Cuộc đời của Thiền sư Minh Châu Hương Hải là hành trình đầy biến động, gắn liền với bối cảnh lịch sử triều đình và sự nghiệp khai phá phương Nam. Từ một thế gia vọng tộc đến với đạo Phật, con đường tu hành của ông ẩn chứa nhiều điều lý thú, mời bạn khám phá chi tiết trên Chiasedaophat.
Thiền sư Minh Châu Hương Hải (1628 – 1715) – Phái Trúc Lâm
Tổ tiên của Thiền sư Minh Châu Hương Hải quê ở làng Áng Độ, huyện Châu Phúc. Ông nội của Thiền sư là người giữ chức vụ bốn đời, từng làm Phó cai quan, tước Trung Lộc Hầu. Khoảng niên hiệu Chánh Trị (1558-1571) dưới triều vua Lê Anh Tông, Trung Lộc Hầu đã theo Đoan quốc công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Quảng Nam. Nhờ sự tin tưởng và tín nhiệm của Nguyễn Hoàng, ông được thăng chức Chánh cai quan, phụ trách đội ngũ thợ thuyền đóng tàu. Công lao của ông được Nguyễn Hoàng tâu lên triều đình, vua Lê đã ban hiệu Khởi Nghĩa Kiệt Tiết Công Thần, cấp cho ba mươi mẫu ruộng và cho phép con cháu được thế tập.
Thuở thiếu thời, Thiền sư đã bộc lộ trí thông minh và tài năng xuất chúng. Năm 18 tuổi, ông thi đỗ Hương tiến (tương đương Cử nhân) và được tuyển chọn vào làm Văn chức trong phủ chúa Nguyễn. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm Tri phủ Triệu Phong (nay thuộc tỉnh Quảng Trị). Đến năm 25 tuổi, nhận thấy sự hấp dẫn sâu sắc của Phật pháp, ông đã tìm đến Thiền sư Viên Cảnh tại Lục Hồ để học đạo. Tại đây, Thiền sư Viên Cảnh đã đặt pháp danh cho ông là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự Minh Châu Hương Hải. Sau này, ông tiếp tục tham học dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Đại Thâm Viên Khoan.
Sau hơn ba năm tu tập, Thiền sư đã từ quan để xuất gia. Ông dong thuyền ra biển Nam Hải, an trú trên đỉnh núi Tim Bút La, nơi ông tự cất ba gian nhà tranh để tu hành. Tại đây, ông chuyên tâm vào thiền định và giữ gìn giới luật một cách nghiêm túc trong hơn tám tháng. Khu vực xung quanh nơi ông tu hành, bao gồm biển Ngọa Long Hải và cù lao Đại Lãnh, vốn là những nơi ít người lui tới và được cho là trú ngụ của ma quái. Chúng đã nhiều lần tìm cách quấy nhiễu, cản trở sự tu hành của ông, nhưng tâm trí của Thiền sư vẫn kiên định, không hề lay chuyển.
Một đêm nọ, vào khoảng canh hai, các đồ đệ của Thiền sư đã chứng kiến một con ma đen sì, cao khoảng hai trượng, sồng sộc lao vào rồi biến mất. Đến cuối canh ba, một con rắn lớn bò đến quấn chặt lấy Thiền sư. Dù không thể cử động, ông vẫn cố gắng tiến đến bàn Phật và niệm chú thần đao, khiến con rắn phải biến mất. Một lần khác, vào ban ngày, mây đen bỗng kéo đến mù mịt, gió thổi ào ào, cây cối gãy đổ, mái nhà bị tốc lên. Giữa khung cảnh hỗn loạn đó, vang lên tiếng kêu như ngàn muôn con mèo. Tuy nhiên, Thiền sư vẫn giữ thái độ điềm nhiên, không chút sợ hãi.
Trong một dịp khác, vào đêm khuya thanh vắng, khi Thiền sư đang ngồi thiền trước điện Phật, hương đèn vẫn sáng rực, ông bỗng thấy quân ma với cả nam lẫn nữ bao vây tứ phía. Chúng cầm giáo, cầm mác, dắt trâu, dắt ngựa, dắt voi, hiện ra với muôn hình vạn trạng. Thiền sư cảm thấy đau bụng, mắt mờ đi, không còn nhìn thấy ánh sáng đèn. Với chí nguyện Kim Cương, ông tưởng tượng ra lửa tam-muội để đốt cháy thân mình và cả thế giới. Ngay lập tức, chúng ma tan biến, cảnh vật trở lại quang minh như trước.
Nhận thấy vùng đất này là “ác địa” và khó khăn cho việc giáo hóa, Thiền sư đã quay trở về quê cũ tại làng Bình An thượng, phủ Thăng Hoa, xứ Quảng Nam. Một đêm nọ, có người Mán đến gõ cửa và tha thiết mời ông trở lại đảo Tim Bút La. Khi được hỏi nguyên do, người Mán giải thích rằng, kể từ khi Thiền sư rời đi, cả ba đền thờ trên đảo là đền Cao Các Đại Vương, đền Phục Ba Đại Vương và đền Bô Bô Đại Vương đều có vị thần đồng hiện về và nói rằng: “Hôm nọ bọn ma tinh tác quái mấy lần để làm não hại Pháp sư, chúng ta ngồi yên xem thử coi ai thắng ai bại. Chúng ta thấy Pháp sư biến hình biến tướng chẳng biết ở đâu, khiến chúng ma tinh phải lui hết. Chúng ta thấy Pháp sư thật là đạo hạnh kiêm toàn, vì vậy nên báo cho dân làng biết đi thỉnh Sư về trụ trì ở đây.” Nghe lời thỉnh cầu này, Thiền sư cùng các đệ tử lại dong thuyền ra đảo Tim Bút La. Từ đó, ông chuyên tâm tu hành tại đây hơn tám năm mà không gặp bất kỳ chướng ngại nào, được nhân dân vô cùng ngưỡng mộ.
Thuần Quận công, người trấn thủ Quảng Nam, có người vợ bị bệnh lâu ngày không khỏi. Nghe danh tiếng của Thiền sư, ông đã sai người đến thỉnh. Thiền sư đã lập đàn tụng kinh liên tục bảy ngày đêm, giúp bệnh của phu nhân thuyên giảm. Cả gia đình ông đều kính phục và xin quy y với Thiền sư. Sau khi hoàn thành việc, Thiền sư trở về đảo Tim Bút La.
Hơn nửa năm sau, Tổng thái giám Hoa Lễ Hầu ở Quảng Nam, người bị bệnh lao suốt ba năm, cũng nghe danh Thiền sư và cho thuyền đến đón về trị bệnh. Thiền sư đã về lập đàn Đại sám hối trong mười ngày, giúp bệnh của ông khỏi hẳn. Hoa Lễ Hầu sau đó trở về Thuận Hóa và kể lại sự việc cho Dũng quốc công Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền, trị vì 1648-1687). Chúa Hiền vô cùng ngưỡng mộ, đã sai sứ giả đến thỉnh Thiền sư về phủ. Chúa Hiền đích thân ra cửa đón Thiền sư, hỏi han và luận bàn đạo lý. Sau đó, ông cho xây dựng Thiền Tĩnh Viện tại núi Quy Kính và mời Thiền sư trụ trì.
Tại núi Quy Kính, Thiền sư đã hoằng hóa rộng rãi. Bà Quốc Thái phu nhân cùng ba vị công tử là Phúc Mỹ, Hiệp Đức và Phúc Tộ đều xin quy y. Quan, dân, quân lính cũng kính mộ và xin quy y, tổng cộng lên đến một ngàn ba trăm người.
Vào thời điểm này, có quan thị nội giám Gia Quận công, người làng Thụy Bái, huyện Gia Định (ngoài Bắc), đang tòng quân đánh Thuận Hóa thì bị Phúc Tần bắt giữ. Tuy nhiên, Phúc Tần đã tha cho ông để có thể ra vào dạy dỗ trong nội cung. Gia Quận công thường xuyên lui tới nghe Thiền sư thuyết pháp. Có kẻ ganh ghét đã tâu với chúa Nguyễn rằng hai người đang âm mưu trốn về Bắc. Chúa Nguyễn nghi ngờ, đã bắt Thiền sư và Gia Quận công tra tấn. Tuy nhiên, không có bằng chứng nào được đưa ra. Cuối cùng, chúa Nguyễn ra lệnh cho Thiền sư trở về Quảng Nam.
Vì lý do này, Thiền sư đã quyết tâm trở về Bắc. Ông bí mật chuẩn bị một chiếc thuyền cùng năm mươi đệ tử để vượt biển. Về đến đồn Trấn Lao, ông yết kiến quan Đốc Sư là Yên Quận công Trịnh Na. Trịnh Na đã dâng sớ lên triều đình báo cho vua Lê. Thời điểm này là tháng ba năm Nhâm Tuất, niên hiệu Chính Hòa thứ ba (1682). Chúa Trịnh (Trịnh Tạc) đã sai Đường Quận công mang thuyền đến đón Thiền sư về kinh. Khi đến kinh, Thiền sư tạm trú tại công quán. Chúa Trịnh đã sai Nội Giám Nhương Quận công và Bồi Tụng Lê Hy đến tra hỏi lý lịch, đồng thời triệu người làng Áng Độ đến để nhận diện.
Sau khi xác minh đúng sự thật, Chúa Trịnh đã mời Thiền sư vào triều để thăm hỏi, ban chức Vụ Sử, thưởng ba trăm quan tiền, mỗi năm cấp hai mươi bốn lậu thóc, ba mươi sáu quan tiền và một tấm vải trắng. Các đệ tử của Thiền sư mỗi người cũng được cấp mười hai lậu thóc và mười hai quan tiền mỗi năm. Chúa Trịnh còn sai Thiền sư vẽ địa đồ của hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam. Thiền sư đã vâng lệnh, vẽ bản đồ rất rõ ràng và dâng lên. Chúa Trịnh khen ngợi và thưởng cho ông hai ngàn quan tiền.
Tháng tám cùng năm, Chúa Trịnh sai đưa Thiền sư về ở tại công quán trấn Sơn Tây. Sau hơn tám tháng ở đây, Chúa lại dời Thiền sư về trấn Sơn Nam và ra lệnh cho quan trấn thủ Lê Đình Kiên đo ba mẫu quan thổ để cất am cho Thiền sư. Lúc này, Thiền sư đã 56 tuổi.
Về am này, Thiền sư càng tinh tấn tu hành, luôn giữ tâm chánh định, giới luật nghiêm minh, không hề lười biếng sớm hôm. Ông đã chú giải các bộ kinh bằng chữ Nôm, hoàn thành ba mươi thiên và cho khắc bản để ấn hành.
Năm Canh Thìn, niên hiệu Chính Hòa (1700), Thiền sư chuyển đến ở chùa Nguyệt Đường. Tại đây, ông có hơn bảy mươi học trò đều tinh thông kinh luật. Thiền sư đã cho xây dựng lại chùa Nguyệt Đường trở nên rộng rãi và khang trang. Chính tại nơi đây, ông đã góp phần làm hưng thịnh trở lại phái Trúc Lâm.
Vua Lê Dụ Tông, vì hiếm muộn con cái, đã mời Thiền sư vào nội điện để lập đàn cầu tự. Lúc bấy giờ, Thiền sư đã 78 tuổi. Khi vào chầu, vua rất kính trọng và hỏi Thiền sư: “Trẫm nghe Lão sư học rộng nhớ nhiều, vậy xin Lão sư thuyết pháp cho trẫm nghe để trẫm được liễu ngộ.”
Thiền sư đáp: “Xin bệ hạ chí tâm nghe cho thật hiểu bốn câu kệ này:
Hằng ngày quán lại chính nơi mình
Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh
Trong mộng tìm chi người tri thức
Mặt thầy sẽ thấy trên mặt mình.
(Phản văn tự kỷ mỗi thường quan
Thẩm sát tư duy tử tế khan
Mạc giáo mộng trung tầm tri thức
Tương lai diện thượng đổ sư nhan.)”
Vua lại hỏi: “Thế nào là ý của Phật?”
Thiền sư liền đáp:
“Nhạn bay trên không
Bóng chìm đáy nước
Nhạn không ý để dấu
Nước không tâm lưu bóng.”
(Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm.)
Vua khen ngợi: “Lão sư thông suốt thay!”
Tháng sáu năm Giáp Ngọ, niên hiệu Vĩnh Thịnh (1714), Thiền sư đã 87 tuổi. Chúa Trịnh Cương (Hi Tổ), khi đi kinh lý, đã ghé thăm chùa và phát một ngàn quan tiền để cúng dường.
Vào thời điểm này, đệ tử của Thiền sư vô cùng đông đảo. Ông đã cho làm sổ ghi pháp hiệu, có bảy mươi vị pháp tử, thuộc hàng Thượng tọa đệ nhất. Các pháp tử được đặt pháp hiệu theo thứ tự các chữ mà Thiền sư đã quy định, như Viên Thông, Chân Lý, v.v. Còn các pháp điệt (cháu trong đạo) thì vô số kể.
Thiền sư thường đọc lại những câu kệ xưa để dạy đồ chúng, trong đó có hai bài kệ:
- Sư tử quật trung sư tử
Chiên-đàn lâm lý chiên-đàn
Nhất thân hữu lại càn khôn khoát
Vạn sự vô ưu nhật nguyệt trường.
Dịch:
Sư tử trong hang sư tử
Chiên-đàn trong rừng chiên-đàn
Một thân nhờ có trời đất rộng
Muôn việc không lo ngày tháng dài.
- Long đắc thủy thời thiêm ý khí
Hổ phùng sơn xứ trưởng uy nanh
Nhân qui đại quốc phương tri quý
Thủy đáo Tiêu Tương nhất dạng thanh.
Dịch:
Được nước rồng càng thêm ý khí
Gặp non cọp mới trổ oai hùng
Người về đại quốc thành cao quý
Nước đến Tiêu Tương một sắc trong.
Trên nơi Thiền sư thường ngồi, có yết ba bài tụng:
- Phu tử bất thức tự
Đạt-ma bất hội thiền
Huyền diệu vô ngôn ngữ
Thiết mạc vọng lưu truyền.
Dịch:
Khổng Tử không biết chữ
Đạt-ma chẳng hội thiền
Huyền diệu không lời nói
Cốt đừng dối lưu truyền.
- Tầm ngưu tu phỏng tích
Học đạo quý vô tâm
Tích tại ngưu hoàn tại
Vô tâm đạo dị tầm.
Dịch:
Tìm trâu phải noi dấu
Học đạo quý vô tâm
Dấu còn trâu nào mất
Vô tâm đạo dễ tầm.
- Sanh tùng hà xứ lai
Tử tùng hà xứ khứ
Tri đắc lai khứ xứ
Phương danh học đạo nhân.
Dịch:
Sanh từ chỗ nào đến?
Chết sẽ đi nơi nào?
Biết được chỗ đi đến.
Mới gọi người học đạo.
Khi nhàn hạ, Thiền sư thường ngâm hai bài kệ:
- Thành thị du lai ngụ tự triền
Tùy cơ ứng biến mỗi thời nhiên
Song chiêu nguyệt đáo thiền sàng mật
Tùng tiếu phong xuy tĩnh khách miên.
Sắc ảnh lâu đài minh sắc diệu
Thanh truyền chung cổ diễn thanh huyền
Nguyên lai tam giáo đồng nhất thể
Nhậm vận hà tằng lý hữu thiên.
Dịch:
Dạo qua thành thị nghỉ chùa chiền
Tùy cơ ứng biến lẽ đương nhiên
Trăng dòm cửa mở giường kê sát
Gió thổi thông cười khách ngủ yên.
Lầu đài rực rỡ mầu đẹp đẽ
Chuông trống vang rền tiếng diệu huyền.
Ba giáo nguyên lai cùng một thể
Xoay vần đâu có lẽ nào thiên.
- Thượng sĩ thường du Bát-nhã lâm
Trần cư bất nhiễm liễu thiền tâm
Liêm Khê Trình Thị minh cao thức
Tô Tử Hàn Văn khế diệu âm.
Vạn tượng sum la cao dị hiển
Nhất biều tạo hóa mật nan tầm
Nho nguyên đãng đãng đăng di khoát
Pháp hải trùng trùng nhập chuyển thâm.
Dịch:
Thượng sĩ thường chơi cảnh tùng lâm
Phong trần không vướng hội thiền tâm
Liêm Khê, Trình Hiệu người thông suốt
Tô Tử, Hàn Văn hiểu diệu âm.
Muôn ngàn cảnh vật bày dễ thấy
Tạo hóa một bầu khó truy tầm
Nguồn Nho thăm thẳm lên càng rộng
Bể Thích trùng trùng xuống lại thâm.
Thiền sư thường thuật lại những lời dạy sâu sắc của các bậc cao tăng để chỉ bảo cho chúng đồ: “Muốn thấy Phật, hãy nhận nơi chúng sanh. Sở dĩ chúng sanh mê muội là do không tự biết có Phật, chứ Phật không làm mê chúng sanh. Nếu ngộ được tự tánh, thì chúng sanh tức là Phật; nếu mê tự tánh, thì Phật cũng là chúng sanh. Giữ được tự tánh bình đẳng, thì chúng sanh là Phật; để tự tánh gian hiểm, thì Phật cũng là chúng sanh. Tâm ta sẵn có Phật, còn tìm Phật nơi đâu? Kinh nói: ‘Tâm sanh thì các pháp sanh, tâm diệt thì các pháp diệt.’ Phàm phu tức là Phật, phiền não tức là Bồ đề. Niệm trước mê là phàm phu, niệm sau giác là Phật. Niệm trước chấp cảnh là phiền não, niệm sau ly cảnh là Bồ đề.”
“Chân tâm tự có thể, không phải do ta bịa đặt. Nó trong suốt như hư không, như tấm gương sạch sẽ, tròn sáng. Không thể lấy cái có cái không, nơi này chốn nọ mà xét thấu chỗ huyền diệu của nó. Cũng không thể dùng trí khôn và ngôn ngữ để bàn về chỗ nhiệm màu của nó. Chỉ có ai ngộ được chân tâm thì hiểu ngay nơi mình. Ví như ngàn thứ hương thơm, chỉ cần đốt một lò là biết hết mùi thơm. Như vào bể cả tắm, chỉ cần hớp một ngụm nước là biết hết vị của bể cả.”
“Chốn chân thật thâm sâu lặng lẽ. Khi giác ngộ, bụi trần lắng sạch, tâm thể trong ngần. Dứt hết mọi ràng buộc danh tướng của ngoại cảnh, sạch hết những năng sở trong tâm. Bởi ban đầu bất giác, bỗng khởi vọng động, chiếu soi lại tự tâm, theo đó mà sinh ra tâm trần. Như gương hiện hình tượng, thoắt có thân căn. Từ đó, chân tâm bị dời đổi, căn tánh sai lạc, chấp vào tướng, đuổi theo danh, tích lũy vọng trần, sinh ra sóng thức liên miên. Đem chân giác bọc vào giấc mê đêm, đắm chìm trong tam giới. Làm mù lòa mắt trí trong ngõ tối, khúm núm trong chín loài. Trên cõi không đổi dời, bỗng dưng luống chịu kiếp luân hồi. Trong pháp vô thoát, mà tự chuốc sự trói buộc nơi thân. Như con tằm mùa xuân làm kén tự giam mình, con thiêu thân mùa thu tự lao vào đèn thiêu xác. Đem những sợi dây mê mờ buộc lấy nghiệp căn khổ sở, dùng đôi cánh lòng tham mù quáng dập tắt vòng lửa tử sanh.”
“Lại có những kẻ tà căn ngoại nhập, cùng những kẻ tiểu khí mưu mô. Chúng không hiểu rõ nguồn gốc sinh tử, không biết gốc chung của ngã nhân. Chỉ muốn tránh chỗ ồn ào, bỏ nơi hoạt động, cố phá từng cái tướng, tách từng mảnh bụi của mọi vật thể để tìm hiểu biết. Làm như thế, tuy chỗ tĩnh lặng cốt ngộ lý không, nhưng không biết đó cũng là cách chôn vùi chân tính, lấp mất chân giác. Thế chẳng khác nào kẻ thấy ánh đèn có tia sáng xanh đỏ, muốn không thấy những tia ấy bèn tắt ngọn đèn; kẻ trông thấy bóng mình dưới ánh mặt trời, bèn chạy ra ngoài trời để tránh bóng. Như thế, chỉ hao tổn tinh thần, tốn sức lực. Chẳng khác gì gánh nước đổ vào đống băng, vác củi vất vào đám lửa đang cháy. Có biết đâu những tia sáng trong ngọn đèn kia là do mắt bệnh, bóng đuổi theo mình vốn ở thân mình. Nếu chữa khỏi bệnh lòa ở mắt thì những tia sáng tự mất, diệt thân huyễn chất này thì bóng nọ không còn.”
“Nếu biết quay ánh sáng soi lại nơi mình, bỏ ngoại cảnh mà xem ở tự tâm, thì Phật nhãn sáng suốt, bóng nghiệp tự tan, pháp thân hiện ra, những vết trần tự diệt. Ta phải dùng lưỡi dao khôn ngoan của tâm tự giác cắt đứt những mối dây triền phược trong lòng để biến nó thành tâm châu. Phải dùng mũi giáo tuệ của chân như chặt tan những lớp bụi trần kết thành kiến võng. Ấy chính là cái tông chỉ cùng tâm, cái chân truyền đạt lý đó vậy.”
Thiền sư lại nói: “Vọng thân tới gương soi bóng, bóng với vọng thân giống nhau. Chỉ muốn để thân bỏ bóng, thì thân có thực đâu nào! Thân vốn không khác gì bóng, một không, một có được sao? Nếu muốn lấy một, bỏ một, hằng cùng chân lý cách xa. Lại mến Thánh ghét phàm, nổi chìm trong biển sanh tử. Phiền não nhân tâm nên có, tâm không phiền não ở đâu? Chẳng nhọc phân biệt lấy tướng, tự nhiên được đạo chóng mau.”
“Ba đời chư Phật đều ở trong thân ta, chỉ vì tập khí làm mờ ám, ngoại cảnh làm ngăn trở, khiến ta tự mê đi. Nếu trong lòng ta được vô tâm là Phật quá khứ. Trong lặng lẽ mà khởi tác dụng là Phật vị lai. Tùy cơ ứng vật là Phật hiện tại. Ta thanh tịnh không nhiễm ô lục trần là Phật Ly Cấu. Ta ra vào không gì làm trở ngại là Phật Thần Thông. Đến đâu cũng an vui là Phật Tự Tại. Một tâm trong sáng là Phật Quang Minh. Tâm đạo bền chắc là Phật Bất Hoại. Ta biến hóa vô cùng chỉ do một chân tánh mà thôi.”
“Chí đạo gốc ở tâm pháp, tâm pháp gốc ở vô trụ. Cái bản thể của tâm và chân tướng của tánh, vốn lặng lẽ chẳng phải có, chẳng phải không; không có sanh cũng không có diệt. Ta tìm nó thì không thấy, bỏ nó vẫn chẳng rời. Nếu ta mê cái hiện lượng của nó thì khổ sở lầm lẫn lăng xăng, nếu ngộ được chân tánh của nó thì tinh thông sáng suốt. Tuy tâm tức là Phật, Phật tức là tâm, song chỉ có người chứng mới biết.”
“Song còn chấp có chứng, có biết thì mặt trời trí tuệ rơi vào đất có. Nếu tâm mờ mịt không chiếu không sáng thì đám mây hôn trầm đã che lấp cửa không. Chỉ có tâm không sanh một niệm thì không còn ngăn cách trước sau; chân tánh đứng riêng thì ta người nào khác. Nhưng mê đối với ngộ, ngộ trông vào mê, vọng đối với chân, chân nương nơi vọng. Nếu ta cầu chân mà bỏ vọng, như người chạy trốn bóng luống nhọc hình. Nếu ta nhận chân chính nơi vọng, như người vào chỗ mát thì bóng mất. Nếu tâm không vọng chiếu thì vọng lự tự hết. Từ cái tịch tri mà khởi dụng thì các thiện hạnh phấn khởi.”
“Thế nên, cái ngộ tịch mà không tịch, cái chân tri dường như vô tri. Lấy tâm nhất trí không phân chia tịch và tri, hợp với lẽ huyền diệu dung thông nhau. Có và không đều không chấp không mắc, phải quấy đều quên, năng sở cũng dứt. Cái dứt ấy cũng bặt luôn thì hoa bát-nhã liền nở, mỗi tâm đều thành Phật, không tâm nào chẳng phải tâm Phật; chốn chốn đều là đạo thì không chỗ nào chẳng phải cõi Phật.”
“Thế nên, chân với vọng, vật với ngã đều do ở một tâm ta, Phật với chúng sanh cũng đều chung nhau một tâm ấy. Nếu mê thì người theo sự vật, sự vật thì vô vàn nên người chẳng giống nhau. Nếu ngộ thì sự vật theo người, người đem một trí mà dung hòa muôn cảnh. Đến đây thì hết chỗ nói năng bặt đường tư tưởng, còn gì mà nói nhân trước quả sau? Tâm thể rỗng lặng, còn gì là người này giống, kẻ kia khác? Chỉ còn một tâm trong sáng, tăng giảm chan hòa. Như tấm gương sáng, tuy không có hoa mà bóng hoa hiện, gương vẫn vô tâm, tuy thấy ảnh tượng chiếu trong gương, mà ảnh tượng vẫn hằng không vậy.”
Thiền sư cũng thường đọc những bài kệ này để dạy chúng:
- Cô viên khiếu lạc thiên nham nguyệt
Dã khách ngâm tàn ngũ dạ đăng
Thử cảnh thử thời thùy hội đắc
Bạch vân thâm xứ tọa thiền tăng.
Dịch:
Vượn lẻ hú rơi trăng ngàn núi
Khách quê ngâm lụn ngọn đèn khuya,
Cảnh ấy người đây ai biết được
Thiền tăng ngồi lặng núi sâu kìa.
- Nam đài tĩnh tọa nhất lô hương
Chung nhật ngưng nhiên niệm lự vương
Bất thị tức tâm trừ vọng tưởng
Chỉ duyên vô sự khả tư lương.
Dịch:
Đài nam tĩnh tọa một lò hương
Lặng lẽ suốt ngày niệm lự không
Chẳng phải dứt tâm trừ vọng tưởng
Chỉ vì không việc đáng đo lường.
- Khô mộc nham tiền sai lộ đa
Hành nhân đáo thử tận tha đà
Lộ loan lập tuyết phi đồng sắc
Minh nguyệt lô hoa bất tợ tha.
Liễu liễu liễu thời vô sở thiểu
Huyền huyền huyền xứ diệc tu đa
Ân cần vị xướng huyền trung khúc
Không lý thiềm quang yết đắc ma?
Dịch:
Cây khô trước núi dễ lạc đàng
Người đi đến đó thảy mơ màng
Tuyết trong cò trắng đâu đồng sắc
Trăng sáng hoa lau chẳng giống màu.
Liễu, liễu, liễu rồi không thiếu sót
Huyền, huyền, huyền đó cũng thênh thang
Ân cần hát khúc “huyền trung” ấy
Ánh sáng trong không bày được sao?
- Nhất dước, dước phiên tứ đại hải
Nhất quyền, quyền đảo Tu-di sơn
Phật Tổ vị trung lưu bất trụ
Hựu xuy ngư địch bạc La loan.
Dịch:
Một nhảy, nhảy khỏi bốn bể cả
Một đấm, đấm nhào núi Tu-di
Trong ngôi Phật Tổ mời chẳng ở
Lại thổi sáo chài thẳng La loan.
(La loan: Chỗ biển của quỉ La-sát ở, nó là loài quỉ dữ nhất mà thế gian đều kinh sợ)
- Phản vọng qui chân vạn lụy không
Hà sa phàm thánh bản lai đồng
Mê lai tận thị nga đầu diệm
Ngộ khứ phương tri hạc xuất lung.
Phiến nguyệt ảnh phân thiên giản thủy
Cô tùng thinh nhậm tứ thời phong
Trực tu mật khế tâm tâm địa
Thủy ngộ bình sanh thùy mộng trung.
Dịch:
Bỏ vọng về chân muôn lụy không
Thánh phàm ức triệu xưa nay đồng
Mê đi cả thảy ngài vào lửa (Ngài: là con thiêu thân)
Ngộ lại mới hay hạc sổ lồng.
Một mảnh bóng trăng phân ngàn suối
Thông côi reo mãi bốn mùa rung
Cần phải thầm thông tâm địa ấn
Mới ngộ bình sinh một giấc nồng.
- Tâm pháp song vong du cách vọng
Sắc không bất nhị thượng dư trần
Bách điểu bất lai xuân hựu quá
Bất tri thùy thị trụ am nhân.
Dịch:
Tâm, pháp đều quên còn cách vọng
Sắc, không như một vẫn thừa trần
Trăm chim chẳng đến, xuân cứ tiến
Nào biết là ai người trụ am?
Vào năm Ất Mùi, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ mười một (1715), đời vua Lê Dụ Tông, vào sáng ngày 13 tháng 5, Thiền sư đã tắm rửa sạch sẽ, mặc áo ca-sa, ngồi kiết già và an nhiên thị tịch, hưởng thọ 88 tuổi. Môn đệ đã xây một ngôi tháp ba tầng để thờ phụng ông. Tông phong của Thiền sư tiếp tục phát triển thịnh vượng qua nhiều đời sau. Chùa Nguyệt Đường trở thành một thiền lâm lớn nhất trong cả nước. Thiền sư Minh Châu Hương Hải chính là người đã thổi bùng âm hưởng của dòng thiền Trúc Lâm, vang vọng qua hàng trăm năm chìm lặng.
Tác phẩm của Thiền sư:
- Giải Pháp Hoa Kinh
- Giải Kim Cương Kinh Lý Nghĩa
- Giải Sa Di Giới Luật
- Giải Phật Tổ Tam Kinh (3 quyển)
- Giải A Di Đà Kinh
- Giải Vô Lượng Thọ Kinh
- Giải Địa Tạng Kinh
- Giải Tâm Kinh Đại Điên
- Giải Tâm Kinh Ngũ Chỉ
- Giải Chân Tâm Trực Thuyết
- Giải Pháp Bảo Đàn Kinh (6 quyển)
- Phổ Khuyến Tu Hành (1 quyển)
- Bảng Điều Nhất Thiên
- Cơ Duyên Vấn Đáp Tinh Giải
- Lý Sự Dung Thông
- Quán Vô Lượng Thọ Kinh Quốc Ngữ
Để hiểu sâu hơn về dòng chảy tư tưởng và thực hành trong Đạo phật, mời bạn tiếp tục khám phá các nội dung liên quan.