanh về cõi Phật A Di Đà, hai là người làm việc ác trong thế gian, khi thác liền theo nghiệp thức tái sanh vào kiếp khác ngay để trả quả báo. Số còn lại trung ấm thân chờ đợi thọ cảm nghiệp thức mà lần lượt tái sanh, tức 49 ngày.

Trong những ngày lễ tang, việc cúng cơm do Thầy chủ lễ tang thực hiện. Lúc bấy giờ tang chủ quỳ trước linh án để cúng dâng cơm cho vong linh người thân. Sau khi an táng có các lễ khai mộ (Nếu hỏa thiêu thì giảm việc khai mộ), lễ cúng thất (7 ngày), lễ cúng tuần chung thất (49 ngày), cúng 100 ngày, cúng giáp năm, lễ cúng mãn tang (Mãn khó, xả tang). Trong thời gian 3 năm thọ tang, hằng ngày con cháu cúng cơm 3 lần (Sáng, trưa, chiều) cho người qua đời không được sai sót, bỏ cuộc, cũng có thể cúng cơm hai lần trưa và chiều. Riêng buổi sáng có khi cúng nước trà, cà phê, cúng bánh trái theo sở ý của người chết lúc sanh tiền.

Xử lý vật dụng của người chết

Có những người chết còn để lại nhiều động sản, bất động sản giá trị được người thân tiếp nhận và chia sẻ đồng đều, có chia sẻ mới hòa thuận lẫn nhau trong anh chị em ruột thịt. Như vậy tất cả quần áo mới may của người chết chưa mặc vẫn để lại cho người sau mặc không phải trở ngại, có người cũng chẳng để lại tài sản nào ở thế gian. Nhìn chung cũng chẳng ai muốn mặc đồ của người chết, lý do “sợ người chết” hoặc mặc không vừa, cũng không ai mà dành quần áo của người chết.

Rất cần thiết đến người ruột thịt làm việc tắm rửa lau sạch cho người chết. Trường hợp người chết không có người thân thì mới nhờ đến người láng giềng thân thiết chăm sóc. Người chết phải được mặc quần áo mới, nam áo dài khăn đóng, nữ áo dài, Phật tử mặc áo vạt hò, áo tràng lam hoặc nâu. Quý Sư Thầy đến thăm dạy đọc bài:

“Tẩy dục thân thể

Đương nguyện chúng sanh

Thân tâm vô cấu

Nội ngoại thanh khiết

Án Bạt chiết ra, não ca tra tá ha (3 lần)”

Sau đó đem toàn bộ quần áo cũ, đồ bệnh nhất là bệnh truyền nhiễm, tất cả những vật dụng cũ không cần thiết, giường chõng thiêu hóa, đọc bài:

“Y quấn khâm phục tệ thân hình

Tìm hiểu thêm: Mười Danh Xưng Đức Phật: Chìa Khóa Mở Cánh Cửa Giác Ngộ

Ngự thử phong hàn bảo vong vinh

Nục thể khinh an vô chướng ngại

Tây phương tưởng niệm đắc siêu sanh

Nam mô Giai Bảo Mãn Bồ Tát Ma ha tát (Đốt quần áo)”

Lễ tang là việc buồn. Ngày nay đôi khi xảy ra việc buồn gấp trăm lần về tình cảm anh em. Nguyên nhân từ mỗi gia đình trước giờ nhà ai nấy lo, tình cảm ruột thịt không còn sâu đậm như thời thơ ấu, hoặc chấm dứt tình cảm ruột thịt do có dâu và rể ở chung nhà. Một ít gia đình cha hay mẹ chết chưa đến ngày đi chôn, mà không lo việc tụng niệm cầu cho cha mẹ siêu sanh lạc quốc, lại nóng vội mời thừa phát lại đến làm giấy tờ thưa kiện lẫn nhau, anh em đòi chia động sản bất động sản nhanh gấp, tranh giành tài sản với nhau, thật đau buồn.

Việc đốt vàng mã, hình nhân thế gian

Nên làm gì với quần áo, vật dụng của người thân vừa qua đời? 3

Theo nhận định của người Phật giáo thì tục đốt vàng mã là phi Phật pháp, là một hủ tục có tính du nhập, học đòi, bắt chước, chứ không phải phong tục tập quán của một dân tộc, hủ tục được một vài người Trung Hoa địa phương bày vẽ.

Việc đốt vàng mã, người thế gian (ở phương Đông), đốt hình nhân (ở phương Tây), hình nộm (của người làm nông vụ) là hủ tục trong các thời đại phong kiến xưa, xuất phát từ những câu chuyện dân gian địa phương, thuộc loại truyền khẩu, không có thuyết minh. Một đôi khi sự việc trở thành phong tục tập quán, nhắc lại sự kiện lịch sử, nhưng dù phong tục tập quán đôi khi cũng không còn phù hợp với đời sống tiến bộ hiện tại, như:

  • Người Ecuador năm nào cũng làm những hình nhân to hơn người thật để đốt đêm giao thừa.
  • Dân Anh quốc hằng năm cứ mùng 5 tháng 11 lại nổi lửa mừng ngày Guy Fawkes khủng bố hụt thượng viện năm 1605.
  • Ở Hoa Kỳ hằng năm, có hàng chục nghìn người tụ tập lại giữa sa mạc, lột truồng ra rồi đốt một người gỗ tượng trưng cho “The Man”, những kẻ áp bức trong xã hội này, và lấy đấy làm vui và cho là việc hay lắm.
  • Người dân đảo Faroe ở Đan Mạch hằng năm dùng thuyền lùa vài trăm chú cá voi vào một eo biển hẹp, sau đó lấy mũi lao đâm chết. Họ coi thịt cá voi là một phần quan trọng của đời sống văn hóa và sẽ không từ bỏ nó.

Thời phong kiến các vua chúa như Tần Thủy Hoàng (259-210) trước công nguyên, vừa lên ngôi năm 13 tuổi. Đến năm 22 tuổi đã cho xây cung điện thu nhỏ ở âm phủ, tạo thế đứng cho mình sau khi chết vẫn còn có cuộc sống như ở dương gian, vàng son như lúc sống tiền. Có người đem theo cả tài sản, thê thiếp thật chôn theo, thật đau lòng và hao tốn (Thời nhà Chu, năm 1022 trước tây lịch). Tục lệ này được thực hiện tại các vùng Đông Á, Nam Á, Đông Nam Á, nhất là người dân Phù Nam, người Khmer, khi vua băng hà hoàng hậu hay phu nhân phải được chôn theo để tỏ lòng tôn kính thủy chung.

Trong sử học Việt Nam có Công nữ Ngọc Vạn làm Hoàng hậu thời vua Chetta đệ nhị, vương quốc Campuchia. Sau khi nhà vua băng hà, bà phải bị chôn theo vua, nhưng sau đó bà tìm cách trốn được về nước Đại Việt và đi tu Phật tại Long Cốc Thượng Tự, Tổ đình Linh Sơn, núi Dinh (Bà Rịa). Sau đó đến tu tại núi Chứa Chan, cuối đời bà đến tu và hộ trì tại Tổ đình Quốc Ân Kim Cang và qua đời tại đây, hiện nay tháp mộ bà vẫn còn. Công nữ Ngọc Vạn đã tìm cách thoát chết không phải bị chôn sống theo nhà vua.

Theo nhận định của người Phật giáo thì tục đốt vàng mã là phi Phật pháp, là một hủ tục có tính du nhập, học đòi, bắt chước, chứ không phải phong tục tập quán của một dân tộc, hủ tục được một vài người Trung Hoa địa phương bày vẽ. Theo sách Trực ngôn cảnh giáo, năm Văn Công thứ 4, vua Tấn Mục Công, tên là Khắc Nhâm băng hà. Ba anh em họ Tử Xa được vua yêu thương nên bị chôn theo. Nhân dân trong nước thấy vậy rất thương tiếc nên nghĩ ra phương cách tìm vật khác để thay thế, vật ấy được dùng bằng cỏ, bằng gỗ.

Năm Nguyên Hưng 105, đời Hán Hoa, ông Thái Lĩnh chế biến hình người chôn theo bằng hình nộm, ông Vương Du làm vàng bạc bằng giấy, mọi người sử dụng theo. Việc làm vàng mã lúc bấy giờ chỉ có ở trong cung cấm vua chúa và các quan.

Về sau, năm 762 đời nhà Đường, vua Đường Đạt Tôn có nhà Sư là Đạo Tăng nhân ngày rằm tháng bảy cho làm hàng mã xe cộ nhà cửa, vàng bạc bằng giấy phổ biến trong dân gian. Vua nhà Đường tùy thuận Phật giáo cho phép phát hành, từ đó có tục lệ đốt vàng mã trong dân chúng.

Vương Luân một thương nhân có mưu đồ, cho người giả người bệnh rồi chết, được tẩn liệm trong quan tài, có một kẻ hở để đưa nước và đồ ăn vào cho người “giả bệnh chết” sử dụng. Lúc đó nhiều người đến phúng viếng lễ tang, ông Vương Luân tổ chức nhiều người đem những đồ vàng mã, hình nhân, tiền vàng bằng giấy đến cúng đốt cho người nằm trong quan tài, bỗng dưng quan tài nhúc nhích và sống lại. Từ đó mọi người đồn đãi từ gần đền xa, ông Vương Luân có dịp bán đắt “đồ vàng mã” (theo Mạc Vi – Xã hội và Gia đình – Web Báo Tiền phong, 30/7/2014). Tục đốt vàng mã trong dân gian Trung Quốc có từ đây.

Như vậy tục đốt vàng mã là hủ tục xưa xa, có động thái dối trá lường gạt mọi người vô cùng phải không các bạn:

“Việc tang việc lễ nói rồi

Việc nào nên tránh, việc thôi không làm

Tu theo chánh pháp Phật ban

Hủ tục nên bỏ nhẹ nhàng tấm thân”

Những câu chuyện ẩn chứa sau nét đẹp văn hóa của tổ tiên

Tìm hiểu sâu hơn về những quan niệm tâm linh liên quan đến cái chết và cách ứng xử phù hợp với giáo lý Đạo phật sẽ giúp bạn có cái nhìn đúng đắn và an lạc hơn.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang