Bên cạnh việc giữ các chức vụ quan trọng trong Giáo hội và Mặt trận Tổ quốc, Thượng tọa Thích Giải Quảng còn được biết đến qua cuộc đời xuất gia đầy ý nghĩa từ thuở thiếu thời. Hành trình tâm linh của Ngài bắt đầu với sự đồng thuận của song thân, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trên con đường hướng Phật, khám phá sâu hơn về Chiasedaophat.
Tiểu sử Thượng tọa Thích Giải Quảng (1950 – 2019):
Thượng tọa Thích Giải Quảng, nguyên Phó Trưởng Ban Trị Sự GHPGVN tỉnh Quảng Nam, nguyên Chánh Thư ký Ban Trị Sự GHPGVN tỉnh Quảng Nam, nguyên Trưởng ban Hướng dẫn Phật tử GHPGVN tỉnh Quảng Nam, Trưởng ban Trị Sự kiêm Trưởng ban Tăng Sự GHPGVN thị xã Điện Bàn, nguyên Ủy viên Ủy ban MTTQVN huyện Điện Bàn, và là trụ trì Chùa Pháp Hoa, phường Vĩnh Điện, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Tôn dung Thượng tọa Thích Giải Quảng.
Thượng tọa sinh năm 1950, là con trai thứ hai trong gia đình có sáu người con (ba trai, ba gái). Thân phụ là cụ ông Nguyễn Đào và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Hồ. Ngay từ nhỏ, Thượng tọa đã được nuôi dưỡng trong truyền thống gia tộc hướng Phật. Năm 13 tuổi (1963), với sự đồng thuận của song thân, Ngài phát tâm xuất gia.
Ngài được cố Hòa thượng Thích Như Lâm (hiệu Minh Trí), trụ trì chùa Minh Giác (nay là chùa Pháp Hoa), H. Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nhận làm đệ tử. Khi đó, Ngài được ban pháp danh là Thị Chơn, ngày đêm tinh tấn tu tập kinh kệ theo thiền môn.
Sau một thời gian hành trì, Thượng tọa thọ giới Sa-di. Tiếp đó, Ngài theo học lớp Trung đẳng Phật học tại chùa Long Tuyền (Hội An) dưới sự Giám viện của cố Hòa thượng Thích Chơn Phát. Vào tháng 10 năm 1970, khi vừa tròn hai mươi tuổi, với pháp tự Giải Quảng, Ngài được Hòa thượng Giám viện cho thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn Vĩnh Gia – Đà Nẵng. Với tư chất thông minh, văn hay chữ tốt, Thượng tọa sớm tiếp thu tinh hoa Phật học, làm hành trang vững chắc cho con đường phụng sự Giáo hội sau này.
Trong thập niên 1970, trước những biến động xã hội và thay đổi chính sự, Thượng tọa tạm trở về đời sống cư sĩ để phụng dưỡng song thân. Giai đoạn 1984 – 1994, với pháp danh Cư sĩ Thị Chơn, Ngài đã tích cực tham gia các Phật sự của Giáo hội Phật giáo tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Các chức vụ Ngài đảm nhiệm bao gồm: Phó ban Hướng dẫn Phật tử tỉnh hội Phật Giáo Quảng Nam – Đà Nẵng, Phó ban Đại diện Phật giáo huyện Điện Bàn, và tham gia Ban kiến thiết trùng tu Chánh điện chùa Pháp Hoa.
Với tâm nguyện hoằng pháp lợi sanh không ngừng nghỉ, duyên lành hội đủ, vào năm 1995, Thượng tọa phát tâm xuất gia trở lại. Ngài cầu pháp cố Hòa thượng Thích Trí Nhãn, trụ trì tổ đình Chúc Thánh (Hội An), làm Y chỉ sư.
Năm 1996, tại Đại giới đàn Phước Huệ khai mở ở chùa Phổ Đà (Đà Nẵng), Thượng tọa được chư Tôn Giáo phẩm trong Ban Trị Sự Phật giáo tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng tín nhiệm, ban Tam đàn Cụ túc với pháp hiệu Huệ Quang. Từ đây, sự nghiệp Phật sự của Thượng tọa càng thêm phần khởi sắc và phát triển.
Luôn tâm niệm “Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật”, Thượng tọa đã xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với chính quyền địa phương. Ngài liên tiếp nhiều nhiệm kỳ được tín nhiệm mời tham gia Ủy viên UBMTTQVN thị xã Điện Bàn. Với tinh thần từ bi, Ngài đã thực hiện nhiều chuyến cứu trợ, xây dựng nhà tình nghĩa, tình thương cho đồng bào có hoàn cảnh khó khăn.

Tại chùa Pháp Hoa (Điện Bàn), sau thời gian dài gắn bó và hành đạo, với sự tín nhiệm của Ban hộ tự và tín đồ, vào ngày 5 tháng 6 năm 2008, Thượng tọa được Ban Trị sự PG tỉnh Quảng Nam bổ nhiệm làm trụ trì chùa Pháp Hoa. Dưới sự dẫn dắt của Ngài, chùa Pháp Hoa đã tổ chức nhiều khóa tu tập, hướng dẫn quy y cho đông đảo tín đồ. Đồng thời, Ngài cũng từng bước xây dựng, trùng tu ngôi phạm vũ khang trang với các hạng mục như nhà Tăng, nhà giảng, cổng tam quan, Quan Âm các, góp phần tô điểm cho ngôi chùa bên dòng sông Câu Lâu hiền hòa.

Dù bận rộn với nhiều công tác Giáo hội, Thượng tọa vẫn luôn chú trọng việc “tiếp dẫn hậu lai”. Ngài đã đào tạo được ba vị đệ tử xuất gia thọ Đại giới, tiếp nối sự nghiệp hoằng pháp. Trong số đó, Đại Đức Thích Đồng Hoàng, Trưởng tử của Ngài, đã khai sơn Phước Lâm Tịnh Viện tại Thừa Thiên Huế và thỉnh Thượng tọa chứng minh Viện Chủ khi Ngài còn tại thế. Đối với các tín đồ, dù sức khỏe không phải lúc nào cũng tốt, Thượng tọa vẫn luôn giản dị nhận lời thỉnh mời, tùy duyên đến những nơi tín đồ cần sự giúp đỡ về nghi lễ tâm linh, dù gần hay xa.
Thượng tọa luôn ý thức về con đường tu tập rộng lớn và những thử thách của cuộc đời. Ngay cả khi tuổi cao sức yếu, Ngài vẫn tinh tấn tu hành, dùng nội lực để vượt qua mọi chướng ngại, an nhiên tự tại.
Thuận theo lẽ vô thường, vào lúc 13 giờ 30 ngày 10 tháng 2 năm Kỷ Hợi (tức ngày 15 tháng 3 năm 2019), Thượng tọa đã an nhiên thị tịch, trụ thế 70 năm, với 23 hạ lạp. Ngài đã viên mãn công hạnh, xả bỏ báo thân, an nhiên tự tại.
Thượng tọa Thích Giải Quảng thuộc dòng Lâm Tế tông, pháp phái Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài từng giữ các chức vụ: nguyên Phó ban Trị sự kiêm Chánh Thư ký Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Quảng Nam, nguyên Trưởng ban Trị sự Phật giáo thị xã Điện Bàn, trụ trì Chùa Pháp Hoa. Pháp danh Ngài là Thị Chơn, pháp tự Giải Quảng, pháp hiệu Huệ Quang. Cố Thượng tọa, húy Nguyễn, đã để lại một tấm gương sáng về công hạnh phụng sự và đức độ khiêm cung.
Thông tin về Lễ tưởng niệm, cầu siêu Đại Tường cố Thượng tọa Thích Giải Quảng có thể được tìm thấy trong các thông báo chính thức của Giáo hội.
Hãy cùng khám phá sâu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của vị Thiền sư uyên bác này, cũng như những đóng góp to lớn của Ngài cho nền Đạo phật.
