Thiền sư Minh Mai cuộc đời và đạo nghiệp

0
(0)

Trong bối cảnh đất nước chao đảo bởi biến cố lịch sử, tinh thần kháng Pháp sục sôi lan tỏa khắp các vùng miền. Giữa cơn bão táp thời cuộc, những nhân vật kiệt xuất đã đứng lên dẫn dắt phong trào, trong đó có cả những vị anh hùng mang trong mình chí khí bảo vệ non sông, sẵn sàng đối mặt với hiểm nguy để gìn giữ giang sơn. Hãy cùng khám phá hành trình của một bậc tài ba tại <a href="Chiasedaophat“>Chiasedaophat.

Thiền sư Minh Mai – Phương Danh (Lãnh Binh Cẩn 1802-1902)

Tiểu sử Thiền sư Minh Mai 1
 

Ngài sinh ra trong một gia đình nông dân, vốn theo truyền thống Phật giáo và kính tin Tam Bảo. Với thể lực cường tráng và võ nghệ cao cường, Ngài đã tham gia lực lượng đồn điền theo các đội của tỉnh Định Tường trong thời kỳ thanh niên. Hoạt động của Ngài tập trung tại các cơ sở đồn điền ở Mỹ Thiện, Hậu Mỹ, Mỹ Thành, Thạnh Phú, thuộc địa phận huyện Cai Lậy và Cái Bè ngày nay. Tổ chức đồn điền thời bấy giờ hoạt động theo chính sách “Ngụ binh ư nông”, vừa sản xuất nông nghiệp vừa sẵn sàng tham gia quân sự.

Năm 1859, khi Pháp chiếm Gia Định, và tháng 05 năm 1861 (Tân Dậu), Pháp tiếp tục chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ. Trước sự bất lực của quân triều đình, phong trào kháng Pháp đã bùng nổ mạnh mẽ trên khắp các địa phương. Các lãnh tụ như Quản cơ Thiên Hộ Dương, Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, Trương Định, Võ Duy Dương, Âu Dương Lân đã thành lập các căn cứ kháng chiến rộng lớn, trải dài từ Bình Cách đến Thuộc Nhiêu và Đồng Tháp Mười. Trong đó, Đồng Tháp Mười nổi lên như một căn cứ vững chắc, gây ra nhiều tổn thất cho quân Pháp và chống trả thành công nhiều cuộc phản công.

Ngài, cùng với Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều, là những tướng tài dưới trướng Võ Duy Dương, đóng vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ từ năm 1861 đến 1867. Năm Tân Dậu (1861), sau khi thực dân Pháp đánh chiếm tỉnh Định Tường, Ngài đã gia nhập lực lượng kháng chiến do Võ Duy Dương lãnh đạo và được phong chức Lãnh binh.

Đầu năm Nhâm Tuất (1862), căn cứ Thuộc Nhiêu (nay thuộc xã Thuộc Nhiêu, quận Châu Thành, TP Mỹ Tho, Tiền Giang) bị quân Pháp tấn công bất ngờ. Trần Xuân Hòa, một tướng lĩnh khác, đã bị bắt và “tuẫn tiết” (hy sinh vì nghĩa lớn) bằng cách tự sát để giữ tròn khí tiết. Ngài tiếp tục cuộc kháng chiến. Sau khi Đỗ Thúc Tịnh hy sinh và Nguyễn Hữu Huân bị bắt, Ngài cùng Thiên Hộ Dương rút quân về Bình Cách.

Năm Giáp Tý (1864), Võ Duy Dương đã thành lập căn cứ kháng chiến tại Đồng Tháp Mười. Lúc này, Ngài (Lãnh Binh Cẩn) và Phó tướng Nguyễn Tấn Kiều được bộ tham mưu nghĩa quân giao nhiệm vụ chỉ huy đại bản doanh, còn được biết đến với tên gọi đồn Trung.

Vào đầu mùa Xuân năm Bính Dần (1866), Tướng Pháp De La Gradière đã huy động lực lượng lớn tấn công Đồng Tháp Mười từ ba hướng chính. Nghĩa quân gặp thất bại, Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều tử trận. Thiên Hộ Dương rút quân về Tân An (nay thuộc tỉnh Long An), trong khi Ngài (Lãnh binh Cẩn) rút quân về Hồng Ngự (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Khi đến Hồng Ngự, Ngài đối mặt với sự vây đánh của quân Pháp và thân binh của Trần Bá Lộc. Ngài buộc phải lui về vùng Gia Định (Sài Gòn) để củng cố lực lượng. Sau đó, Ngài quay trở lại Hồng Ngự và tấn công hạ thành Châu Đốc, tuy nhiên không giữ được thành. Bị quân Pháp dồn ép, Ngài lui quân về núi Sập. Cuộc kháng chiến kéo dài nhiều năm, cùng với những khó khăn về lương thực và vũ khí, đã dần làm suy kiệt lực lượng, khiến cánh quân tan rã theo thời gian.

Dù đã bước vào tuổi lục tuần, gần cuối đời người, Ngài vẫn không hề nản lòng trong công cuộc kháng Pháp. Tuy nhiên, với sức lực không còn, Ngài nhận thấy việc cứu nước chưa trọn vẹn. Ngài quyết định noi gương hạnh Bồ tát, dùng ánh sáng Từ bi Trí tuệ của Phật giáo để giúp dân củng cố niềm tin, ý chí và nghị lực, tiếp tục đấu tranh đòi quyền tự chủ cho dân tộc và giành độc lập cho Tổ quốc. Ngài đã đến Tổ đình Tây An, núi Sam, Châu Đốc, đảnh lễ Tổ sư Tiên Giác – Hải Tịnh và xin được cạo tóc xuất gia. Bổn sư đã ban cho Ngài pháp danh Minh Mai, hiệu Phương Danh. Từ đó, Ngài được sự hướng dẫn tu tập của Sư huynh là Thiền sư Minh Khiêm – Hoằng Ân.

Năm Canh Ngọ (1870), cuối mùa Đông, Ngài trở về quê nhà để trùng tu chùa Thắng Quang tại làng Hòa Hưng, huyện Cái Bè (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Sau khi việc hoằng pháp tại quê nhà ổn định, Ngài trở lại chiến trường Đồng Tháp Mười, khai sơn chùa Gò Tháp. Tại đây, Ngài lập bàn thờ cho Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều và các nghĩa binh đã hy sinh, biến nơi đây thành điểm tựa tâm linh cho đồng đội trong công cuộc kháng chiến. Trong giai đoạn này, Ngài tìm thấy sự an ủi và chia sẻ về cả Phật sự lẫn Quốc sự trong cuộc đối đầu với thực dân Pháp xâm lược từ Đại sư huynh Minh Thông Hải Huệ (thuộc Tổ đình Bửu Lâm, Cao Lãnh).

Ngài mong muốn tiếng kinh câu kệ có thể xoa dịu nỗi đau cho các chiến sĩ hy sinh trong công cuộc chống Pháp và an ủi những người dân vô tội chịu đựng sự tàn khốc của chiến tranh. Tuy nhiên, những kẻ tàn ác, cụ thể là tai sai của Trần Bá Lộc, đã theo dõi Ngài. Do đó, Ngài buộc phải một lần nữa quay về quê nhà để kiến tạo ngôi Phước Quang Tự tại làng Mỹ Lợi, huyện Cái Bè (nay thuộc tỉnh Tiền Giang).

Sau khi an phận tu hành và tùy duyên hoằng pháp trong phạm vi giới hạn, Ngài cảm thấy bổn phận với tổ quốc, dân tộc và đạo pháp đã viên mãn. Ngài thị hiện bệnh duyên và an nhiên viên tịch tại Bổn tự Phước Quang vào ngày mùng 08 tháng 10 năm Nhâm Dần (1902), hưởng thọ 101 tuổi.

(Dựa trên một long vị thờ tại Long Phước Cổ Tự, Sa Nhiên, TP Sa Đéc, ghi: “Từ Lâm Tế chánh tông tam thập bát thế thượng Phương hạ Danh húy Minh Mai, chung Kỷ Hợi (1899), thập nguyệt, sơ bát nhật. Thượng Hoằng hạ Ân húy Minh Khiêm, chung Giáp Dần niên, chánh nguyệt, nhị thập nhật. Linh giác miêu tọa”). Hiện nay, ngôi mộ sơ sài của Ngài vẫn còn đó, chứng kiến sự tàn phế của ngôi chùa xưa, khói hương lạnh lẽo theo thời gian.

(*) Ngài là một vị quan võ cấp cao của Triều đình nhà Nguyễn. Chức Lãnh binh là chỉ huy quân sự cấp tỉnh thời bấy giờ. Tên tuổi của Ngài (Lãnh Binh Cẩn) gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp, cùng thời với các danh nhân như Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều. Ngài là một nhân vật lịch sử quan trọng, tên của Ngài đã được đặt cho nhiều tuyến đường và khu phố tại TP. Hồ Chí Minh, TP. Mỹ Tho, và huyện Cái Bè.

Nam mô Từ Lâm Tế chánh tông tam thập bát thế thượng Phương hạ Danh húy Minh Mai đại lão Hòa thượng Giác linh chứng giám.

Thích Vân Phong kính biên soạn.

Tìm hiểu thêm: Bính Dần 1986 Nữ Mạng 2025: Chìa Khóa Vận Mệnh Đầy Biến Động

Khám phá: Đông Tứ Trạch: Bí Mật Chọn Hướng Nhà Mang Vận Khí Sung Túc Cho Từng Độ Tuổi

Xem thêm: Tháng 8/2024: Thời Điểm Vàng Bật Tung May Mắn Cho Tuổi Ất Sửu Khởi Sự

Cuộc đời và sự nghiệp của Thiền sư Minh Mai là một hành trình đầy ý nghĩa, kết hợp giữa lòng yêu nước và con đường tâm linh. Để hiểu rõ hơn về những đóng góp và triết lý sâu sắc của Ngài, hãy cùng khám phá thêm trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang