Thiền sư Hương Hải và tinh thần nhập thế tích cực lan tỏa

2 1507 1
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Cuộc đời của Thiền sư Hương Hải là hành trình từ thế sự đầy biến động đến con đường giác ngộ tâm linh, hé mở một tư tưởng nhập thế đầy tích cực. Hành trình tìm cầu Phật pháp của ông, dù bắt đầu từ chốn quan trường, đã sớm rẽ sang một lối đi khác, nơi sự bình yên và trí tuệ dẫn lối. Khám phá tinh thần nhập thế sâu sắc của vị danh sư này tại Chiasedaophat.

Thiền sư Hương Hải (1628 – 1715), tên thật là Tổ Cầu (hoặc Tổ Tích), là một nhân vật kiệt xuất của Phật giáo Việt Nam thời Hậu Lê. Ông xuất thân từ một gia tộc có truyền thống quân công hiển hách, bốn đời tổ tiên là công thần Trung Lộc Hầu, người theo phò Nguyễn Hoàng và định cư tại Quảng Nam.

Sinh ra tại làng Bính An, Thăng Hoa (nay thuộc Quảng Nam) vào năm 1628, Thiền sư Hương Hải sớm bộc lộ trí thông minh và sự hiếu học. Năm 18 tuổi, ông đã đỗ Hương Tiến (tương đương cử nhân ngày nay) và được bổ nhiệm làm Văn chức trong phủ chúa Nguyễn Phúc Lan. Tuy nhiên, con đường quan lộ không níu giữ được chí hướng tâm linh của ông.

Năm 1652, khi được bổ nhiệm làm Tri phủ Triệu Phong (Quảng Trị), tinh thần tìm cầu Phật pháp đã thôi thúc ông tìm đến Thiền sư Viên Cảnh Lục Hồ, thọ pháp danh Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự Minh Châu Hương Hải. Sau đó, ông tiếp tục theo học đạo với Thiền sư Viên Khoan Đại Khâm.

Nhận thấy triều đình nhà Lê suy yếu và chúa Trịnh có ý đồ chuyên quyền vào năm 1655, Thiền sư Hương Hải đã quyết định từ quan để xuất gia, với mong muốn tìm về chốn bình yên, thoát khỏi những phiền lụy của cõi trần. Ông đã dựng ba nhà tranh để tu hành trên đảo Tim Bút La, cửa biển Hội An, trong khoảng một thập kỷ. Đức hạnh và sự tu tập của ông đã thu hút sự chú ý của Dũng Quốc công Nguyễn Phúc Tần, người đã mời ông về trụ trì Thiền Tịnh viện trên núi Qui Kỉnh. Tại đây, mẹ của quốc công, nhiều quan chức và binh lính đã quy y, học đạo dưới sự chỉ dạy của ông.

Thiền sư Hương Hải với tinh thần nhập thế tích cực 1

Thiền sư còn chú trọng độ tăng, thuyết pháp, đông đảo đệ tử về quy y học đạo, càng ngày càng làm lớn mạnh, phát huy, nhân rộng tinh thần nhập thế.

Thiền sư Hương Hải là một người uyên bác cả Nho học lẫn Phật giáo. Ông chủ trương dung hòa hai nền tư tưởng này, coi chúng có thể bổ trợ lẫn nhau, đặc biệt là trong việc duy trì trị an xã hội.

“Lên tận nguồn Nho trông bát ngát

Vào sâu biển Pháp thấy mênh mông”

(Nho nguyên đãng đãng đăng di khoát

Pháp hải trùng trùng nhập chuyển thâm)

Vào tháng 3 năm Nhâm Tuất (1682), do những lời dèm pha, Thiền sư Hương Hải cùng hơn 50 đệ tử đã vượt biển ra Đàng Ngoài. Sau khi Trịnh Tạc qua đời, con trai ông là Trịnh Căn lên nối ngôi, đã ban cho Thiền sư áo mão, lương thực và tiền bạc, đồng thời giao cho Quận công Lê Đình Kiên hỗ trợ việc thành lập Thiền Tịnh viện Nguyệt Đường tại Phố Hiến. Tại đây, ông miệt mài thiền định suốt 18 năm. Theo “Hương Hải Thiền sư Ngữ Lục”, ông đã để lại hơn 20 tác phẩm chú giải kinh luận, các bài kệ, cùng 16 đoạn văn xuôi và 58 bài thơ. Đáng chú ý, ông đã dịch 20 tác phẩm sang chữ Nôm, giúp Phật pháp dễ dàng tiếp cận hơn với quần chúng.

Ông còn cho xây dựng đài Cửu Phẩm Liên Hoa có thể xoay được, mô phỏng theo mô hình Tam Tổ Huyền Quang tại chùa Côn Sơn – Kiếp Bạc. Trong giai đoạn 1683-1685, Thiền Tịnh viện ban đầu đã phát triển thành một trung tâm văn hóa, giáo dục, thu hút sự quan tâm của nhiều tầng lớp xã hội. Nơi đây đã đào tạo ra nhiều thế hệ thiền sư danh tiếng, với hơn 70 đệ tử trực tiếp thuộc các pháp hệ Chân, Như, Tính, Hải… theo bài kệ truyền pháp của Thiền phái Lâm Tế, dòng Trí Bảng Đột Không:

Trí tuệ thanh tịnh

Đạo đức viên minh

Chân như tính hải

Tịch chiếu phổ thông

Có thể khẳng định rằng, Thiền sư Minh Châu Hương Hải là một tác gia vĩ đại, không chỉ của Phật giáo Việt Nam mà còn của cả nền văn học và tư tưởng Việt Nam. Từ nửa cuối thế kỷ XVIII, cuộc đời và sự nghiệp của ông đã thu hút sự chú ý của nhiều trí thức đương thời, nổi bật là nhà bác học Lê Quý Đôn.

Vào ngày 12 tháng 5 năm Ất Mùi (1715), sau 2 giờ ngồi kiết già và phó chúc bài kệ, Thiền sư đã viên tịch ở tuổi 88.

Xem thêm: Nhà hướng Tây Bắc: Rước vận may, đón phú quý như thế nào cho hợp tuổi?

Thời đương bát thập bát

Hốt nhiên đăng tọa thoát

Hữu lai diệc hữu khứ

Vô tử diệc vô hoạt

Pháp tính đẳng hư không

Sắc thân như bào mạt

Ðông độ ly ta bà

Tây phương liên ngạc pháp

(Tuổi đương tám mươi tám

Tọa thoát tự nhiên bỗng

Có đến cũng có đi

Không chết cũng không sống

Pháp tính giống hư không

Sắc thân như bọt mọn

Đông độ rời ta bà

Tây phương đài sen đón)

Minh Châu Hương Hải được xem là ngọn đèn soi sáng Phật giáo Đàng Trong với Thiền Tĩnh viện tại Quảng Nam và Phật giáo Đàng Ngoài với đạo tràng Nguyệt Đường tại Hưng Yên. Ông đã mang ánh sáng Phật pháp lan tỏa khắp nơi, mang lại sự ấm áp và an lạc.

Khám phá: Bính Tý 1996: Bàn làm việc phong thủy – Chìa khóa bứt phá tài lộc

Trong những ngày cuối đời, khi được hỏi về những điều cốt yếu của Phật pháp, Thiền sư Hương Hải đã dạy: “Đạo giáo từ xưa đến nay đã trao phó là bặt ngôn từ, không lời để nói, chính ta ngay lúc đó phó thác. Ứng dụng bằng cách: ‘Lấy tâm mà dùng'”. Chữ “tâm” được đặt lên hàng đầu, thể hiện cốt lõi của Phật giáo Trúc Lâm: “Phật tại tâm”.

Khi Vua Lê Dụ Tông hỏi Thiền sư Hương Hải về việc thuyết pháp để được liễu ngộ, ông đã chỉ dạy bằng bốn câu kệ:

Hàng ngày quán lại chính nơi mình

Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh

Trong mộng tìm chi người tri thức

Mặt thầy sẽ thấy trên mặt mình.

Âm: Phản văn tự kỷ mỗi thường quan

Thẩm sát tư duy tử tế khan

Mạc giáo mộng trung tầm tri thức

Tương lai diện thượng đổ sư nhan.

Lời dạy này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quay vào bên trong, quán chiếu chính mình. Tâm thức con người thường bị cuốn theo những biến động của cuộc sống, sinh ra tham ái, sân si và phiền não. Để làm chủ được tâm mình, cần phải quan sát, suy xét một cách cẩn trọng, không tìm cầu ở bên ngoài. Bản thân mỗi người chính là người dẫn đường, điều hướng cho chính mình. Khi tâm lắng đọng và buông bỏ mọi chấp trước, ta sẽ nhận ra Phật tính nơi chính mình. Việc tu tập, tập trung vào bản thân chính là con đường dẫn đến giác ngộ.

Thiền sư Minh Hải đã tái khẳng định tinh thần này khi trả lời câu hỏi của Vua Lê Dụ Tông về “Thế nào là ý của Phật”:

Nhạn bay trên không

Bóng chìm đáy nước

Nhạn không để ý dấu

Nước không tâm lưu bóng.

Âm: Nhạn quá trường không Ảnh trầm hàn thủy Nhạn vô di tích chi ý Thủy vô lưu ảnh chi tâm.

Hình ảnh con nhạn bay qua bầu trời, bóng nó in trên mặt nước, nhưng con nhạn không cố ý để lại dấu vết, và mặt nước cũng không giữ lại bóng hình. Điều này ví von với tâm của chúng ta khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Mọi suy nghĩ, cảm xúc xuất hiện, ta không nên mong cầu, chờ đợi hay phụ thuộc vào chúng, mà chỉ giữ vai trò là người quan sát. Thực hành được như vậy chính là tu tập. “Vô tâm” chính là phương châm hành đạo của Thiền sư Minh Châu Hương Hải, cũng là bí quyết dẫn đến giác ngộ.

Tìm hiểu thêm: Vượt Tham Ái, Thoát Khổ Đau: Chìa Khóa Giải Thoát Tâm Hồn

Thiền sư Minh Hải đã thấu suốt tư tưởng “phản quang tự kỷ” – tông chỉ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử: “soi sáng lại chính mình, đó là việc bổn phận, chẳng từ nơi nào khác để được”. Ông dạy rằng: “Nếu biết quay ánh sáng soi lại nơi mình, ngay ngoại cảnh mà trực nhận tự tâm, thì Phật nhãn sáng suốt, bóng nghiệp tự tan, pháp thân hiện tiền, những vết trần tự rỗng. Ta phải dùng lưỡi dao trí của tâm tự giác mà rạch lấy tâm châu. Phải dùng mũi giáo tuệ chặt đứt lưới kiến chấp muôn đời. Ấy chính là tông chỉ cùng trực thuyết vậy.” Do đó, tinh thần đạo Phật, đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm, là tinh thần nhập thế, không phân biệt màu da, sắc tộc hay hoàn cảnh.

Khi giảng giải “Kim Cương Kinh”, Thiền sư đã chỉ dạy rằng sự tu tập để đạt giác ngộ không tách rời khỏi những hoạt động đời thường như mặc áo, ăn cơm. Ông viết: “Phật rằng hết thảy chư pháp đều cũng dùng sự tu hành cho được thành đẳng chính giác. Thiền gia dầu bỏ, ắt lỗi ý kinh. Khác nào chưa đến ngạn mà đã bỏ thuyền, há mình chẳng chìm trong nơi khổ hải? Hết thảy chúng sinh, từ vô lượng kiếp đến nay, chẳng khỏi pháp tính tam muội. Dầu khi mặc áo, ăn cơm, đàm thuyết, đối đãi, lục căn thường hành, nhậm vận thi vi, thật những là pháp tính diệu dụng. Chẳng biết phản bản hoàn nguyên, vậy bèn tùy danh chấp tướng, tình mê vọng khởi, tạo chủng chủng nghiệp. Dầu hay biết được, nhất niệm hồi quang, liễu phàm tâm chứng được thánh tâm, chuyển thể pháp đều nên Phật pháp.” Tư tưởng của Thiền sư là không rời bỏ thế gian. Sau thời gian ẩn tu, ông đã trở về đất liền để giáo hóa chúng sinh, phụng sự và hòa mình vào đời, hành động theo tinh thần tùy duyên, tùy tục, tùy thế sự mà hành động, đó chính là tinh thần nhập thế: “Tại thế tính hằng ly thế. Cư trần, lòng vốn viễn trần, ắt rằng thật là cứu cánh pháp.”

Thiền sư Hương Hải đặc biệt chú trọng việc dịch thuật kinh điển sang chữ Nôm và sáng tác thơ văn bằng tiếng Việt. Ông sử dụng ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, tránh dùng từ ngữ hoa mỹ hay chuyên môn cao siêu, nhằm giúp đông đảo quần chúng có thể tiếp cận giáo lý Phật pháp. Điều này thể hiện rõ tinh thần dân tộc và tinh thần tự chủ, phù hợp với tinh thần của Thiền Trúc Lâm: “miễn được lòng rồi chẳng cần pháp khác”.

Ngoài ra, Thiền sư còn tích cực độ tăng, thuyết pháp, thu hút đông đảo đệ tử quy y học đạo. Dưới sự dẫn dắt của ông, tinh thần nhập thế ngày càng được củng cố, phát huy và lan rộng. Những đệ tử của ông là những tăng sĩ tinh hoa, tiếp nối sự nghiệp hoằng truyền Chánh pháp, phổ độ quần sinh của Thiền sư Hương Hải.

Minh Châu Hương Hải là một thiền sư đầy nhiệt huyết, đóng vai trò quan trọng trong việc kế thừa và phát huy tinh thần nhập thế tích cực của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Ông đã tạo nên một bước ngoặt cho Phật giáo Việt Nam trong thế kỷ XVII. Những cống hiến to lớn của Thiền sư đã góp phần xây dựng nên nền Phật giáo mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.

Chú thích:

[1] Theo bia pháp Tổ Hương Hải tại chùa Nguyệt Đường, Thiền sư Hương Hải thụ giáo chính thức với Thiền sư Đại Khâm trước, sau đó mới tham vấn Thiền sư Lục Hồ. Bia tháp này cũng ghi nhận pháp hiệu của Thiền sư Đại Khâm là Viên Thực, không phải Viên Khoan. Cả hai vị đều là Thiền sư từ Trung Quốc đến hành đạo tại vùng đất nay là tỉnh Quảng Trị (theo Nguyễn Minh Quý, “Thân thế và sự nghiệp Hương Hải Thiền sư qua tấm bia Tổ sư bi ký”, trong sách Thông báo Hán Nôm học, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005, tr.545 -548).

[2] Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử Tư tưởng Việt Nam, tập VI, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr.70

[3] Hai mươi tác phẩm chú giải của Thiền sư Hương Hải bao gồm: (1) Giải Pháp học kinh, (2) Giải Kim cương kinh lí nghĩa, (3) Giải Sai di giới luật, (4) Giải Phật tổ tam kinh, (5) Giải Di Đà kinh, (6) Giải Vô lượng thọ kinh, (7) Giải Địa Tạng kinh, (8) Giải tâm kinh đại điên, (9) Giải Tâm kinh ngũ chỉ, (10) Giải Tâm châu nhất quán, (11) Giải Chân tâm trực thuyết, (12) Giải Pháp bảo đàn kinh, (13) Giải Phổ khuyến tu hành, (14) Giải Bảng điều, (15) Soạn Cơ duyên vấn đáp tinh giải, (16) Soạn Sự lí dung thông, (17) Soạn Quán vô lượng thọ kinh quốc ngữ, (18) Soạn Cúng Phật tam khoa, (19) Soạn Cúng cửu phẩm, và (20) Soạn Cúng Dược sư. Hiện nay, mới tìm được 4 tác phẩm là số 2, 5, 9 và 16 (theo Lê Mạnh Thát, Toàn tập Minh Châu Hương Hải, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr.25).

[4] Lê Mạnh Thát, Toàn tập Minh Châu Hương Hải, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh

[5] Toàn tập Minh Châu Hương Hải, tr.248

[6] Toàn tập Minh Châu Hương Hải, tr.228

Khám phá sâu hơn về tư tưởng và sự nghiệp của Thiền sư Hương Hải, bạn đọc có thể tìm hiểu thêm trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang