Quan Thế Âm Bồ Tát, biểu tượng của lòng từ bi vô hạn, luôn là nguồn an ủi cho hàng triệu tín đồ, đặc biệt là những người bình dân. Dù hình ảnh Ngài gần gũi, nhưng ít ai thấu tỏ hết sự vĩ đại của Ngài. Khám phá sâu hơn về Ngài tại Chiasedaophat.
Phẩm hạnh của Bồ tát Quan Thế Âm
Quan Thế Âm Bồ tát được tôn kính như hình ảnh người mẹ hiền, có lòng bi mẫn vô bờ bến, luôn hiện diện trong trái tim của hàng triệu tín đồ Phật giáo, đặc biệt là Phật tử bình dân. Dù quen thuộc với hình ảnh của Ngài, ít ai dám khẳng định mình đã thấu hiểu trọn vẹn.
Ngài là bậc đã chứng đắc “nhĩ căn viên thông”, đạt đến giác ngộ chân lý, cho phép Ngài lắng nghe thấu suốt mọi âm thanh, mọi lời cầu cứu khẩn thiết của chúng sinh trong cơn nguy biến.
Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn, Quan Âm Bồ tát đã phát nguyện mười hai đại nguyện, mỗi nguyện đều vì lợi ích của chúng sinh. Ngài thị hiện dưới ba mươi hai thân tướng khác nhau để giáo hóa và cứu độ. Từ cõi Ta bà, khi chúng sinh mãn duyên trần thế, Ngài cùng Bồ tát Đại Thế Chí sẽ trợ lực Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn về cõi Tây phương Cực lạc. Với sức từ bi và tâm nguyện rộng lớn, hễ nghe tiếng kêu cứu, Ngài liền ứng hiện. Giống như con thơ cần mẹ, Ngài sẽ đến bên cạnh vỗ về, cho bú mớm. Sự cảm ứng này đòi hỏi ở chúng ta lòng thành tâm cầu nguyện. Với hạnh nguyện độ sinh, Ngài luôn hiện diện tại biển Nam Hải để cứu vớt những sinh linh đang chìm đắm trong khổ đau.
“Gió dông đi biển chìm thuyền
Niệm danh Bồ tát sóng tan hết liền”.
Là những người con Phật, chúng ta cần noi gương lòng từ bi, hạnh nhẫn nhục của Mẹ hiền Quán Thế Âm, để thực hành hạnh lợi tha, mang lại lợi ích cho đời.

Quan Thế Âm là vị Bồ tát có đầy đủ phẩm chất của một người mẹ trong tất cả những người mẹ.
Đức Quan Thế Âm: Nam hay Nữ?
Theo các kinh điển, Bồ tát Quan Thế Âm có khả năng thị hiện với 33 thân tướng khác nhau, khi mang thân nam nhi, khi mang thân nữ nhi, khi xuất hiện trong cảnh quyền quý, lúc lại hiện thân trong phận đời cơ hàn. Trong dân gian lưu truyền hai kiếp giáng trần ứng với hai sự tích chính của Quan Thế Âm Bồ tát: kiếp thứ 10 với thân phận là nàng Thị Kính và kiếp cuối cùng là bà Diệu Thiện. Sau khi hoàn thành kiếp cuối này, Ngài đã chứng đắc quả Phật tại Phổ Đà Sơn (Nam Hải).
Sự tích Quan Thế Âm Bồ tát và tích Quan Âm Thị Kính
Trước đó, Bồ Tát Quan Thế Âm đã tu hành được tám kiếp. Đến kiếp thứ chín, Ngài phân thân thành nam nhi để tu hành đạt đến bậc tỳ kheo. Khi kiếp thứ chín gần viên mãn, Đức Thích Ca Mâu Ni giáng trần để thử thách Ngài. Đức Thế Tôn hóa thân thành một thiếu nữ, đến ép buộc vị tỳ kheo kết duyên. Vị tỳ kheo đáp rằng: “Chỉ có thể là ở kiếp sau, chứ kiếp này vì lời thề nguyện tu trì thì không thể nào làm được.” Chính vì lời hứa này, sau khi mãn kiếp thứ chín, vị tỳ kheo đã phải giáng trần đầu thai làm một thiếu nữ, trải qua trăm điều cay đắng về duyên tình để thử thách bản tâm.
Trong kiếp thứ 10, Bồ Tát Quan Thế Âm giáng trần đầu thai làm con gái của ông Sùng, một gia đình giàu có và từ tâm tại xứ Cao Ly. Ông bà tuổi đã cao mà chưa có con, nên đã đi cầu tự và sinh ra nàng Thị Kính, một cô gái có dung nhan xinh đẹp, tướng mạo đoan trang. Ông bà vui mừng vì có con gái để nương tựa lúc tuổi già. Khi nàng đến tuổi cập kê, chàng Thiện Sĩ, con nhà quyền quý, đã đến cầu hôn. Vợ chồng ông Sùng thấy hai người xứng đôi nên đã đồng ý gả con gái.
Vào ngày lễ nạp thái vu quy, nàng Thị Kính vô cùng buồn tủi. Nàng buồn vì là con một, sợ rằng sau khi xuất giá, cha mẹ sẽ cô quạnh. Nàng tủi vì phận gái đến tuổi phải xuất giá tòng phu, không biết báo đáp công ơn sinh thành dưỡng dục sao cho trọn vẹn. Cha mẹ nàng thấy vậy bèn khuyên giải, nói rằng sinh con gái khôn lớn có nơi có chốn đã là đẹp mặt nở mày cha mẹ rồi, không nên lo lắng điều gì khác. Hơn nữa, nhà chồng cũng ở gần, việc thăm viếng sẽ thuận tiện. Nghe lời khuyên, nàng mới an lòng và chiều theo ý cha mẹ. Từ khi về nhà chồng, nàng luôn kính trọng, phụng sự gia đình chồng, cuộc sống êm ấm, ai ai cũng khen ngợi.

Sự tích Quan Thế Âm Bồ tát với tích Quan Âm Thị Kính
Thị hiện của Bồ Tát Quan Thế Âm khi đối mặt với nhiều lời cầu cứu cùng lúc
Một hôm, khi nàng đang ngồi may vá, chàng Thiện Sĩ sau khi đọc sách mỏi mệt đã ra gần chỗ nàng nằm nghỉ. Từ khi về nhà chồng, nàng chưa có dịp nhìn kỹ mặt chồng. Nay có cơ hội, nàng nhân lúc chàng ngủ say mới nhìn kỹ. Chợt thấy dưới cằm chàng có mọc một sợi râu. Với kiến thức xem tướng, nàng biết rằng sợi râu này là điềm không tốt. Bất chợt, nàng cầm kéo định cắt đi. Đúng lúc đó, chàng Thiện Sĩ giật mình thức dậy, thấy vợ cầm kéo đưa về phía cổ mình, liền hoảng hốt la lên: “Vợ tôi muốn giết tôi.” Sự việc vỡ lở, cha mẹ chồng cùng gia nhân chạy đến gạn hỏi. Nàng Thị Kính thành thật khai báo, không ngờ cha mẹ chồng lại vô cùng nghiêm khắc, buộc tội nàng ngoại tình và mưu hại chồng. Nhân cớ đó, cha mẹ chồng buộc chàng Thiện Sĩ làm giấy cho vợ về và mời vợ chồng ông Sùng đến nhận con về. Vợ chồng ông Sùng hốt hoảng đến nơi mới tường tận sự việc. Hai ông bà trách mắng con gái rồi dẫn nàng về nhà.
Chàng Thiện Sĩ lúc này lòng như dao cắt. Chàng tưởng sự việc có thể bỏ qua, không ngờ lại dẫn đến cảnh chia ly. Chàng vô cùng ăn năn, nước mắt tuôn rơi. Khi nàng Thị Kính lạy từ cha mẹ chồng và chàng Thiện Sĩ ra về, chàng vì sợ uy cha mẹ nên không dám nói lời nào bào chữa cho nàng.
Về đến nhà, nàng Thị Kính vô cùng buồn bã. Một phần vì số phận lận đận, duyên tình trắc trở; phần khác vì cha mẹ phải mang nỗi phiền muộn trong lòng.
Vì nàng là người phụ nữ thủy chung, một lòng son sắt với chồng, nàng không chấp nhận “cầm thuyền ai”. Nàng than thở rằng nếu có anh em đông đúc thì nàng cũng đành nhắm mắt cho qua, để khỏi mang tiếng nhơ. Nhưng vì nàng là con một, nàng không nỡ hủy hoại bản thân, sợ phạm hiếu. Tuy nhiên, ở lại cũng quá khổ tâm, nên nàng quyết chí xuất gia, noi gương Phật Tổ tu hành đắc đạo, rồi trở về độ lại cha mẹ.
Một hôm, nàng lén cải trang nam tử rồi bỏ nhà trốn đi. Cha mẹ nàng nghi ngờ nàng vì buồn tình xưa mà sinh nhẹ dạ theo người, liền sai người đi khắp nơi tìm kiếm nhưng không gặp.

Trích đoạn vở chèo Quan Âm Thị Kính.
Ý nghĩa của hình tượng Bồ tát Quan Thế Âm
Từ khi rời bỏ gia đình, nàng có ý tìm một ngôi chùa để nương náu. Đến một ngôi chùa, nàng tình cờ nghe sư cụ đang thuyết pháp. Nàng quan sát tướng mạo và nhận ra đó là một bậc chân tu, đạo hạnh cao thâm. Nàng bèn xin quy y. Ban đầu, sư cụ rất nghi ngờ, gạn hỏi kỹ lưỡng vì sợ rằng vị thiếu niên này sau này sẽ làm ô uế cửa Phật. Nàng một mực khẳng định mình là một thư sinh, con nhà quyền quý, chán ghét công danh nên xin nương nhờ cửa Phật để gột rửa tâm phàm tục.
Thấy được chí hướng kiên định của nàng, sư ông vui vẻ nhận nàng làm đệ tử và ban pháp danh là Kính Tâm.
Vì sãi Kính Tâm là nữ giả trang nên dung mạo khôi ngô, kiều diễm, khiến các tín nữ trầm trồ ngưỡng mộ. Đặc biệt là nàng Thị Mầu, con gái của một vị phú ông trong vùng. Lợi dụng cớ ra vào chùa, nàng Thị Mầu nhiều lần thả thính, trêu ghẹo sãi Kính Tâm, nhưng nàng vẫn giữ thái độ bình thản. Thất vọng, Thị Mầu đành quay lại tư tình với người làm công của mình. Khi thai đã lớn, khí sắc nàng thay đổi, dân làng dò hỏi. Chịu không nổi áp lực, Thị Mầu đành thú nhận và quả quyết rằng mình có tư tình với sãi Kính Tâm, nên xin làng rộng lượng cho sãi Kính Tâm hoàn tục để kết duyên.
Tiếng trống mõ vang lên, ngôi chùa vốn thanh tịnh bỗng chốc trở nên náo nhiệt. Dân làng đến chùa đòi sư ông và sãi Kính Tâm ra nghe xử lý.
Thầy trò cùng nhau đến nơi. Khi nghe sự việc, sư ông kinh hãi hỏi trò sự thật. Sãi Kính Tâm một mực kêu oan, không nói thêm điều gì. Dân làng tra hỏi sãi Kính Tâm đủ điều, lúc đe dọa, lúc khuyên nhủ rằng nếu nói thật thì làng sẽ chứng giám cho nàng lập gia thất. Người thì mai mỉa: “Sãi kia tu có trọn đời không?” Cuối cùng, vì không chịu nhận tội và một mực kêu oan, sãi Kính Tâm đã bị tra tấn.
Chứng kiến cảnh tượng đau đớn và thấy trò bất tỉnh, sư ông động lòng từ bi, đứng ra xin bảo lãnh cho sãi Kính Tâm về nhà để khuyên nhủ, dạy dỗ.
Thấy vậy, dân làng cũng niệm tình ưng thuận cho sư tiểu về. Về đến chùa, sư ông dạy tiểu ra ở ngoài tam quan để tránh những lời đàm tiếu không hay cho chùa.
Thời gian trôi qua, Thị Mầu hạ sinh một bé trai. Nàng bèn bồng hài nhi đến cửa tam quan bỏ lại rồi về, nói rằng: “Con của ngươi, ta trả lại cho ngươi.” Sãi Kính Tâm đang tụng kinh, nghe tiếng đứa bé khóc la dưới đất, động lòng từ bi bèn bế đứa bé vào, thuê vú nuôi bên ngoài để chăm sóc. Mẹ tròn con vuông, nàng vú nuôi cũng vất vả nuôi nấng đứa trẻ qua ngày.

Trích đoạn vở chèo Quan Âm Thị Kính.
Hết thời gian trì kinh, sãi Kính Tâm lại phải trông nom, bồng bế đứa trẻ. Nghe vậy, sư cụ bèn gọi sãi Kính Tâm vào trách mắng: “Trước kia con nói con bị hàm oan, nay lại như thế thì chính thầy đây cũng phải nghi ngờ, huống chi người ngoài?”
Sãi Kính Tâm bèn bạch: “Bạch sư phụ, khi xưa sư phụ có dạy đệ tử rằng cứu được một người, phước đức vô lượng. Đệ tử vâng lời thầy mới cứu mạng đứa trẻ này, chứ kỳ thực con không có ý đồ gì khác.”
Tuy vậy, sãi Kính Tâm vẫn không được phép ra vào chùa để tránh tai tiếng cho chùa.
Đứa trẻ khi lên hai, ba tuổi đã tỏ ra thông minh và giống sãi Kính Tâm như đúc. Khi hài nhi tròn ba tuổi, sãi Kính Tâm biết trước giờ mình sẽ về với Phật. Sãi Kính Tâm bèn viết hai bức thư, một gửi sư cụ, một gửi cha mẹ ruột. Sau khi sãi Kính Tâm viên tịch, đứa bé làm đúng lời cha dặn, mang bức thư vào dâng cho sư cụ.
Đọc thư xong, sư ông vô cùng xúc động, bèn sai vài vị ni cô ra xem xét việc tẩm liệm. Sau khi khám nghiệm, mọi người mới hay sãi Kính Tâm là nữ nhi giả trang.
Tin tức này lan truyền, dân làng kéo đến đòi cha con Thị Mầu đến, buộc tội cáo gian và phạt phải chịu tổn phí cho việc tống táng và làm ma chay cho sãi Kính Tâm. Với bằng chứng rõ ràng, ông phú ông phải chấp nhận. Thị Mầu vô cùng xấu hổ, bèn quyên sinh để trốn tránh khổ nhục.
Đến ngày an táng sãi Kính Tâm, mọi người đều thấy Phật hiện trên mây rước hồn sãi Kính Tâm (tức nàng Thị Kính) về cõi Phật. Vợ chồng ông Sùng và Thiện Sĩ nhận được thư và hay tin đau đớn này, đã cùng đến dự. Sau tang lễ của vợ xưa, Thiện Sĩ ăn năn lỗi lầm trước đây, bèn phát nguyện tu hành.
Tương truyền rằng, Thiện Sĩ sau đó đắc quả thành một con chim ngậm xâu chuỗi bồ đề, đậu bên cạnh Đức Phật Quan Âm. Đức Phật Quan Âm cũng độ cho con của Thị Mầu đắc quả hầu cận bên Ngài.

Tượng Quan Âm Thị Kính tại một số ngôi chùa Việt.
Sự tích Quan Thế Âm Bồ tát và tích Bà Diệu Thiện hay Quan Âm Nam Hải
Trong kiếp cuối cùng, Đức Phật Quan Âm đã hạ phàm làm một vị công chúa của Ấn Độ, con vua Linh Ưu, niên hiệu Diệu Trang. Vào năm 2587 trước Công nguyên, tại một tiểu quốc tên là Hưng Lâm thuộc Ấn Độ, nhà vua Linh Ưu trị vì với niên hiệu Diệu Trang. Nước Hưng Lâm có địa thế giáp ranh với Thiên Trúc Quốc về phía Tây, Xiêm La về phía Bắc, Phật Chai Quốc về phía Đông và Thiên Chơn Quốc về phía Nam. Cảnh thái hòa trong nước là nhờ có vị vua hiền, tôi giỏi, bá tánh chuyên tâm vào nông nghiệp.
Chánh thê của nhà vua là Hoàng hậu Bửu Đức. Sau 40 năm trị vì, bà vẫn chưa hạ sinh được hoàng tử nào. Buồn phiền, bà cùng nhà vua lên núi Huê Sơn cầu tự. Núi Huê Sơn nằm về phía Tây, trên đó có một vị thần rất linh thiêng, ai cầu gì cũng được. Vua nghe theo, một ngày nọ, đoàn xa giá nhắm hướng Huê Sơn khởi hành. Sau khi cầu tự, không lâu sau bà có thai và hạ sinh một công chúa tên là Diệu Thanh. Một thời gian sau, hoàng hậu lại hạ sinh công chúa Diệu Âm, và cuối cùng là công chúa Diệu Thiện. Vị công chúa thứ ba này, sau này tu hành đắc đạo và lấy hiệu là Quan Âm.
Vì nhà vua không có con trai, nên ông quyết định truyền ngôi cho một trong ba vị phò mã. Hai công chúa đầu là Diệu Thanh và Diệu Âm đã được vua đính hôn cho hai vị quan đại thần danh tiếng nhất triều. Tuy nhiên, công chúa thứ ba là Diệu Thiện lại cương quyết không chịu lấy chồng, nhất quyết xuất gia tu hành để thành Phật quả. Nghe lời con gái, nhà vua nổi cơn thịnh nộ, buộc Diệu Thiện phải tuân lệnh xuất giá. Thấy vậy, nàng xin vua cha, nếu ý định của vua là vậy, thì ít nhất xin cho nàng kết hôn với một thầy thuốc. Nàng thưa: “Ý con là muốn cứu chữa hàng quan lại bất tài và ngu xuẩn, những tai nạn do sự nắng lửa mưa dầu, tuyết giá mà ra, những tính xấu xa ích kỷ về nhục dục, các tật nguyền, bệnh hoạn do sự già nua cằn cỗi mà ra, sự phân chia giai cấp, sự khinh rẻ kẻ nghèo và sự tư lợi.”

Sự tích Quan Thế Âm Bồ tát với tích Bà Diệu Thiện hay Quan Âm Nam Hải
Thần lực của Quan Thế Âm
Nàng còn nói lớn: “Chỉ có Đức Phật mới được chứng quả bồ đề, minh tâm kiến tánh.” Nghe vậy, nhà vua càng tức giận hơn, bèn hạ lệnh lột hết y phục của công chúa và nhốt nàng vào hoa viên để nàng chết đói, chết rét. Công chúa không hề nao núng, trái lại, nàng cảm ơn vua cha đã phạt mình như vậy và vui vẻ đón nhận khổ hình. Các bà mệnh phụ được lệnh đến khuyên dụ nàng hồi tâm, tuân theo thánh chỉ. Nàng vẫn một mực kiên định, xin vào chùa Bạch Tước ẩn tu, nhập thất tham thiền. Chùa Bạch Tước thuộc quận Long Thọ, tỉnh Nhữ Châu. Hay tin này, nhà vua không cấm cản, cho rằng ra nơi đó một thời gian công chúa sẽ chịu không nổi khổ cực, chán nản mà trở về triều.
Tại Bạch Tước Tự, có mật lệnh của nhà vua buộc nàng phải làm những công việc nặng nhọc nhất. Nàng vẫn cúi đầu vâng chịu, không một lời than vãn, bởi vì khi nàng làm phận sự, thần thánh luôn giúp sức. Biết được điều này, sư cụ chùa Bạch Tước đã dâng sớ về triều tâu vua mọi sự. Vua cha bèn nghĩ ra một kế sách nhằm làm nàng kinh sợ, bỏ chùa mà về đền. Một hôm, quân lính đến bao vây và phóng lửa thiêu chùa từ bốn phía. Sư cụ và tất cả ni cô kinh hãi, tán loạn tìm đường thoát thân. Tiếng kêu trời đất vang vọng. Nàng Diệu Thiện vẫn điềm tĩnh như thường. Nàng chỉ lẩm nhẩm cầu Đức Phật mà nàng nguyện theo, xin Ngài đến cứu giúp. Nàng bèn rút trâm cài đầu, đâm vào họng và phun máu tươi lên không trung. Tức thì, mây kéo mù mịt, trời đất tối sầm, mưa xuống như trút nước. Đám mưa lớn đã làm những ngọn lửa đỏ rực dần dần dịu đi rồi tắt hẳn. Thấy vậy, quân lính vội chạy về báo tin. Nhà vua liền hạ lệnh bắt nàng và đưa về đền.
Khi đưa nàng về đến nơi, nhà vua cho mở yến tiệc, bày cuộc lễ hội lớn để đưa nàng trở lại cuộc sống vinh hoa phú quý. Tuy nhiên, những sự sắp đặt này cũng không mang lại kết quả, ngay cả những lời đe dọa ghép nàng vào tội tử hình cũng không lay chuyển được nàng. Cuối cùng, nhà vua hạ lệnh trảm quyết nàng và sai quân lính đưa nàng ra khỏi đền để hành hình. Thần hoàng bổn cảnh liền tâu sự việc lên Ngọc Đế. Đức Ngọc Đế hạ lệnh cho thần hoàng bổn cảnh gìn giữ hồn nàng, không cho nhập địa phủ. Đến giờ hành hình, giám sát vừa giơ gươm lên thì gươm gãy làm đôi. Giám sát bỏ gươm, rút giáo toan đâm thì giáo cũng gãy làm đôi. Giám sát chỉ còn cách xử tử bằng cách thắt cổ. Đến giờ hành hình, một trận cuồng phong nổi lên, làm trời đất tối tăm, nhưng xung quanh mình nàng, hào quang hiện ra sáng rực. Thần bổn cảnh liền hóa thành một con hổ, từ rừng xanh nhảy ra, cõng thây nàng chạy thẳng vào núi. Những người đi xem hoảng sợ chạy tán loạn. Quan quân và giám sát vô cùng ảo não, vội vã về triều tâu vua mọi sự. Nhà vua không nao núng, cho rằng cọp tha thây là một sự trừng phạt nặng nề, thêm vào sự trừng phạt của nhà vua để phạt nàng về tội bất hiếu và bất tuân lệnh vua cha.

Diệu Thiện tu đặng chín năm thì có một vị Phật Tiếp Dẫn đến cho các vị thần trấn Phổ Đà Sơn.
Hạnh nguyện và sự sám hối của Quan Thế Âm
Nhờ sự huyền diệu này, nàng Diệu Thiện dù chết nhưng thân xác vẫn còn nguyên vẹn. Lúc ấy, nàng mơ màng như trong giấc chiêm bao, dường như nàng đã lướt gió bay mây… Khi tỉnh lại, nàng lấy làm lạ khi thấy mình đang ở một thế giới không có nhật nguyệt, tinh tú, không núi non, không người, không loài vật.
Bỗng chốc, nàng thấy hiện ra trước mắt một vị mặc áo màu xanh dương, hào quang chói lọi. Vị ấy đến trước mặt nàng, tay cầm một tờ giấy dài và nói rằng: “Vâng lệnh Diêm Chúa mời nàng xuống viếng Diêm Cung để thấy rõ cảnh khốn khổ và những hình phạt mà kẻ có tội phải chịu sau khi chết.”
Tại Diêm Cung, mỗi khi nàng đi đến đâu, nhờ sức thần thông và đức từ bi thuyết kinh của nàng, các hồn bị giam cầm đều được cứu rỗi và thoát khỏi ngục môn để tái kiếp trở lại trần gian. Thập Điện Minh Vương cũng ao ước được nghe nàng thuyết pháp. Chiều theo ý Thập Điện Minh Vương, nhưng nàng xin rằng sau buổi thuyết pháp, các hồn tội nhân đều được phóng thích. Sau khi lời thỉnh cầu được các vua chấp thuận, nàng mới dùng hết phép thần thông để thuyết pháp. Trong khoảnh khắc, chốn U Minh biến thành cõi lạc cảnh và các âm hồn đều được trở lại cõi trần. Thấy mười cõi U đồ đã trống rỗng, Thập Điện Minh Vương vội vàng phán rằng: “Mười điện chúng ta không có quyền giam cầm vong hồn của nàng Diệu Thiện.” Và tức khắc, họ đưa nàng trở lại dương gian.
Khi tỉnh dậy, nàng Diệu Thiện cảm thấy bối rối, chưa biết đi về đâu. Lúc ấy, Đức Phật Thế Tôn hiện ra trên mây, dạy nàng phải đến núi Phổ Đà, giữa Nam Hải thuộc cù lao Hương Đảo để tu hành thêm. Muốn đến đó, nàng phải trải qua ba ngàn dặm đường. Vì vậy, Đức Phật Thế Tôn ban cho nàng một trái đào tiên trên cành cây của vườn Tây Vương Mẫu để nàng đỡ đói khát trong một năm và có được sự trường sinh. Nàng chuẩn bị hành trình. Thấy nàng sức yếu mà đường lại xa, Đức Trường Canh Thái Bạch mới truyền cho thần bổn cảnh hóa ra một con hổ, cõng nàng đưa đến nơi đó. Thần bổn cảnh tuân lệnh và trong giây phút, nàng đã đến Phổ Đà Sơn.
Khi nàng tu hành được chín năm, có một vị Phật Tiếp Dẫn đến báo cho các vị thần trấn Phổ Đà Sơn hay rằng nàng Diệu Thiện tu hành đạo pháp hiện nay đạt đến đỉnh cao, chưa từng có ai đạt được. Nàng đã đứng trên tất cả chư vị Bồ Tát và cai quản các bậc ấy. “Hôm nay, ngày 19 tháng 2, chúng ta phải yêu cầu vị ấy nhận một địa vị cao thượng hơn để cứu rỗi và ban hạnh phúc cho quần sinh.” Sơn thần Phổ Đà Sơn bèn triệu tập tất cả các thần tiên, thánh Phật trong vùng đến chầu và xưng tụng công đức của vị Bồ Tát vừa chứng quả, và từ nay người đời gọi là Quan Âm Như Lai, Quan Âm Nam Hải, Phật Tổ Phổ Đà Sơn. Tân Bồ Tát ngự trên tòa sen và tiếp kiến các đấng thiêng liêng đến bái kiến và chúc mừng. Lúc ấy, chư thánh tiên mới chọn một vị đồng tử để hầu Ngài. May mắn thay, có một vị trẻ tuổi tự xưng là Hoàn Thiện Tài, nghĩa là người chỉ cần đọc kinh mà được phước lành, phép lạ. Thiện Tài đồng tử thú nhận rằng vì mồ côi cha mẹ, chàng đã phát nguyện tu hành, quy y Phật pháp nhưng chưa chứng quả. Nay nghe tin Nam Hải Phổ Đà Sơn có Bồ Tát ngự, chàng quyết chí vượt qua muôn dặm đến đây để hầu Ngài và xin làm đệ tử. Trước khi chấp thuận lời nguyện, Đức Bồ Tát muốn thử lòng chí của chàng. Ngài bèn truyền cho sơn thần, thổ địa hóa làm bọn cướp đến vây đánh Phổ Đà Sơn. Riêng về phần Ngài, Ngài giả bộ sợ hãi, kêu la cầu cứu và giả vờ té xuống hố sâu. Thấy vậy, Thiện Tài đồng tử chạy theo cứu thầy và nhảy xuống hố. Vì quyền năng pháp lực chưa đạt đến mức cao, đồng tử đã thiệt mạng. Bồ Tát liền dùng thần thông cứu sống. Khi đồng tử tỉnh dậy, thấy một cái xác bên mình, Bồ Tát cho biết đó là xác phàm của đồng tử và hiện nay đồng tử đã bỏ xác phàm, nhập vào cõi thánh. Từ đó, Thiện Tài đồng tử một lòng phụng sự Bồ Tát trong công cuộc cứu độ chúng sanh.

Nàng Diệu Thiện không nghe cha kết duyên mà quyết tâm đi tu.
Sau đó, Đức Bồ Tát đã thu nhận làm đệ tử nữ là Long Nữ, cháu gái của vua Nam Hải Long Vương. Chuyện xảy ra như sau: Một ngày nọ, đệ tam thái tử con vua Long Vương hóa làm con cá, dạo chơi trên mặt biển, không may mắc vào lưới của ông chài. Ông chài bắt cá ấy đem bán ngoài chợ. Ngự trên liên đài, Bồ Tát biết rõ sự việc, bèn sai Thiện Tài Đồng tử giả dạng người thường đến mua cá ấy và đem thả ra biển phía Nam. Nam Hải Long Vương nhớ ơn cứu mạng con mình, bèn quyết định dâng cho Bồ Tát một viên ngọc quý chiếu sáng ban đêm để Ngài đọc sách mà không cần đèn. Đồng thời, Ngài dạy Long Nữ, con gái của đệ tam thái tử, phải đích thân mang ngọc đến dâng. Đến nơi, sau khi dâng ngọc xong, Long Nữ vô cùng cảm phục huyền năng và đức độ của Bồ Tát, cầu xin Ngài cho theo hầu Ngài và quy thuận Phật pháp. Bồ Tát chấp thuận. Từ đó, Long Nữ được thu nhận làm đệ tử, cùng với đồng tử Thiện Tài phụng sự Ngài.
Từ ngày vua Diệu Trang dùng mưu độc hại nàng Diệu Thiện, nhà vua phải chịu một chứng bệnh vô cùng khổ sở.
Thân thể nhà vua bị thúi tha, đầy ung nhọt ghẻ lở, khiến nhà vua đau đớn không ngừng. Đức Bồ Tát phóng đại quang minh, biết rõ mọi sự. Nhà vua lúc ấy hạ lệnh đăng bảng cầu danh y. Bồ Tát bèn giả dạng một nhà sư già đến xin chữa bệnh.
Khi đến trước mặt vua, nhà sư bèn tâu rằng phải kiếm cho được đôi mắt và một đôi cánh tay của thân nhân nhà vua mới có thể chữa được bệnh, nhưng phải lên núi Phổ Đà mới kiếm được hai món ấy. Vua liền phái hai vị quan cấp tốc đến Phổ Đà Sơn để tìm hai món vật ấy. Thấy vậy, hai vị phò mã rất bất bình và âm mưu giết nhà sư, sau đó giết vua để soán ngôi.
Bồ Tát rõ sự việc và đã sai Thiện Tài đồng tử giả làm tên thị vệ hầu cận bên vua. Khi một tên quân của hai vị phò mã dâng cho vua một chén thuốc độc, nói dối là của nhà sư dạy đem cho vua uống, thì tên thị vệ này đã nhanh tay làm đổ chén thuốc xuống đất. Đúng lúc đó, một người lẻn vào phòng nhà sư để ám sát. Bồ Tát bèn dùng thần thông làm cho tên thích khách bị tê liệt, không còn cử động được nữa và bị bắt trói. Âm mưu bại lộ, hai vị phò mã vì sợ bị khổ hình nên đã uống độc dược tự tử. Hai vị công chúa vì liên can tội lỗi đều bị biếm vào lãnh cung, đời đời cấm cố. Hai nàng mới ăn năn, noi gương em mình là Diệu Thiện, chuyên tâm tu hành. Khi hai nàng đã tấn hóa nhiều trên con đường tu niệm, Bồ Tát và Thiện Tài đồng tử hóa ra hai con voi trắng, đưa hai vị công chúa đến cảnh Phật Đài để xa lánh chốn trần tục.
Từ ngày hai vị sứ giả phụng mệnh nhà vua, vượt mây, lướt sóng, trải qua biết bao khổ cực mới đến Phổ Đà Sơn, Thiện Tài đồng tử phụng lệnh Bồ Tát hiện ra tiếp rước. Hai sứ giả trình bày mọi sự rồi được đến yết kiến Bồ Tát. Bồ Tát Diệu Thiện ngồi trên liên đài, bèn trao cho hai vị sứ giả con mắt bên tả và cánh tay bên tả của mình. Việc xong, sứ giả cáo tạ rồi hồi triều, dâng lên vua và hoàng hậu hai món vật đã kiếm được. Hoàng hậu nhìn lên cánh tay tả thấy có nốt ruồi và sau khi nghe sứ giả tả dung mạo người đã cho nhà vua hai vật ấy, bà quả quyết đó là con mình và đau đớn vô cùng.

Bồ tát Quan Thế Âm chứng được “nhĩ căn viên thông”, giác ngộ chân lý nên nghe được tất cả âm thanh, tiếng cầu cứu của muôn loài trong lúc lâm nguy.
Hạnh nguyện và sự sám hối của Quan Thế Âm
Nhà sư bèn trộn hai món ấy với ít vị thảo dược rồi đem tất cả đắp lên nửa thân bên trái của nhà vua. Tức thì, nhà vua khỏi đau phía bên mặt. Thấy vậy, nhà sư bèn tâu vua xin sứ giả ra Phổ Đà Sơn tìm cho được con mắt phía tay mặt và cánh tay mặt. Sứ giả vâng lệnh ra đi, không lâu sau đem về dâng đủ hai món. Nhà sư cũng làm y như trước thì nửa thân bên phải của nhà vua khỏi ngay. Từ đó, vua Diệu Trang hoàn toàn lành bệnh. Trong triều, ngoài quận, ai ai cũng đồng biết rằng nhờ có người con chí hiếu là Diệu Thiện mà nhà vua mới khỏi bệnh ngặt nghèo.
Sau khi khỏi bệnh, vua cùng hoàng hậu cảm ơn cứu mạng, định lên Phổ Đà Sơn một chuyến để tạ ơn. Đoàn xa giá lên đường, gặp không biết bao nhiêu nguy nan, nhưng đều nhờ Bồ Tát dùng phép thần thông mà cứu khỏi.
Đến nơi, vua cùng hoàng hậu thấy Bồ Tát tọa thiền trên liên đài, mất cả hai mắt và hai tay. Nhìn biết là con mình, nhà vua ăn năn, xúc động vô cùng, bèn quỳ xuống cầu nguyện cho con được sống lại và được hoàn lại hai con mắt và hai tay. Khẩn nguyện xong, nhà vua và hoàng hậu thấy con mình hiện ra trước mắt, tay mắt đầy đủ, hình dạng mạnh khỏe như xưa.
Thấy phép thần thông vô biên của Bồ Tát, vua cùng hoàng hậu nhất định rời bỏ điện ngọc đền vàng, lánh mình khỏi chốn trần tục, tìm về cõi thiên thai.
