Thiền sư Pháp Loa: Nhị tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

anh thien su phap loa tai cung truc lam yen tu 0750 1
0
(0)

Mang dòng dõi trâm anh thế phiệt và sớm bộc lộ tố chất phi thường ngay từ thuở thiếu thời, cuộc đời Thiền sư Pháp Loa, nhị tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, đã có một bước ngoặt định mệnh khi gặp gỡ Đức Vua Trần Nhân Tông. Cơ duyên này đã mở ra con đường tu hành, nơi Ngài nỗ lực tìm kiếm chân lý giác ngộ, một hành trình mà quý độc giả có thể tìm hiểu thêm tại chiasedaophat.com.

Thiền sư Pháp Loa, tên thật là Đồng Kiên Cương, sinh năm 1284 tại làng Cửu La, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Ngài là con trai của ông Đồng Thuần Mậu và bà Vũ Từ Cứu. Theo sử sách, trước khi sinh Ngài, thân mẫu đã có điềm báo là được trao một thanh thần kiếm, sau đó bà biết mình có thai. Trái với mong muốn ban đầu do đã sinh tám người con gái trước đó, bà cố gắng dùng thuốc phá thai nhưng không thành. Sự ra đời của Ngài khiến bà mừng rỡ và đặt tên là Kiên Cương. Từ nhỏ, Ngài đã bộc lộ tư chất thông minh, hiếu thảo, không nói lời ác và không thích ăn thịt cá.

Năm 1304, khi 21 tuổi, trên một chuyến tuần du, Vua Trần Nhân Tông (Điều Ngự) đã đến vùng sông Nam Sách, phá bỏ các miếu thờ không chính đáng. Tại đây, Ngài Đồng Kiên Cương đã xin xuất gia. Vua Trần Nhân Tông nhận thấy Ngài có “đạo nhãn”, dự cảm Ngài sẽ là một “pháp khí” quan trọng và bằng lòng cho xuất gia. Ngài được ban pháp danh Thiện Lai, sau đó về Linh Sơn tự, được cạo tóc và thọ giới Sa-di. Vua Trần Nhân Tông chỉ dạy Ngài đến tham vấn Hòa thượng Tánh Giác tại Quỳnh Quán. Tuy nhiên, dù cố gắng tìm hiểu, Ngài vẫn chưa thể khai ngộ. Trong quá trình tự học, Ngài đã đọc bộ kinh Hải Nhãn (có thể là kinh Lăng Nghiêm), đặc biệt chú tâm vào phần “bảy chỗ hỏi tâm” và đoạn “dụ khách trần”. Việc nghiền ngẫm, xem đi xem lại nhiều lần đã giúp Ngài có bước đột phá trong nhận thức. Sau đó, Ngài từ biệt Hòa thượng Tánh Giác và trở về tham yết Vua Trần Nhân Tông.

Thiền sư Pháp Loa - Nhị tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử 1

Tôn ảnh Đệ nhị Tổ Pháp Loa Tôn giả.

Khi Vua Trần Nhân Tông đang thượng đường, Ngài Pháp Loa đã trình bày sở ngộ và được Vua trực tiếp chỉ dạy. Vua Trần Nhân Tông công nhận và cho phép Ngài theo hầu hạ. Tuy nhiên, khi trình bày ba bài tụng, Ngài đều bị Vua chê. Sau nhiều lần thỉnh cầu, Vua dạy Ngài phải tự mình tham thiền. Trong một đêm, khi đang tham thiền, Ngài nhìn thấy đèn tàn rụng xuống và chợt đại ngộ. Ngài trình bày chỗ ngộ của mình lên Vua Trần Nhân Tông và nhận được sự ấn khả. Từ đó, Ngài phát nguyện tu theo mười hai hạnh Đầu-đà, một pháp tu khổ hạnh.

Năm 1305, Vua Trần Nhân Tông đưa Ngài lên liêu Kỳ Lân, cho thọ giới Tỳ-kheo và giới Bồ-tát. Thấy Ngài đã đạt đến cảnh giới tu tập cao, Vua ban pháp danh Pháp Loa. Đến năm 1307, khi 24 tuổi, Ngài là người đứng đầu trong số bảy tám thị giả của Vua Trần Nhân Tông tại am Thiên Bảo Quan. Vua Trần Nhân Tông đã giảng giải bộ Đại Huệ Ngữ Lục cho Ngài. Sau đó, Vua dời lên am trên đỉnh Ngọa Vân Phong. Vào một đêm Rằm, sau khi làm lễ Bố-tát, Vua gọi Ngài Pháp Loa lại, trao y bát và một bài tâm kệ, dặn dò Ngài phải gìn giữ cẩn thận.

Vào ngày mùng 1 tháng Giêng năm 1308, theo lệnh của Vua Trần Nhân Tông, Ngài Pháp Loa đã chính thức làm lễ nối pháp và trở thành Trụ trì tại chùa Siêu Loại. Buổi lễ có sự tham dự của Vua Trần Anh Tông và các quan đại thần. Vua Trần Nhân Tông đã thuyết pháp và nhường vị trí cho Ngài Pháp Loa giảng đạo. Sau buổi lễ, Vua Trần Nhân Tông chính thức giao cho Ngài Pháp Loa kế thế trụ trì chùa Siêu Loại, làm chủ sơn môn Yên Tử, trở thành vị Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm. Vua còn trao cho Ngài hơn hai trăm bộ kinh sử, đồng thời sắc chỉ cho Vua Anh Tông cúng dường hàng trăm khoảnh ruộng vào chùa.

Tháng 11 năm 1308, sau khi Vua Trần Nhân Tông viên tịch, Ngài Pháp Loa phụng mệnh cung nghinh xá-lợi về kinh đô. Trở về núi Yên Tử, Ngài đã biên soạn lại những bài tụng của Vua Trần Nhân Tông lúc còn ở Thạch Thất, thành lập quyển Thạch Thất Mị Ngữ.

Năm 1311, theo chiếu chỉ của triều đình, Ngài Pháp Loa tiếp tục công việc khắc in bộ Đại Tạng Kinh. Ngài giao cho Bảo Sát phụ trách việc này. Đến tháng Tư, Ngài giảng kinh Truyền Đăng Lục tại chùa Siêu Loại. Sau đó, Thiền sư Huyền Quang trình bày kiến giải của mình và đều được Ngài Pháp Loa chấp nhận.

Vào tháng 9 năm 1313, Ngài Pháp Loa theo chiếu chỉ đến chùa Vĩnh Nghiêm (Lượng Giang) để chuẩn hóa việc quản lý tăng đồ. Đây là lần đầu tiên Giáo hội có sổ bộ quản lý tăng chúng, và Ngài Pháp Loa là người trực tiếp nắm giữ sổ bộ này. Trong lần này, Ngài đã độ hơn một ngàn vị tăng. Sau đó, cứ ba năm một lần, Ngài lại tổ chức đại giới đàn để độ tăng.

Tháng 2 năm 1317, khi Ngài Pháp Loa lâm bệnh nặng. Ngài đã trao y của Vua Trần Nhân Tông và bài tâm kệ cho Thiền sư Huyền Quang. Pháp khí và gậy được trao cho Cảnh Ngung, phất tử cho Cảnh Huy, gậy tre cho Huệ Quán, pháp thơ và pháp cụ cho Huệ Nhiên, linh vàng cho Hải Ấn, sử vàng cho Huệ Chúc. Sau vài ngày, bệnh tình của Ngài thuyên giảm.

Trong thời gian này, các bậc Thái hậu, Công chúa, Vương công, và các quan đại thần đều kính ngưỡng và thỉnh cầu Ngài truyền giới xuất gia hoặc giới Bồ-tát. Ngay cả Vua Trần Anh Tông cũng xem Ngài như một người thầy. Họ đua nhau cúng dường đất đai, vàng bạc, tiền bạc để Ngài xây dựng chùa chiền, đúc tượng Phật, in kinh. Lượng cúng dường quá lớn khiến Ngài phải chủ động xin giảm bớt. Ngay cả chiếc thuyền vua ban để tiện đi lại Ngài cũng từ chối.

Năm 1329, Ngài Pháp Loa mở rộng cảnh quan Côn Sơn và Thanh Mai Sơn, biến nơi đây thành những danh lam thắng cảnh. Ngài đã sáng tác bài thơ “Luyến Thanh Sơn” để ghi lại cảm xúc của mình:

Thưa gầy làn nước vút,

Chót vót ánh soi trong.

Ngẩng đầu coi chẳng hết,

Đường tới lại trùng trùng.

(Bản chữ Hán: Sơ sấu cùng thu thủy / Sàm nham lạc chiếu trung / Ngang đầu khán bất tận / Lai lộ hựu trùng trùng.)

Trong một lần thuyết pháp, Ngài đã giảng giải về chân lý tối hậu:

– Đại chúng! Nếu nói thẳng vào đệ nhất nghĩa đế, thì chỉ cần động niệm đã là sai, mở miệng là lầm. Làm sao để xét? Làm sao để quán? Hôm nay, nếu dựa vào đầu thứ hai để nói cũng không thể đạt được.

Ngài nhìn hai bên và hỏi:

– Trong đây có ai có đầy đủ con mắt lớn chăng? Nếu có, thì hai cặp chân mày không cần phải vén lên. Bằng không, ta đây chỉ nói những lời vô nghĩa, những điều cũ kỹ, những lời tạp nhạp. Chỉ vì các ông gom lại thành một khối hỗn độn. Hãy lắng nghe! Lắng nghe!

Thiền sư Pháp Loa - Nhị tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử 2

Thiền sư Pháp Loa tên thực là Đồng Kiên Cương, sinh năm Thiệu Bảo thứ sáu (1284) ngày mùng 7 tháng 5, quê làng Cửu La, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Cha là Đồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu.

Dưới sự lãnh đạo của Thiền sư Pháp Loa, Giáo hội Trúc Lâm đã phát triển mạnh mẽ.

Đại đạo là sự rộng lớn không có ràng buộc, bản tánh vốn tĩnh lặng, không thiện không ác. Chính vì sự phân biệt, lựa chọn mà sinh ra nhiều lỗi lầm, chỉ cần khởi lên một chút ý niệm đã xa rời chân lý. Phàm và thánh vốn đồng một thể, thiện và ác đâu có hai đường. Do đó, tội phước vốn không thật, nhân quả cứu cánh cũng không thật. Mỗi người đều sẵn đủ, đều trọn thành. Phật tánh, Pháp thân như hình với bóng, tùy ẩn tùy hiện, không lìa không dính. Lỗ mũi duỗi thẳng xuống, chân mày nằm ngang mặt, hiện hữu ngay trước mắt nhưng lại khó nhận thấy. Cần phải tìm xét, há chẳng nghe nói “Ba ngàn pháp môn đồng về tấc vuông, hà sa diệu dụng đều ở nguồn tâm”? Do đó mà nói: cửa giới, cửa định, cửa tuệ, ông không thiếu sót, cần phải quay về quán chiếu nơi mình. Phàm những tiếng ho, tiếng hắng giọng, nhướng mày chớp mắt, tay cầm, chân đi, đó là tánh gì? Biết được tánh này, đó là tâm gì? Tâm và tánh đều rỗng sáng, cái nào là phải, cái nào là chẳng phải? Pháp tức là tánh, Phật tức là tâm. Tánh nào chẳng phải là pháp? Tâm nào chẳng phải là Phật? Tức tâm tức Phật, tức tâm tức pháp. Pháp vốn chẳng phải pháp, pháp tức là tâm. Tâm vốn chẳng phải tâm, tâm tức là Phật.

Các vị! Ngày tháng dễ dàng trôi qua, mạng người không chờ đợi. Sao lại cam lòng ăn uống mà không rõ việc sử dụng bát đũa? Hãy tham! Có một vị tăng bước ra hỏi:

– Mặc áo, ăn cơm là việc tầm thường, đâu cần phải sinh nghi ngờ?

Vị tăng lễ bái xong, đứng dậy hỏi:

– Cõi thiền không dục là điều không cần hỏi, còn cõi dục không thiền xin Ngài nói cho một câu.

Ngài Pháp Loa đưa tay chỉ vào hư không.

Xem thêm: Hành trình Viên mãn Hạnh phúc và Bình an: Tìm thấy chính mình giữa muôn lối

Vị tăng nói:

– Dùng lời nói của cổ nhân để làm gì?

– Mỗi lần nhắc lại, mỗi lần đều mới mẻ.

Vị tăng thưa:

– Cổ nhân đều hỏi: “Thế nào là Phật, thế nào là Pháp, thế nào là Tăng.” Vậy đây là thế nào? Việc ấy là thế nào?

Ngài Pháp Loa đáp:

– Thế nào? Việc ấy thế nào?

Vị tăng thưa:

– Trên đàn không dây tri âm ít.

Cao vút tiếng đàn cha con hòa…

(Bản chữ Hán: Nhất huyền cầm thượng tri âm thiểu / Phụ tử đàn lai cách điệu cao…)

Một hôm, Ngài Pháp Loa nghe chúng tăng tụng kinh liền hỏi:

– Chúng đang làm gì?

Một vị tăng thưa:

– Chúng con niệm Phật tâm.

Ngài bảo:

– Nếu nói là tâm, thì tâm không có Phật. Nếu nói là Phật, thì Phật không có tâm. Vậy gọi cái gì là tâm?

Vị tăng này không trả lời được.

Ngài lại hỏi một vị tăng khác:

– Chúng đang làm gì?

Vị tăng thưa:

– Niệm Phật.

Ngài bảo:

– Phật vốn không tâm thì niệm cái gì?

Vị tăng thưa:

– Chẳng biết.

Ngài bảo:

– Ngươi đã chẳng biết, vậy nói đó là ai?

Vị tăng cũng không đáp được.

Gần cuối đời, Ngài Pháp Loa đã kiểm kê những công tác Phật sự đã thực hiện: đúc hơn 1.300 tượng Phật lớn nhỏ; xây dựng 2 ngôi đại già-lam; xây 5 ngôi tháp; lập hơn 200 tăng đường; độ hơn 15.000 tăng ni; in được một bộ Đại Tạng Kinh; có hơn 3.000 đệ tử đắc pháp; và 6 vị trở thành Đại pháp sư.

Vào ngày mùng 5 tháng 2 năm 1330, Ngài Pháp Loa lâm bệnh trong lúc đang giảng kinh Hoa Nghiêm tại An Lạc tàng viện. Đến ngày 11, bệnh tình trở nên rất nặng. Ban đêm, Thiền sư Huyền Quang hầu cận, thấy Ngài ngủ và nói mớ: “Hồng! Hồng!”. Huyền Quang bèn thưa:

– Tôn giả nói mớ chăng?

Ngài đáp:

– Ngủ thì nói mớ, không ngủ thì không nói mớ.

Tìm hiểu thêm: May mắn vô bờ: Khi lòng thành kính chạm tới bậc Thánh nhân

Huyền Quang:

– Đâu có thể nói ngủ và thức là một?

Ngài bảo:

– Ngủ và thức là một.

Huyền Quang:

– Đâu có thể nói bệnh và không bệnh là một?

Ngài bảo:

– Bệnh cũng không liên quan đến ta, không bệnh cũng không liên quan đến ta.

Huyền Quang:

– Vậy tại sao lại có tiếng nói ra ngoài?

Ngài bảo:

– Nghe tiếng gió thổi cây thì thế nào?

Huyền Quang:

– Tiếng gió thổi cây, người nghe không lầm. Còn khi ngủ nói mớ thì dễ làm người lầm lẫn.

Ngài bảo:

– Người ngu cũng vẫn lầm lẫn tiếng gió thổi cây.

Huyền Quang:

– Chỉ một bệnh này thì đến chết cũng không mạnh.

Ngài Pháp Loa bèn đạp chân. Huyền Quang lui ra.

Sau đó, bệnh tình của Ngài giảm bớt. Đến ngày 13, Ngài trở về viện Quỳnh Lâm, nơi phương trượng cũ để an dưỡng. Đệ tử từ khắp nơi đổ về để thỉnh pháp và xin kệ. Ngài vẫn đối đáp và tùy duyên ban kệ, không hề tỏ ra mệt mỏi.

Vào ngày mùng 1 tháng 3, Thượng hoàng Trần Minh Tông đích thân đến thăm bệnh và cho gọi Thái y đến trị bệnh cho Ngài.

Đến tối ngày mùng 3, bệnh tình của Ngài lại trở nặng.

Huyền Quang thưa:

– Xưa nay, đến chỗ ấy, buông đi là tốt hay nắm lại là tốt?

Ngài bảo:

– Thảy đều không can hệ.

Huyền Quang:

– Khi thảy đều không can hệ thì thế nào?

Ngài bảo:

Khám phá: Rằm Tháng Bảy: Bí quyết chọn ngày "vàng" hóa giải vận hạn, đón bình an trọn vẹn

– Tùy xứ tát-bà-ha.

Các đệ tử đồng đến thỉnh:

– Các bậc cổ nhân lúc sắp tịch đều có để lại kệ dạy đệ tử, sao riêng Thầy không có?

Ngài quở trách họ. Một lúc sau, Ngài ngồi dậy, bảo đem giấy bút lại để viết kệ. Ngài viết một bài kệ:

Muôn duyên cắt đứt, một thân nhàn

Hơn bốn mươi năm giấc mộng tràng

Nhắn bảo mọi người thôi chớ hỏi

Bên kia trăng gió rộng thênh thang.

(Bản chữ Hán: Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn / Tứ thập dư niên mộng huyễn gian / Trân trọng chư nhơn hưu tá vấn / Na biên phong nguyệt cánh man khoan.)

Viết xong, Ngài ném bút và an nhiên thị tịch, hưởng thọ 47 tuổi. Theo lời di chúc của Ngài, đệ tử đã đưa nhục thể lên nhập tháp tại Thanh Mai Sơn.

Thiền sư Pháp Loa - Nhị tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử 3

Gần mãn đời, Sư kiểm những công tác Phật sự: đúc tượng Phật kể cả lớn và nhỏ có hơn một ngàn ba trăm (1300) vị; tạo đại già-lam được hai ngôi.

Nhị Tổ Pháp Loa đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp hoằng dương Phật pháp và phát triển dân tộc.

Vào ngày 11 tháng 3, Thượng hoàng Trần Minh Tông đã ngự bút ban cho Ngài hiệu là Tịnh Trí Tôn Giả, đặt tên tháp là Viên Thông. Ngài còn ban tặng mười lượng vàng để xây tháp và viết một bài thi vãn:

Đã hết duyên trần thõng tay đi

Giác Hoàng kim tuyến được truyền y

Thanh Sơn cỏ mọc che phần mộ

Cây biếc trong sương để xác ve.

Đêm phủ giảng đường trăng kim cổ

Ngày ngày trượng thất khói mờ che

Thân mến biết bao, ôi luyến tiếc !

Nhớ công giáo hóa lệ đầy mi.

(Bản chữ Hán: Thùy thủ trần hoàn dĩ liễu duyên / Giác Hoàng kim lũ đắc nhân truyền / Thanh Sơn mạn thảo quan tàng lý / Bích thọ thâm sương xác thuế thiền. / Dạ yểm giảng đường kim cổ nguyệt / Hiểu mê trượng thất hữu vô yên / Tương đầu châm giới ta phi tích / Trác tựu ai chương thế lệ huyền.)

Những tác phẩm của Thiền sư Pháp Loa còn lưu truyền đến ngày nay bao gồm:

– Đoạn Sách Lục

– Tham Thiền Chỉ Yếu (hoặc Thiền Đạo Yếu Học)

– Kim Cương Đạo Tràng Đà-la-ni Kinh

– Tán Pháp Hoa Kinh Khoa Số

– Bát-nhã Tâm Kinh Khoa

Khám phá sâu hơn về những triết lý sâu sắc và cuộc đời của Thiền sư Pháp Loa để hiểu rõ hơn về Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang