Thiền Sư Chân Nguyên hé lộ giá trị nội dung Thiền Tông Bản Hạnh

gia tri noi dung tac pham thien tong ban hanh cua thien su chan nguyen 1 0852 1
0
(0)

Khám phá sâu hơn về Thiền Tông Bản Hạnh, một kiệt tác Quốc âm cổ xưa, được Thiền sư Chân Nguyên phục hưng và làm sống lại tinh thần thiền phái Trúc Lâm. Tác phẩm này không chỉ là một cột mốc văn học mà còn mở ra những góc nhìn mới về lịch sử và tư tưởng Phật giáo Việt Nam. Tìm hiểu thêm về hành trình tâm linh và triết lý sâu sắc tại chiasedaophat.com.

Chữ Nôm, ra đời dưới thời nhà Trần, đã được các Thiền sư ứng dụng rộng rãi trong thơ ca, thể hiện qua nhiều thể loại. Sự hình thành và phát triển của chữ Nôm đã mang lại bản sắc độc đáo cho văn học và ngôn ngữ Đại Việt. Trong khi các tác phẩm nổi tiếng còn sót lại từ thời nhà Trần như Cư Trần Lạc Đạo Phú, Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca, Giáo tử phú và Vịnh Vân Yên Tử Phú đã đưa chữ Nôm vào đời sống văn học, thì Thiền sư Chân Nguyên với tác phẩm Thiền Tông Bản Hạnh đã tạo tiếng vang lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc phục hưng tinh thần thiền phái Trúc Lâm sau hơn ba thế kỷ trầm lắng tại Việt Nam. Giới nghiên cứu hiện nay còn đánh giá Thiền Tông Bản Hạnh là tác phẩm Quốc âm cổ xưa nhất, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong sự phát triển của văn học chữ Nôm vào cuối thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII.

Tổng quan về tác giả và tác phẩm

Thiền sư Chân Nguyên (1647-1726), pháp danh Tuệ Đăng, là một nhân vật có nhiều đóng góp nổi bật vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII. Ngài phát nguyện xuất gia tu học Phật pháp từ năm 16 tuổi. Sau quá trình tu tập và tầm sư học đạo, Ngài đắc pháp với Thiền sư Minh Lương và được ban pháp hiệu Chân Nguyên. Trong suốt sự nghiệp hoằng pháp, Thiền sư đã cảm hóa và ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều tầng lớp xã hội, từ vua chúa, hoàng thân quốc thích, quan lại cho đến dân thường.

Vua Lê Hy Tông đã sắc phong cho Thiền sư danh hiệu Vô Thượng Công. Với uy tín, sức ảnh hưởng lớn lao cùng đạo hạnh cao thâm, Ngài tiếp tục được vua Lê Dụ Tông tin tưởng và phong làm Tăng thống, ban pháp hiệu Chánh Giác Hòa Thượng vào năm 1722. Thiền sư Chân Nguyên còn là người kế thừa y bát của thiền phái Trúc Lâm, trở thành trụ trì của hai ngôi chùa lớn nhất thuộc thiền phái này là Long Động và Quỳnh Lâm. Vào năm 80 tuổi, Thiền sư viên tịch vào sáng ngày 28 tháng 10 năm 1726. Sau khi Ngài hỏa thiêu, xá lợi được cung kính thờ phụng tại hai ngôi chùa trên.

Ngoài việc độ trì, giáo hóa chúng sanh theo hạnh nguyện hoằng pháp lợi sanh, Thiền sư Chân Nguyên còn trước tác nhiều tác phẩm giá trị. Đây là những đóng góp to lớn vào công cuộc trùng hưng Phật giáo Đại Việt cuối thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII. Mỗi tác phẩm ra đời đều phản ánh đặc điểm và bối cảnh tư tưởng xã hội đương thời. Như Giáo sư Hà Văn Tấn đã khẳng định: “Chính tất cả những đặc điểm của lịch sử Việt Nam đó quy định những đặc điểm tư duy-tư tưởng Việt Nam” [4, tr.48].

Giá trị nội dung tác phẩm Thiền Tông Bản Hạnh của Thiền sư Chân Nguyên 1

Thiền Tông Bản Hạnh là một tác phẩm văn học chữ Nôm, trong đó tác giả trình bày quan điểm cá nhân về thiền phái Trúc Lâm và cốt yếu của Thiền tông ở phần đầu và cuối tác phẩm.

Thiền sư Chân Nguyên: Bậc thầy hoằng pháp xuất sắc

Từ thế kỷ XVII, Phật giáo Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn phục hưng với sự du nhập của các thiền phái Lâm Tế và Tào Động. Nhận thức sâu sắc rằng Thiền phái Trúc Lâm là sự kết tinh tinh hoa trí tuệ Phật giáo Đại Việt, Thiền sư Chân Nguyên đã dốc lòng phục hưng thiền phái này. Ngài đã thực hiện việc trước tác, sưu tầm, hiệu đính và lưu hành các kinh điển, tác phẩm trước đó. Vào các năm 1704-1705, dưới triều vua Lê Hy Tông, Ngài đã biên soạn Thiền Tông Bản Hạnh, khơi dậy làn sóng phục hưng tinh thần thiền phái Trúc Lâm sau một thời gian dài gần như bị lãng quên. Thiền Tông Bản Hạnh là một tác phẩm văn học Phật giáo, được sáng tác theo lối diễn ca lịch sử bằng thể thơ lục bát. Tác phẩm đi sâu phân tích nhiều vấn đề về tôn giáo, triết học, lịch sử và văn học, với 760 câu thơ, bao gồm năm câu ngữ lục và bốn bài kệ bằng chữ Hán, trình bày lịch sử, công hạnh, hành trạng của các vị vua nhà Trần tại núi Yên Tử. Bên cạnh đó, Thiền sư Chân Nguyên còn bày tỏ quan điểm cá nhân về cốt lõi và phương pháp tu tập Thiền.

Thiền Tông Bản Hạnh là một tác phẩm văn học chữ Nôm, nơi tác giả trình bày quan điểm cá nhân về thiền phái Trúc Lâm và những yếu lý cốt lõi của Thiền tông ở phần mở đầu và kết thúc. Với vốn ngôn ngữ phong phú, Thiền sư Chân Nguyên đã mang đến cho người đọc cái nhìn sâu sắc về quá trình tu tập và giác ngộ của các vị vua nhà Trần lừng lẫy, đồng thời thể hiện rõ nét một số quan điểm nổi bật trong tư tưởng của Ngài về cốt lõi Thiền tông.

Giá trị nội dung của tác phẩm

Bối cảnh chiến tranh Đàng Trong – Đàng Ngoài tạm lắng, cùng với sự ổn định tương đối về chính trị và đời sống nhân dân, được phản ánh rõ nét trong tác phẩm Thiền Tông Bản Hạnh, minh chứng qua những câu thơ:

“Bốn phương khói tắt lửa lang

Phong điều vũ thuận dân khang thái bình

Được mùa hải yến hà thanh

Gia gia ngưỡng chúc thánh minh cửu trường”.

Tác phẩm đã đóng góp quan trọng vào công cuộc phục hưng tinh thần Thiền phái Trúc Lâm. Qua việc kể lại công hạnh và hành trạng của các vị vua nhà Trần, tác phẩm giúp mọi người hiểu sâu sắc hơn về một thiền phái quan trọng của dân tộc sau ba thế kỷ chìm lắng.

Với mong muốn “ôn cố tri tân” (ôn lại chuyện cũ để hiểu biết thêm về chuyện mới), Thiền Tông Bản Hạnh còn mang đến cho người đọc cái nhìn sâu sắc và dễ hiểu về triều đại nhà Trần, đặc biệt là hai vị vua anh hùng Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông, cùng những chiến công hiển hách đã đi vào lịch sử. Thế hệ đó đã tạo dựng nên hào khí Đông A bất diệt, rạng rỡ trang sử Việt, như nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần đã viết: “nhà Trần là một trong những cường quốc Đông Nam Á gắn liền với ba cuộc kháng chiến Mông Nguyên” [6, tr.130].

Tác phẩm đã khái quát lịch sử Thiền tông từ thuở Đức Phật còn tại thế, qua các vị Tổ sư Trung Hoa, cho đến sự nối tiếp truyền đăng của các Tổ sư Việt Nam – dòng Thiền tiếp thu tinh hoa từ Ấn Độ và Trung Hoa với nhiều tư tưởng đặc sắc. Lịch sử này được Thiền sư Chân Nguyên diễn bày:

“Tây Thiên Thích Ca là thầy,

Truyền cho Ca Diếp cùng thầy A Nan

Tính được nhị thập bát viên,

Hai mươi tám Tổ Tây Thiên thuở này”.

Hoặc:

“Một cây nở được năm chi,

Khai hoa kết quả đều thì chứng nên

Huệ Khả, Tăng Xán tục liên,

Đạo Tín, Hoằng Nhẫn, lục Thiền Huệ Năng”.

Tác phẩm còn chứa đựng nhiều tư tưởng Thiền học của Thiền sư Chân Nguyên, mang đậm dấu ấn đặc trưng của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, đặc biệt thể hiện rõ ở phần đầu và cuối tác phẩm. Ví dụ, Thiền sư viết về quan điểm “Phật tại Tâm”:

“Trần trần sát sát Như Lai,

Chúng sinh mỗi người mỗi có hoa sen”.

Giá trị nội dung tác phẩm Thiền Tông Bản Hạnh của Thiền sư Chân Nguyên 2

Với vốn ngôn ngữ phong phú, Thiền sư Chân Nguyên đã mang đến cho người đọc cái nhìn sâu sắc về quá trình tu tập và giác ngộ của các vị vua nhà Trần lừng lẫy, đồng thời thể hiện rõ nét một số quan điểm nổi bật trong tư tưởng của Ngài về cốt lõi Thiền tông.

Thiền sư Chân Nguyên: Nhà tư tưởng lớn của thế kỷ 17

Sử dụng thủ pháp nghệ thuật ẩn dụ, hoa sen tượng trưng cho Phật tính. Theo Thiền sư, Phật tính luôn hiện hữu trong mỗi con người, hiển hiện ngay trong cuộc sống đời thường. Phật tính luôn bình đẳng, không phân biệt, bởi lẽ “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tính” (Tất cả chúng sinh đều có Phật tính). Do đó, Thiền sư viết:

“Ai khôn chớ chạy Đông Tây

Xem thêm: Chân Ngôn Chữa Lành: Âm Thanh Tĩnh Lặng, Giác Ngộ Sâu Sắc

Bôn trì Nam Bắc luống công mê hồn”.

Theo quan niệm của Ngài, Đức Phật không ở phương Tây hay một cõi nào xa xôi, mà hiện hữu ngay trong giây phút hiện tại. Chính vì “Phật tại Tâm”, tư tưởng của Ngài đề cao việc “giác tri tự tính” (nhận biết bản tâm của mình), vốn là cái sẵn có. Vì vậy, Ngài khẳng định:

“Chân như tính vốn thiên nhiên

Vô tạo vô tác căn nguyên của nhà”.

Chân như là trạng thái tự nhiên, nhưng do vô minh che lấp, con người nhận lầm cái giả làm cái thật, chạy theo tham dục, tà kiến, tìm cầu những điều xa vời. Như Đức Phật đã dạy: “Sắc, này các Tỷ-kheo, đang bốc cháy; thọ đang bốc cháy; tưởng đang bốc cháy; hành đang bốc cháy; thức đang bốc cháy!” [1, tr.132]. Con người vì thế mà sẵn sàng làm mọi việc để thỏa mãn dục vọng, tham ái và sân si. Nguyên nhân sâu xa là do vô minh che mờ, khiến con người không nhận ra bản chất huyễn hoặc, giả tạm của cuộc đời, vì “Phàm sở hữu tướng do như thị vọng” (Mọi tướng hữu hình đều là hư vọng) mà chạy theo. Thiền sư chỉ rõ:

“Khuyên người học đạo trí khôn

Giác tri tự tính chớ còn tìm đâu”.

Qua đó, có thể thấy rõ quan điểm cầu đạo giác ngộ của Ngài không nằm ở việc trực nhận những cảnh giới cao siêu, mà phụ thuộc vào việc trực kiến tự tính của chính mình. Điều này tương đồng với lời dạy của vua Trần Thái Tông: “Phù học đạo chi nhân, duy cầu kiến tính” (Phàm người học đạo, chỉ cần thấy tính) [8, tr.87]. Quan điểm này cũng phù hợp với tinh thần “phản kỷ tự thân” (quay về với chính mình) mà Đức Phật luôn khích lệ đệ tử: hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, tự mình làm hải đảo cho chính mình. Khi nhận ra lẽ thật, thấu suốt tính hư ảo, con người sẽ không còn bị ràng buộc hay sai khiến bởi tham dục. Việc học đạo nhờ đó mà tiến bộ nhanh chóng. Ngược lại, nếu hiểu lầm cái giả là thật, cái huyễn là chân, hoặc bám víu vào tham ái đời thường, thì con đường tu hành cũng trở nên vô ích, tựa như việc nấu cát để thành cơm hay gãi ngứa trên đôi giày.

Khi “giác tri tự tính”, bản thể Chân Như sẽ tự nhiên hiển bày. Khi ngộ được cái “vô sở đắc” (không có gì để đạt được) và “bất nhị pháp môn” (pháp môn không hai), con người sẽ không còn bị lệ thuộc vào bất cứ điều gì mà đạt được sự tự tại, an nhiên. Sự tự tại, an nhiên này vốn sẵn có, tự nhiên, không hình tướng, không bám chấp, không nằm trong văn tự hay vọng duyên. Thiền sư đã chỉ ra rất rõ ràng:

“Thuở xưa trời đất chưa sinh,

Cha mẹ chưa có thực mình chân không

Chẳng có tướng mạo hình dung,

Tịch quang phổ chiếu viên đồng thái hư”.

Ngoài việc kế thừa những tư tưởng này từ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Thiền sư Chân Nguyên, với sự chứng ngộ của bản thân, còn thể hiện một quan điểm mới mẻ và đặc sắc về “thật tính Chân Như”, nhưng không nằm ngoài mục đích giải thoát. Đó chính là “tự tính trạm viên” (tính giác viên mãn, tĩnh lặng và bao trùm tất cả):

“Hoa là bản tính trạm viên

Bao hàm thiên địa dưới trên cùng bằng”.

Quan điểm của Thiền sư Chân Nguyên có sự dung hòa giữa pháp môn Đốn ngộ và Tiệm ngộ. Đối với pháp môn Đốn ngộ, Thiền sư đề cập đến các phương pháp thiền tông như: “bổng đầu” (gõ đầu), “cử nhãn” (mắt nhìn lên), “ấn tri” (chứng minh là đã biết),… Những phương pháp này đều được người thầy uyển chuyển vận dụng để truyền đạt tùy theo căn cơ của người học đạo.

Thiền sư luôn đề cao lối khai thị độc đáo, đặc biệt là phương pháp “Tứ mục tương cố” (bốn mắt nhìn nhau), xuất hiện trong tác phẩm đến bảy lần. Điều này xuất phát từ việc Ngài được Thiền sư Minh Lương sử dụng phương pháp này để khai thị, giúp Ngài giác tri tự tính và được truyền tâm ấn. “Tứ mục tương cố” là một phương pháp mà theo Thiền sư:

Khám phá: Tân Mùi 1991 Khai Vận Tài Lộc: Tháng 12/2024 Đón Ngày Vượng Sự Vẹn Toàn

“Tam thế chư Phật Tổ sư

Tứ mục tương cố thị cừ Thiền cơ”.

Hoặc:

“Hóa Phật thọ ký vô biên

Tứ mục tương cố mật truyền tâm tông”.

“Bốn mắt nhìn nhau” chính là thiền cơ, là sự truyền tâm bí mật, giống như khi Đức Thế Tôn giơ đóa sen lên, chỉ có Ngài Ca Diếp trong hội chúng hiểu được ý Ngài:

“Thuở xưa hội cả Kỳ Viên

Bụt cầm một đóa hoa sen giơ bày

Ca Diếp trí tuệ khôn thay

Liễu ngộ tự tính bằng nay mỉm cười”.

Giá trị nội dung tác phẩm Thiền Tông Bản Hạnh của Thiền sư Chân Nguyên 3

Với thủ pháp nghệ thuật ẩn dụ, hoa sen tượng trưng cho Phật tính. Theo Thiền sư, Phật tính luôn hiện hữu trong mỗi con người, hiển hiện ngay trong cuộc sống đời thường. Phật tính luôn bình đẳng, không phân biệt, bởi lẽ “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tính”.

Thiền viện Trúc lâm Chân Nguyên: Nơi có đàn khỉ hoang dã lớn nhất Việt Nam

Yếu chỉ của Thiền tông là “trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật” (chỉ thẳng vào tâm thật, thấy tánh thành Phật). Các phương pháp khai thị này đều nhằm mục đích chỉ thẳng vào chân tâm, ấn tâm và truyền tâm. Không chỉ dừng lại ở phương pháp Đốn ngộ, Thiền sư Chân Nguyên còn kết hợp quan điểm Thiền – Tịnh song tu. Ngài sử dụng các lối khai thị của Thiền tông nhưng vẫn mang bóng dáng của Tịnh độ tông. Tuy nhiên, Ngài xem câu niệm Phật là một phương tiện để giáo hóa. Niệm danh hiệu Phật để vãng sanh Tịnh độ chỉ là thế giới bên ngoài người niệm Phật; thực chất, niệm Phật mà Ngài muốn đề cập chính là “tự tính Di Đà” (Phật A Di Đà trong tự tâm). Do đó, tư tưởng niệm Phật của Thiền sư cuối cùng được đúc kết trong câu cuối của tác phẩm Tịnh Độ Yếu Nghĩa:

“Tịnh độ rõ ràng ngay trước mắt

Phút giây không nhọc đến Tây thiên

Pháp thân đẹp quá siêu ba cõi

Hóa hiện Di Đà ngồi chín sen” [5, tr.176].

“Tịnh độ rõ ràng ngay trước mắt” thể hiện quan điểm Phật luôn hiện hữu trong thực tại, theo đó con người tìm thấy Đức Phật bên trong sự thanh tịnh của tâm mình. Thiền sư, vốn xuất thân từ Trúc Lâm Yên Tử, là người tiên phong trong công cuộc phục hưng tinh thần thiền phái Trúc Lâm và kế thừa tư tưởng này từ các bậc cao tăng cùng phái. Như vua Trần Thái Tông đã dạy trong Niệm Phật luận:

“Ư niệm Phật thì chánh thân đoan tọa, bất hành tà hạnh, thị tức thân nghiệp dã. Khẩu tụng chân ngôn, bất đạo tà ngữ, thị tức khẩu nghiệp dã, ý tồn tinh tiến, bất khởi tà niệm, thị tức ý nghiệp dã”. (Trong lúc niệm Phật, thân thẳng ngồi ngay, không làm việc tà, như vậy là tắt được nghiệp thân. Miệng tụng lời chân chính, không nói điều xằng bậy, thế là tắt được nghiệp miệng. Ý chăm chú ở sự tinh tiến, không nảy sinh ý nghĩ tà, thế là tắt được nghiệp ý) [8, tr.84-85].

Lời dạy này đồng mục đích với việc dẹp bỏ những tà niệm, thay vào đó là những niệm chân chính. Tương tự, quan điểm của vua Trần Nhân Tông: “Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương, Di Đà là tự tánh sáng soi, mựa phải nhọc tìm về cực lạc” [8, tr.505].

Đó chính là sự kết hợp pháp môn Tịnh Độ như một phương thức tu Thiền nhằm dừng lại các vọng tưởng. Học giả Nguyễn Duy Hinh lý giải thêm cho tư tưởng này qua hình tượng Chân Nguyên Thiền sư xây dựng các tòa cửu phẩm liên hoa, nhận xét: “… tòa Cửu phẩm Liên Hoa này không phải vật chứng về sự tồn tại của tông Tịnh Độ mà là vật chứng về Thiền Tịnh tịnh tu” [2, tr.668-674]. Hai pháp môn này tương hỗ lẫn nhau, giúp hành giả đạt được kết quả trên con đường tu tập. Trong Thiền Tông Bản Hạnh, Thiền sư Chân Nguyên đề cập:

“Những người niệm Bụt Di Đà Phật danh

Tìm hiểu thêm: Thập Bát La Hán: Những Vị La Hán Truyền Lửa Giác Ngộ Của Phật Thích Ca

Cùng về Cực Lạc hóa sinh,

Mình vàng vóc ngọc quang minh làu làu

Tiêu dao khoái lạc chẳng âu,

Bất sinh bất diệt ngồi lầu Tòa Sen”.

Khi hành giả đạt được “bất sanh, bất diệt ngồi lầu tòa sen”, điều đó đồng nghĩa với việc họ đã “giác tri tự tính” trong Thiền tông, chứng đạt quả vị giác ngộ, hoàn thành mục đích cuối cùng trong tu tập.

Trong công cuộc chấn hưng Phật giáo Đàng Ngoài vào cuối thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII, Thiền sư Chân Nguyên cùng các đệ tử đã tiến hành trùng khắc và hiệu đính nhiều tác phẩm trước đó bị thất lạc. Việc giới thiệu sách Thánh Đăng Ngữ Lục cũng mang cùng mục đích với việc Thiền sư trước tác Thiền Tông Bản Hạnh. Ngài đã viết rất rõ ràng:

“Đạo truyền từ cổ chí câm (kim)

Thánh Đăng Ngữ Lục ấn tâm trường tồn”.

Ngài khuyến khích việc in ấn tác phẩm này vì Thánh Đăng Ngữ Lục ghi chép về năm vị vua nhà Trần, và được dùng làm căn cứ để viết Thiền Tông Bản Hạnh. Đây là một quyển sách vô cùng quan trọng đối với người tu thiền. Thiền sư Chân Nguyên đã tán thán:

“Xem Thánh Đăng Lục giảng ra

Kéo đèn Phật Tổ sáng hòa Tam thiên”.

Điều này có nghĩa là việc xem quyển Thánh Đăng Lục giảng giải cũng tương tự như việc thắp sáng ngọn đèn trí tuệ, ngọn đèn mà chư Tổ đã tìm ra, sẽ tỏa sáng khắp tam thiên, đại thiên thế giới, và giáo pháp, chân lý Đức Phật tìm ra sẽ mãi lưu truyền. Trong lời tựa sách Thánh Đăng Lục Giảng Giải, Thiền sư Thanh Từ cũng nhấn mạnh: “sẽ là một thiếu sót lớn nếu học Thiền Tông Bản Hạnh mà không biết đến tác phẩm này, vì Thánh Đăng Ngữ Lục là một tác phẩm giúp người học đạo nhận ra trọng trách tu hành đúng với Thiền tông” [7, tr.1].

Giá trị nội dung tác phẩm Thiền Tông Bản Hạnh của Thiền sư Chân Nguyên 4

Quan điểm của Thiền sư Chân Nguyên có sự dung hòa giữa pháp môn Đốn ngộ và Tiệm ngộ.

Tinh thần dung hợp giữa Thiền tông và Tịnh độ

Tóm lại, sự ra đời của tác phẩm Thiền Tông Bản Hạnh mang ý nghĩa to lớn trong bối cảnh xã hội đầy biến động lúc bấy giờ. Như những phân tích trên, chúng ta thấy rằng tác phẩm không chỉ có giá trị lịch sử mà còn chứa đựng nhiều giá trị tư tưởng sâu sắc về văn hóa và triết học tôn giáo. Trước tình hình thế sự không ổn định, Thiền sư Chân Nguyên tìm đến con đường kể lại lịch sử, với mong muốn mọi người học hỏi và noi gương các vị vua nhà Trần.

Khi viết về triều Trần, Thiền sư Chân Nguyên gửi gắm mong ước về một đất nước thống nhất, độc lập, hưng thịnh, nơi nhân dân được sống trong an bình dưới ánh sáng chánh pháp, như các vị vua triều Trần đã gây dựng. Những phân tích về tư tưởng trên khẳng định Thiền sư Chân Nguyên là người có công lớn trong việc phục hưng Thiền phái Trúc Lâm tại Đàng Ngoài, trong bối cảnh Phật giáo Trúc Lâm đang có nguy cơ bị lãng quên. Quan niệm về Thiền của Thiền sư Chân Nguyên mang nhiều sắc thái đặc biệt, mới mẻ, nhưng vẫn giữ vững tinh thần cốt lõi của Thiền tông Trúc Lâm, luôn hướng đến việc cống hiến cho đạo pháp và xã hội.

Thiền sư Chân Nguyên vừa là một Thiền sư, vừa là một nhà tư tưởng Phật giáo lỗi lạc của thế kỷ 17, đồng thời cũng là một thi Tăng. Các trước tác của Ngài xứng đáng là một trong những ngọn đuốc soi sáng, đóng góp vô cùng quan trọng cho nền văn học Trung đại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. Thích Minh Châu dịch (1991), Kinh Tương Ưng, tập 3, Nxb Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, TP.HCM.

2. Nguyễn Duy Hinh (1999), Tư Tưởng Phật Giáo Việt Nam, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội.

3. Nhiều Tác Giả (1981), Tìm hiểu Xã hội Việt Nam thời Lý – Trần, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

4. Hà Văn Tấn (2019), Cửa sổ Lịch sử-Văn hóa Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, TP.HCM.

5. Lê Mạnh Thát (2018), Toàn tập Chân Nguyên Tuệ Đăng, tập 2, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.

6. Nguyễn Khắc Thuần (2002), Nước Đại Việt thời Lý Trần, Nxb Thanh Niên, TP.HCM.

7. Thích Thanh Từ (1998), Thiền Tông Bản Hạnh giảng giải, Nxb TP.HCM.

8. Thích Thanh Từ (1999), Thánh Đăng Lục giảng giải, Nxb TP.HCM.

9. Viện Văn Học (1989), Thơ Văn Lý-Trần, tập 2, Quyển thượng, Nxb KHXH, Hà Nội.

Khám phá sâu hơn về những giá trị sâu sắc được Thiền sư Chân Nguyên hé lộ trong Thiền Tông Bản Hạnh và các khía cạnh khác của Phật giáo Việt Nam tại chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang