Tâm An Vạn Sự: Bí Quyết Kiến Tạo Không Gian Sống Tĩnh Lặng Và Trang Nghiêm

tam an van su an song an vui binh tam quan sat khoi tam tu bi 3 0913 1
0
(0)

Trong guồng quay cuộc sống hiện đại, nhiều người tìm kiếm chốn bình yên để tâm hồn lắng đọng và xây dựng một không gian sống trang nghiêm. Giáo lý Phật giáo khai mở con đường dẫn đến sự an lạc nội tại, khuyến khích mỗi cá nhân và cộng đồng kiến tạo hạnh phúc bền vững. Khám phá cách phát tâm Bồ đề và thực hành Lục Ba la mật có thể đưa ta đến gần hơn với sự giác ngộ, như những bậc Bồ tát đã làm khi kiến tạo cõi Tịnh độ. Tìm hiểu thêm về con đường giải thoát và kiến tạo Tịnh độ tại Chia sẻ Đạo Phật.

Giữa cuộc đời đầy biến động, con người thường cảm thấy hoang mang, không biết đi đâu về đâu. Chúng ta luôn trăn trở về vòng luân hồi của khổ đau, vui buồn, được mất, và liệu có con đường nào để giải thoát, để tìm thấy sự an lạc và hạnh phúc đích thực cho kiếp sau hay không? May mắn thay, giáo pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã chỉ ra phương hướng để chúng ta thực hành, từ đó mỗi cá nhân và cộng đồng có thể cùng nhau xây dựng một cuộc sống an lạc, bởi lẽ “an cư mới lạc nghiệp, tâm an vạn sự an”.

Vì sao chư Bồ tát phát nguyện thành lập cõi Tịnh độ để chúng sinh an tâm tu hành?

Phật giáo Đại thừa tin tưởng sâu sắc vào khả năng thành Phật của chúng sinh. Nếu chúng ta biết quán chiếu về duyên khởi, thấu hiểu lẽ không, từ đó phát tâm Bồ đề, thực hành Lục Ba la mật và nguyện độ chúng sinh, chắc chắn sẽ chứng đắc Phật quả. Ngay cả khi còn là phàm phu, những người phát tâm Bồ tát hướng đến việc thành Phật và hóa độ chúng sinh đã không tiếc thân mạng, tinh tấn tu hành trong vô lượng kiếp, học hỏi tinh hoa từ các cõi Tịnh độ khắp mười phương. Họ kiến tạo nên cõi Phật rộng lớn cho riêng mình, đồng thời tạo dựng một nơi chốn yên ổn để chúng sinh cùng nhau an tâm tu hành, quyết chí thành Phật. Đây là một bước tiến vượt bậc của Phật giáo, mang lại ý nghĩa sâu sắc cho nhân loại hiện tại và tương lai.

Nhiều kinh điển đã ghi lại những lời phát nguyện này. Ví dụ, kinh Phóng Quang Bát Nhã quyển 3 phẩm Vấn Tăng Na nêu: “Bồ tát lấy bốn hoằng thệ nguyện để tiếp độ tất cả chúng sinh”. Kinh Thanh Văn Bích Chi Phật quyển 2 cũng đề cập đến ý này. Trong Hoa Nghiêm Kinh quyển 40, phẩm Nhập Bất Tư Nghì Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện, nêu bật mười đại nguyện của Bồ tát Phổ Hiền. Tương tự, kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập quyển 17, phẩm Hư Không Tạng Bồ tát, trình bày hai mươi đại thệ trang nghiêm của Ngài.

Tâm an vạn sự an – Tâm tịnh trú xứ trang nghiêm 1

Lý do chính yếu các Bồ tát thanh tịnh cõi Phật, tạo nơi an lạc cho chúng sinh hướng về, xuất phát từ việc nhận thấy những tiêu cực trong cuộc sống: lòng người hiểm ác, tham sân si lan tràn, thiên tai, dịch bệnh hoành hành.

Tâm an lạc giúp chúng ta sống ung dung tự tại, tâm rộng mở thì thế giới cũng rộng lớn, không còn ai để oán giận.

Những dẫn chứng từ kinh điển cho thấy, các Bồ tát khi mới phát tâm đã lập đại thệ nguyện, tu tập Lục Ba la mật và nguyện độ thoát chúng sinh. Sau đó, các Ngài nương theo lời nguyện đó để thực hành, không tiếc thân mạng để đạt thành chí nguyện. Dù nguyện sinh vào đời ác năm trược, các Ngài vẫn dũng mãnh tinh tấn tu tập, như những dũng sĩ khoác giáp xông pha trận mạc. Điều này thể hiện tinh thần tu tập mạnh mẽ của Phật giáo Đại thừa sơ kỳ, là kết tinh của đại thệ nguyện trang nghiêm, phát nguyện thanh tịnh cõi Phật để làm nơi đáng sống và tu học cho chúng sinh. Đặc biệt, các Ngài nguyện độ khắp chúng sinh không giới hạn số lượng, đồng thời phải hoàn thiện viên mãn Sáu Ba la mật và hướng dẫn người khác cùng thực hành.

Mục đích chính của việc thanh tịnh cõi Phật, tạo nơi an lạc cho chúng sinh hướng về, là do ban đầu các vị Bồ tát nhìn thấy những điều tiêu cực trong thực tế cuộc đời: lòng người hiểm ác, tham sân si lan tràn, thiên tai, dịch bệnh hoành hành. Từ đó, các Ngài mong muốn làm thanh tịnh thế giới, khắc phục những khiếm khuyết, vận động xã hội để tăng thêm hạnh phúc cho nhân loại.

Các Bồ tát cũng thành Phật ngay tại cõi nước đó, dần xây dựng nên một cõi Phật lý tưởng, hoàn mỹ hơn, cuối cùng vượt trội hoàn toàn so với cõi Ta bà. Cõi Ta bà của chúng ta đầy rẫy năm thứ ô nhiễm, là nơi chung sống của nhiều loài, nhiều quan điểm khác nhau, lại còn dịch bệnh, đói khát, tranh chấp. Địa hình hiểm trở, cây cỏ gai góc, nhiều ô uế, chẳng nơi nào trang nghiêm hay an lạc, tuổi thọ con người lại ngắn ngủi. Điều này cho thấy thế giới này vô thường, không có tính trường cửu. Với vô vàn khiếm khuyết như vậy, Bồ tát đã lập chí nguyện kiên cố để kiến tạo cõi Phật lý tưởng.

Bồ tát phát tâm kiến tạo cõi nước Phật thanh tịnh được đề cập trong một số kinh thuộc hệ Bát Nhã Đại thừa. Trong đó, những điều nguyện được ghi ở phẩm Ưu Bà Di Đà Kiệt thuộc Đạo Hành Bát Nhã Kinh quyển 6 có thể xem là xuất hiện sớm nhất. Năm điều Bồ tát phát nguyện xây dựng cõi nước Phật bao gồm:

  1. Không có loài cầm thú.
  2. Nhẫn nhục, không sân hại.
  3. Có nước tám công đức.
  4. Lương thực đầy đủ.
  5. Không có dịch bệnh.

Ngoài ra, ngài Chi Khiêm dịch trong phẩm Hằng Kiệt Thanh Tín Nữ thuộc Đại Minh Độ Kinh, và ngài La Thập dịch phẩm Thâm Công Đức thuộc Tiểu Phẩm Bát Nhã Kinh quyển 7 cũng ghi chép tương tự.

Tâm an vạn sự an – Tâm tịnh trú xứ trang nghiêm 2

Chúng ta cần phát tâm hoàn thiện bản thân và mang lại lợi ích tối đa cho mọi người, không phân biệt thân sơ hay số lượng.

Tâm an vui giúp chúng ta cảm nhận niềm hạnh phúc theo chánh pháp.

Tóm lại, những lời phát nguyện của Bồ tát thời kỳ đầu có nội dung đơn giản nhưng rất thực tế, dựa trên hiện thực thế gian. Các Ngài mong muốn xây dựng một đất nước không có thiên tai, dịch bệnh, không có người xấu, không có khổ đau. Đây là những thệ nguyện quan trọng và cốt yếu.

Tiến xa hơn, Bồ tát phát nguyện trong kinh Phóng Quang Bát Nhã.

Tìm hiểu thêm: Nghiệp Chướng Hay Lựa Chọn? Hành Trình Tìm Con Đầy Băn Khoăn

Chúng ta có thể tham khảo phẩm Mộng Trung Hành, quyển 13 của kinh Phóng Quang Bát Nhã để biết thêm về những điều nguyện của Bồ tát đối với cõi Phật thanh tịnh:

  1. Lương thực, y phục đầy đủ.
  2. Không có chúng sinh phạm mười điều ác và người hạ tiện.
  3. Nhẫn nhục, không gây tổn hại.
  4. Dũng mãnh tinh tấn.
  5. Nhiếp tâm, chính niệm.
  6. Không có tà kiến.
  7. Không có tà tụ.
  8. Không có ba đường ác.
  9. Đất đai bằng phẳng, trong sạch.
  10. Đất bằng vàng ròng.
  11. Không có ái dục.
  12. Không có giai cấp.
  13. Không có phân biệt gia thế.
  14. Thân chúng sinh đều sắc vàng.
  15. Trong nước không có vua hà khắc áp bức.
  16. Đều tu Ba mươi bảy đạo phẩm.
  17. Mọi người đều hóa sinh.
  18. Người trong nước có năm thần thông và ánh quang minh.
  19. Mọi người không có cấu uế.
  20. Không có giới hạn thời gian.
  21. Mọi người trong nước sống lâu.
  22. Mọi người đều đầy đủ tướng bậc đại nhân.
  23. Mọi người đầy đủ căn lành.
  24. Mọi người không có ba cấu, bốn bệnh.
  25. Trong nước không có Nhị thừa.
  26. Trong nước không có tăng thượng mạn.
  27. Thọ mệnh vô lượng, quang minh vô lượng, Thanh văn vô lượng.
  28. Cõi nước rộng lớn.
  29. Không có tự tính.

Phẩm Mộng Hành trong kinh Đại Phẩm Bát Nhã quyển 17 cũng đề cập đến vấn đề phát nguyện, tương tự kinh Phóng Quang Bát Nhã. Điểm khác biệt duy nhất là nguyện thứ mười tám, “người trong nước đắc năm thần thông và có ánh quang minh”, được chia thành hai nguyện, nâng tổng số lên ba mươi nguyện.

Tâm an vạn sự an – Tâm tịnh trú xứ trang nghiêm 3

Việc chung tay xây dựng một xã hội lý tưởng như cõi Tịnh độ không thể thiếu sự tham gia của chúng ta. Mỗi người hoàn toàn có thể đồng hành cùng chư Phật Bồ tát để kiến lập mười phương Tịnh độ.

So sánh kinh Phóng Quang Bát Nhã và Đạo Hành Bát Nhã, số lượng nguyện tăng thêm là hai mươi bốn, và ý nghĩa của các nguyện cũng mang tính lý tưởng rộng lớn hơn. Trong Đạo Hành Bát Nhã, Bồ tát phát nguyện mang ý nghĩa tích cực, không chỉ dừng lại ở việc đối trị mà còn là phát huy. Cụ thể, không có ba đường ác (địa ngục, ngã quỷ, súc sinh); đối xử với nhau bằng lòng từ bi như cha mẹ, anh em; lương thực, y phục, của cải tự nhiên đầy đủ; không có ba cấu, bốn bệnh; không có bốn giai cấp, giàu nghèo hay sự khác biệt về chủng tộc; không có vua chúa mà chỉ có Như Lai là bậc pháp vương; mặt đất bằng phẳng, làm bằng vàng ròng; không có núi đồi, hầm hố, gai góc, cỏ độc, mà thanh tịnh trang nghiêm; không có ô uế; người dân đều hóa sinh, không có thai sinh; không có người rơi vào tà định tụ, không có hàng Nhị thừa hay kẻ tăng thượng mạn; tất cả đều có năm thần thông, thân có ánh quang minh, đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, thọ mệnh vô lượng.

Qua đó, chúng ta thấy rõ các nguyện vọng ngày càng tăng và mang tính lý tưởng hóa cao độ. Chúng ta học hỏi từ đây để chuyển hóa nội tâm, vượt qua phiền não cá nhân, nhận lỗi và bao dung cho người khác. Hơn nữa, chúng ta cần phát tâm hoàn thiện bản thân, mang lại lợi ích tối đa cho mọi người, không phân biệt thân sơ hay số lượng. Đó là vẻ đẹp tâm hồn, là tư tưởng đóng góp to lớn cho một cộng đồng hòa bình và thịnh vượng.

Việc tịnh hóa cõi Phật là ý nghĩa chân chính để chúng sinh được an tâm tu học

Làm thế nào để tịnh hóa cõi Phật, biến một cõi ô nhiễm thành cõi thanh tịnh? Kinh Đại Phẩm Bát Nhã quyển 26, phẩm Tịnh Phật Quốc, hướng dẫn: “Bồ tát xa rời những nghiệp thô trọc, tự mình bố thí và hướng dẫn người khác bố thí. Chúng sinh cần thực phẩm thì Bồ tát cung cấp, cần y phục thì Bồ tát cung cấp, cho đến những nhu yếu phẩm khác cũng vậy. Bồ tát hướng dẫn mọi người cùng bố thí, để cùng chúng sinh hưởng chung phúc đức này và hồi hướng về cõi Phật thanh tịnh. Đối với việc trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ cũng thực hành tương tự.”

Trong phẩm Phật Quốc thuộc kinh Duy Ma Cật quyển thượng, có nêu chi tiết từng sự thực tập. “Trực tâm” là Tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, chúng sinh nào không dối trá sẽ được sinh về cõi nước của Ngài. “Thâm tâm” cũng là Tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, chúng sinh nào đầy đủ công đức sẽ được sinh về cõi nước của Ngài. “Bồ đề tâm” là Tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, chúng sinh nào tu theo Đại thừa sẽ được sinh về cõi nước của Ngài. Các pháp bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, bốn tâm vô lượng, bốn nhiếp pháp, phương tiện, ba mươi bảy đạo phẩm, cho đến mười điều thiện đều là Tịnh độ của Bồ tát. Vì vậy, khi Bồ tát thành Phật, chúng sinh nào thành tựu đầy đủ các pháp này sẽ được sinh về cõi của Ngài. Do đó, Bồ tát muốn có cõi nước thanh tịnh thì tâm mình phải thanh tịnh, và khi tâm thanh tịnh thì cõi Phật cũng thanh tịnh.

Kinh A Súc Phật Quốc quyển hạ, phẩm Phật Bát Ni Hoàn, ghi: “Hỏi: Bồ tát tu những đức hạnh nào sẽ được sinh về cõi Phật A Súc? Đáp: Bồ tát phải học theo Phật A Súc, khi xưa Ngài cầu đạo Bồ tát đã tu tập Sáu Ba la mật.” Những trích dẫn trên cho thấy Tịnh độ được thành tựu từ trực tâm, thâm tâm của Bồ tát, cho đến việc thực hành mười điều thiện. Điều này tương đồng với nội dung trong Đại Phẩm Bát Nhã, chứng minh rằng nhờ việc tịnh hóa nghiệp thô nơi thân, khẩu, ý của người giáo hóa (Bồ tát) và đối tượng giáo hóa (chúng sinh) mà cõi Phật mới được thanh tịnh. Nghĩa là, chúng ta cùng nhau xa rời mười điều ác, thực hành mười điều thiện; xa lìa tham lam, sân hận, si mê để thực hành Lục Ba la mật; không chấp trước vào bản chất hay tướng trạng của các pháp, liễu đạt được Vô Tự Tính Không, sau đó hồi hướng công đức này cho cõi Phật. Đó cũng là việc dùng tất cả nghiệp lực thanh tịnh tốt đẹp của Bồ tát và chúng sinh để cùng kiến tạo cõi Phật. Do đó, để đạt được công đức như chư Phật, chúng ta phải phát tâm thành Phật, trải qua vô lượng kiếp, làm cho thân tâm an ổn, và hướng dẫn chúng sinh cùng thực hành để tâm được an yên.

Tâm an vạn sự an – Tâm tịnh trú xứ trang nghiêm 4

Vì chúng sinh thực hành pháp lành nên cõi Phật thanh tịnh. Vì họ không sát sinh nên được trường thọ. Vì không trộm cướp nên cõi Phật luôn phú quý an vui, ước nguyện thành tựu. Chúng sinh thực hành pháp lành như vậy nên kiến tạo được cõi Phật trang nghiêm.

Dưới mái hiên chùa – thân tâm an lạc

Tâm an vạn sự an là sự nghiệp phấn đấu chung của chư Phật, Bồ tát và mọi người

Tuy nhiên, năng lực đơn độc của một vị Bồ tát không thể thực hiện việc thanh tịnh một cõi Phật rộng lớn như vậy. Do đó, ban đầu Bồ tát giáo hóa chúng sinh nhằm tập hợp năng lực của họ để thành tựu ý nguyện. Tiếp đó, đây là sự nghiệp phấn đấu chung của chư Phật, Bồ tát và mọi người, cùng nhau chiêu cảm, phát huy kết quả lành, xây dựng một môi trường mà tất cả chúng sinh đều đã thanh tịnh thân, khẩu, ý. Vì vậy, việc chung tay xây dựng một cộng đồng xã hội lý tưởng như cõi Tịnh độ không thể thiếu sự tham gia của chúng ta. Bản thân mỗi người hoàn toàn có thể chủ động đồng hành cùng chư Phật Bồ tát để kiến lập mười phương Tịnh độ.

Luận Đại Tỳ Bà Sa quyển 134 viết: “Nếu cộng nghiệp của chúng sinh ở cõi này tăng trưởng thì thế giới thành tựu; còn nếu cộng nghiệp chúng sinh đã hết, thì thế giới hư hoại.” Luận Đại Trí Độ quyển 37, phẩm Thích Tập Tương Ưng, lại viết: “Có khả năng kiến tạo cõi Phật thanh tịnh, thành tựu chúng sinh, thì Bồ tát trụ trong sự tương ưng với Không; không còn chướng ngại, giáo hóa chúng sinh, làm cho họ thực hành mười điều thiện và các pháp lành. Vì chúng sinh thực hành pháp lành nên cõi Phật thanh tịnh; vì họ không sát sinh nên được trường thọ; họ không có trộm cướp nên cõi Phật luôn phú quý an vui, ước nguyện thành tựu. Chúng sinh thực hành pháp lành như vậy nên kiến tạo được cõi Phật trang nghiêm. Mặc dù chúng sinh làm thiện, nhưng cũng phải theo cùng hạnh nguyện của Bồ tát, nhờ nhân duyên sức phương tiện hồi hướng đến cõi Phật thanh tịnh, giống như con trâu kéo xe, phải có người đánh xe mới có thể đi đến chỗ mong muốn.”

Luận Đại Trí Độ quyển 7, phẩm Thích Sơ Phẩm, nói về nguyện của thế giới chư Phật: “Nếu làm phúc mà chẳng có phát nguyện thì chẳng có mục tiêu, lập nguyện là để dẫn đường, có như vậy mới thành tựu được mục tiêu. Lại nữa, việc trang nghiêm các thế giới Phật là việc lớn, nên cần phải có nguyện lực lớn.”

Điều này giống như sự hướng dẫn nhiệt huyết, trí tuệ của người lãnh đạo gương mẫu, cần kết hợp với sự đồng lòng, tích cực làm lành, nâng cao đức hạnh của người dân. Tịnh độ của chư Phật tuy là kết quả từ cộng nghiệp thanh tịnh thân, khẩu, ý của chúng sinh được giáo hóa, nhưng lý tưởng chung vẫn là hạnh nguyện của Bồ tát. Đây là yếu tố không thể thiếu, nếu không sẽ giống như chiếc xe không người lái, không thể đến được nơi cần đến. Trang nghiêm cõi Phật cũng không khác. Từ thực tế cuộc sống, khi mong muốn “tâm an vạn sự an”, chúng ta cần bình tâm quan sát thế giới, khởi tâm từ bi đối với thực trạng xã hội. Từ đó, nương theo Phật Bồ tát mà phát khởi hạnh nguyện, trau dồi trí tuệ, đức hạnh, giúp người giúp đời, thực hành Sáu Ba la mật, chung tay xây dựng cõi Tịnh độ ngay trong nhân gian.

Tâm an vạn sự an – Tâm tịnh trú xứ trang nghiêm 5

Mặc dù chúng sinh làm thiện, nhưng cũng phải theo cùng hạnh nguyện của Bồ tát, nhờ nhân duyên sức phương tiện hồi hướng đến cõi Phật thanh tịnh, giống như con trâu kéo xe, phải có người đánh xe mới có thể đi đến chỗ mong muốn.

Chú thích:

* Đại đức Tiến sĩ Thích Vạn Lợi: Ủy viên Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Phó Giám đốc Trung tâm Biên Phiên dịch tư liệu Phật giáo Quốc tế, nghiên cứu viên Viện Trần Nhân Tông Đại học Quốc gia Hà Nội, Phó ban thư ký dự án Dịch thuật và phát huy các tác phẩm phương Đông.

[1] Đại chính tạng, tập 8, tr.20.

Xem thêm: Phật giáo và tình yêu: Từ bi vô biên, hôn nhân đa dạng

[2] Đại chính tạng, tập 9, tr.235.

[3] Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, Trí Tịnh Toàn Tập – Tập 4 – Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh, phẩm “Nhập Bất Tư Nghị Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện” thứ bốn mươi, Tôn Giáo, Hà Nội, 2011, Tr.770.

[4] Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, Đại Tập 50 – Bộ Đại Tập I – Số 397 (Quyển 1- 48), Đại Phương Đẳng Đại Tập kinh, quyển 17, phẩm 8 “Bồ Tát Hư Không Tạng” (Phần 4), Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc, 2000, Tr.376-377.

[5] Phóng Quang bát nhã kinh quyển 3 phẩm Vấn Tăng Na, Đại chính tạng, tập 8, tr.20.

[6] Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, Đại Tập 31 – Bộ Bát Nhã XIV – Số 223 – 224, Đạo Hành Bát Nhã Ba la mật kinh quyển 6, phẩm 15 “Không Thoái Chuyển”, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc – Taiwan, 2000, Tr.837.

[7] Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, Đại Tập 32 – Bộ Bát Nhã XV – Số 225 – 230, Đại Minh Độ kinh, quyển 4, phẩm 11 “Không Thể Tính Kể”, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc – Taiwan, 2000, Tr.95.

[8] Đại chính tạng, tập 8, trang. 566.

[9] Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, Đại Tập 30 – Bộ Bát Nhã XIII – Số 221- 222, Phóng Quang Bát Nhã kinh, quyển 13, phẩm 59 “Thực Hành Trong Mộng”, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc, 2000, Tr.379-384.

[10] Ba thứ cấu uế: tham, sân, si, làm khổ chúng sinh; bệnh do bốn đại chẳng điều hoà sinh ra.

Khám phá: Thế Giới Bóng Tối Vẫy Gọi: Chìa Khóa Mở Cổng Quỷ Thần

[11] Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, Trí Tịnh Toàn Tập – Tập 7 – Bát Nhã Ba La Mật Kinh, Phẩm “Tịnh Phật Quốc” thứ tám mươi hai, Thời Đại, 2012, Tr.326.

[12] Đại chính tạng tập 11, tr.761.

[13] Đại chính tạng tập 14, trang. 538.

[14] Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, Đại Tập 93 Đại tỳ bà sa, quyển 134 Đại chủng uẩn luận về duyên, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc, 2000, Tr.379-384.

[15] Đại chính tạng, tập 25, tr.335.

[16] Đại chính tạng tập 25, tr.142.

Hãy cùng khám phá sâu hơn về những lời dạy quý báu và con đường dẫn đến sự bình an nội tại trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang