Khám phá chiều sâu văn hóa Việt qua ba dịp Rằm quan trọng, đặc biệt là Rằm tháng Mười, còn gọi là Hạ Nguyên, với những ý nghĩa sâu sắc về sự trừ tai, diệt ách và lễ tạ ơn mưa thuận gió hòa. Nơi đây, Chia sẻ Đạo Phật hy vọng bạn sẽ tìm thấy sự an lạc và kết nối với cội nguồn dân tộc.
Ý nghĩa và nguồn gốc của Rằm tháng Mười (Hạ Nguyên)
Rằm tháng Giêng, còn gọi là Thượng Nguyên, là dịp vua Nghiêu ban phước lành cho nhân gian. Rằm tháng Bảy, hay Trung Nguyên, gắn liền với việc vua Thuấn xá tội cho các vong hồn, đồng thời là ngày Vu Lan Thắng Hội. Cuối cùng, Rằm tháng Mười, tức Hạ Nguyên, là ngày vua Hạ Vũ giúp dân trừ tai ách.
Câu ca dao quen thuộc:
Rằm tháng Giêng, ai có tiền thì quảy,
Rằm tháng Bảy, kẻ quảy người không,
Rằm tháng Mười, mười người mười quảy
cho thấy Rằm tháng Mười là dịp mà mọi gia đình đều thực hiện lễ cúng.
Lễ mừng lúa mới – Tết cơm mới
Lý do Rằm tháng Mười trở nên đặc biệt là vì nó còn được biết đến là lễ mừng lúa mới, hay Tết cơm mới. Đây là một trong những lễ hội cổ truyền quan trọng nhất của người Việt, đặc biệt là ở các vùng cao. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, lễ mừng lúa mới có ý nghĩa tương đương với Tết Nguyên Đán của người Kinh.
| Niềm vui trong Lễ hội Tết lúa mới của đồng bào Tây Nguyên. |
Sau khi vụ lúa tháng Tám kết thúc, công việc đồng áng tạm lắng. Lúa đã đầy kho, rơm rạ được chất đống tươm tất. Trong tiết trời đông giá rét, một vụ mùa bội thu mang đến niềm vui và sự biết ơn đối với trời đất, mưa thuận gió hòa, cũng như sự bình an không bị thiên tai tàn phá.
Vào ngày Rằm tháng Mười, người dân dâng lên tổ tiên, ông bà, thổ thần và các vong linh những sản vật thu hoạch được. Các món ăn truyền thống như xôi, chè, bánh ít, bánh cúng, bánh bột lọc, bánh gạo… được chế biến theo phong tục địa phương.
Ngày Rằm tháng Mười được xem là ngày lễ tạ ơn, một trong Tứ trọng ân mà Đức Phật đã dạy. Sau lễ cúng, các gia đình sum họp quanh bếp lửa ấm áp, cùng nhau thưởng thức bữa cơm đoàn tụ. Chính vì mọi nhà đều có thành quả để dâng cúng và tạ ơn, nên mới có câu “Rằm tháng Mười, mười người mười quảy”.
Vua Hạ Vũ và nguồn gốc của Hạ Nguyên
Vua Hạ Vũ là một nhân vật huyền thoại trong lịch sử Trung Quốc cổ đại, nổi tiếng với công lao trị thủy và thành lập nhà Hạ. Ông có tên khai sinh là Tự Văn Mệnh, thường được gọi là Đại Vũ. Tuy nhiên, các ghi chép lịch sử về triều đại của ông còn hạn chế, phần lớn thông tin đến từ các câu chuyện truyền miệng. Sau khi băng hà, ông được tôn vinh với danh hiệu “Đại”. Trong Đạo giáo, vua Hạ Vũ được tôn là Thủy Quan Đại Đế, và ngày sinh của Ngài được xem là Tết Hạ Nguyên.
Giá trị tâm linh của Rằm tháng Mười ngày nay
Ngày nay, Rằm tháng Mười, hay Rằm Hạ Nguyên, đã trở thành một ngày lễ mang đậm giá trị tâm linh đối với người dân Việt Nam. Đặc biệt đối với các Phật tử, đây là dịp để hướng tâm tu tập, cầu nguyện hồng ân gia hộ từ chư Phật mười phương, sự che chở của tổ tiên ông bà, và quan trọng hơn là nuôi dưỡng truyền thống tri ân và báo ân trong gia đình.
Một bài văn khấn Tổ tiên ngày Rằm tháng Mười, được HT. Thích Phước Đạt chia sẻ, thể hiện lòng thành kính và biết ơn sâu sắc:
“Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con kính lạy chín phương trời, mười phương Phật.
Con kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ chư vị tôn thần.
Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ thổ địa, ngài Bản gia táo quân cùng chư vị Tôn thần.
Con kính lạy Cao tằng tổ khảo, Cao tằng tổ tỷ, thúc bá, đệ huynh, cô dì, tỷ muội họ nội, họ ngoại.
Tín chủ chúng con là…ngụ tại…
Hôm nay là ngày Rằm tháng Mười là ngày Tết lúa mới, chúng con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, nấu cơm gạo mới, trộm nghĩ:
Cây cao bóng mát
Quả tốt hương bay
Công tài bồi xưa những ai tạo
Của quý hóa nay con cháu hưởng
Ơn trời đất Phật Tiên, chư vị Tôn thần
Sau nhờ ơn tổ tiên gây dựng, kể công tân khổ biết là bao
Đến nay con cháu dồi dào, hưởng miếng trân cam
Nay nhân mùa gặt hái/Gánh nếp tẻ đầu mùa/Nghĩ đến ơn xưa
Cày bừa vun xới
Sửa nồi cơm mới
Kính cẩn dâng lên
Thường tiên nếm trước
Mong nhờ tổ phước
Hoà cốc phong đăng
Thóc lúa thêm tăng
Hoa màu tươi mới
Làm ăn tiến tới
Con cháu được nhờ
Lễ tuy đơn sơ
Tỏ lòng thành kính.
Chúng con kính mời Ngài Bản cảnh Thành hoàng, Chư vị Đại vương, ngài Bản xứ thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long mạch, Tài thần. Cúi xin các ngài giáng lâm trước án chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.
Chúng con mời các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, Chư vị hương linh tiên ngoại họ…, cúi xin thương xót con cháu, linh thiêng hiện về chứng giám, tâm thành thụ hưởng lễ vật. Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật (3 lần)”.
Trí Bửu
Khám phá sâu hơn về ý nghĩa và giá trị tâm linh của các lễ hội truyền thống này trong chuyên mục Đạo phật.