Câu chuyện về Thiền sư Viên Chiếu bắt đầu từ những năm tháng đầy biến động, khi ngài dấn thân vào con đường tu hành dù đang sống trong nhung lụa và gánh vác trách nhiệm gia đình. Hành trình tâm linh của ngài trải qua nhiều khúc quanh, từ việc phụng sự cho cung đình Huế đến quyết định rời xa danh lợi để tìm cầu chân lý, một hành trình đầy ý nghĩa mà quý vị có thể tìm hiểu thêm tại Chiasedaophat.
Thiền sư Thích Như Cự, húy Lê Văn Cự, sinh năm 1892 (Nhâm Thìn), tại thôn Thanh Phước, xã Hưng Phong, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thân phụ là cụ Lê Văn Chí, từng giữ chức quan nhỏ dưới thời Pháp thuộc, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Chuột. Ngài là con trưởng trong năm người con, nổi bật với lòng hiếu thảo, chuyên tâm tu hành, phụng thờ tổ tiên và phụng dưỡng cha mẹ.
Thời thiếu thời, ngài thông thạo Hán văn, quốc ngữ và một số ngoại ngữ. Lớn lên, ngài theo nghề thêu may truyền thống, với kỹ năng tinh xảo, vừa may đồ dân dụng, vừa thực hiện các đơn hàng đặc biệt cho cung đình Huế.
Ngài kết hôn với bà Tống Thị Yến, con gái lớn của một vị thượng thư triều đình Huế. Bà là người giỏi nữ công gia chánh, và hai người có với nhau bốn người con (ba trai, một gái). Cuộc sống của ngài ban đầu diễn ra trong cung điện nhà vua, vừa làm nghề thêu may, vừa tu tại gia.
Năm 1917 (Đinh Tỵ), ngài lần đầu quy y tại triều đình Huế, được ban ấn vua.
Năm 1932 (Nhâm Thân), ngài vào Nam lập chí tu hành. Tuy nhiên, vì mẹ lâm bệnh nặng, ngài trở về để thiết lễ cầu an và lo liệu hậu sự cho mẹ. Năm 1935 (Bảo Đại thứ 10), ngài rời cung điện nhà vua.
Cuối năm 1935 (Ất Hợi), sau khi mãn tang mẹ 100 ngày, nhận thấy lẽ vô thường của cuộc đời và chán ghét công danh, ngài quyết định tiếp tục dấn thân tìm thầy học đạo, mong cầu giải thoát. Ngài đã nói với gia đình rằng sẽ xa xứ tìm thầy giỏi, có thể đi đến Campuchia, Thái Lan hoặc bất cứ đâu, nếu không tìm được bậc minh sư sẽ tu hành theo hạnh đầu đà ẩn dật.
Gian nan tìm đường học pháp ở Campuchia, Thái Lan, Tây Tạng
Bảo tháp đơn sơ tôn trí nhục thân Thiền sư Viên Chiếu- Như Cự
Sau khi vào Nam, ngài cùng sư đệ Như Thượng, quê ở An Xuân, Quảng Điền, Thừa Thiên Huế, đã bộ hành không giày dép, chỉ mang theo một ít muối ớt sả, đi khất thực từng nơi, ngủ dưới gốc cây hoặc tại các chùa. Trong suốt hành trình, ngài chỉ dùng cơm với muối ớt sả.
Khi đến Sài Gòn, sư đệ Như Thượng ở lại, còn ngài tiếp tục sang Campuchia và Thái Lan. Ngài hẹn với sư đệ rằng sẽ quay lại đón hoặc báo tin khi tìm được “vua” (ám chỉ bậc minh sư hoặc pháp chân chính). Tuy nhiên, vẫn chưa tìm được thầy như ý nguyện, ngài quay lại Sài Gòn vào năm 1937, với dự định cùng sư đệ sẽ sang Tây Tạng học đạo.
Cơ duyên đã đến khi ngài gặp Thích Minh Tịnh (pháp danh Chơn Phổ-Nhẫn Tế), thuộc đời thứ 40 dòng thiền Lâm Tế. Vị pháp sư này đã từng tu học 3 năm tại Tây Tạng, uyên bác Phật pháp và được chính phủ cùng bạn bè Anh Quốc hỗ trợ. Ngài Chơn Phổ-Nhẫn Tế là trụ trì chùa Thiên Chơn, thuộc ấp An Thạnh (Bún), huyện Thuận An, Bình Dương ngày nay. Ngài Như Cự có thêm một người bạn đồng hành là Như Trạm, cũng quê ở An Xuân. Cả ba cùng đảnh lễ và xin theo sư phụ Chơn Phổ-Nhẫn Tế để học đạo.
Sau một thời gian tu học, vào ngày 8 tháng 7 năm 1941 (Tân Tỵ), sư phụ mới chấp nhận cho quy y.
Theo lời kể của sư đệ Như Thượng, vì ngài Như Cự đã từng quy y có ấn vua tại triều đình Huế nên không thể quy y lần thứ hai. Sau nhiều lần trình bày, ngài Như Cự giải thích rằng việc quy y này không phải là phản bội sư phụ cũ, mà do những bất cập trong việc tu hành tại địa phương, không đúng với Phật pháp, chùa chiền bị cải đạo, tư tưởng ít mở mang và phụ thuộc vào thời phong kiến thực dân. Cuối cùng, vào ngày nêu trên, ngài Như Cự cùng hai sư đệ chính thức được quy y. Sư phụ đặt pháp hiệu cho ba huynh đệ là: Như Cự (Viên Chiếu), Như Trạm (Tịch Chiếu) và Như Thượng (Thường Chiếu).
Gặp gỡ Bồ Tát Thích Quảng Đức và một mình thiền định thâm sâu nơi cốc vắng
Ngài Viên Chiếu ở với sư phụ Chơn Phổ-Nhẫn Tế cho đến cuối năm 1941 thì xin phép ra Khánh Hòa, về Tổ đình Linh Sơn (Vạn Ninh) để gặp Bồ Tát Thích Quảng Đức. Ngài đã từng gặp Bồ Tát Quảng Đức nhiều lần tại chùa Thiên Chơn và được hướng dẫn về việc tu núi. Lần này, ngài Viên Chiếu tiếp tục học hỏi về phương pháp tu núi, dựa trên kinh nghiệm ẩn tu của Bồ Tát Quảng Đức tại hòn Núi Đất (Địa Sơn), Ninh Hòa.
Nơi Thiền sư chọn để ẩn tu là một vách đá cheo leo trên Hòn Lớn. Một tảng đá lớn nhô ra ngoài, tạo thành một hốc đá che chắn nắng mưa. Thời bấy giờ, khu vực Hòn Lớn là rừng núi thâm u, hiểm trở, đầy lam sơn chướng khí, là nơi sinh sống của nhiều loài hổ, beo và rắn độc. Chỉ có những người đi lấy trầm hương mới dám bén mảng đến đây.
Hành trang của ngài vô cùng giản dị, ngoài y bát, chỉ có một ít thực phẩm khô như đậu, mè. Ngài một mình thiền định giữa núi cao rừng thẳm, đối mặt với vô vàn thử thách khắc nghiệt nhưng không hề nao lòng.
Nhờ đắc được mật pháp từ Hòa thượng Lạt ma Nhẫn Tế và sự chia sẻ kinh nghiệm tu núi của Bồ Tát Quảng Đức, Thiền sư Viên Chiếu đã đạt đến sự an trú thiền định rất thâm sâu.
Chỉ những bậc đã thành tựu thiền định mới có thể trụ lại được ở những nơi thâm sơn cùng cốc đầy hiểm nguy như vậy.
Ngày nay, dù người dân đã khai phá và canh tác hoa màu gần đến nơi am thất của Thiền sư, con đường lên núi vẫn còn nhiều gian nan. Lối mòn bị cỏ dại và gai góc bao phủ, phải vượt qua ba con suối cùng những tảng đá gập ghềnh. Vào mùa mưa, nước từ trên núi đổ về rất xiết, tiềm ẩn nguy hiểm cho người qua lại.
Nhìn lại hơn 60 năm trước, nơi đây càng hiểm trở hơn, càng khiến người ta thêm bội phục chí nguyện tu hành của Thiền sư.
Sống khổ hạnh, tìm thuốc cứu dân, lưu nhục thân bất hoại
Trong những ngày tháng ẩn tu thiền định tại Hòn Lớn, thỉnh thoảng Thiền sư mới xuống núi khất thực. Người dân địa phương (chủ yếu là người đi tìm trầm) cũng đôi lần lên thăm và mang theo ít thực phẩm khô cho ngài.
Phần lớn thời gian, Thiền sư sống khổ hạnh, chỉ ăn rau rừng, quả núi và chuyên tâm thiền định. Đến gần cuối năm 1943, một người dân lên núi tình cờ phát hiện ra ngài đã viên tịch.
Thiền sư ngồi dưới vách đá, an nhiên thị tịch trong tư thế kiết già tọa thiền vững chãi. Dân làng vô cùng kính phục đức hạnh cao cả của ngài. Sau khi lễ bái, họ đã gom đá núi xếp chồng lên nhau quanh nhục thân, tạo thành một bảo tháp.

Vách đá nơi ẩn tu của Thiền sư Viên Chiếu
Sau đó, chiến tranh bùng nổ, và trong gần mấy chục năm, không ai được phép lên núi. Sau năm 1975, khi người dân lên núi chặt cây, đào củ kiếm sống, mọi thứ đã thay đổi, không ai còn nhớ rõ vị trí hang Tổ. Mãi về sau, chư Tăng và Phật tử Ninh Hòa đã phát động một cuộc tìm kiếm quy mô trên Hòn Lớn và phát hiện được nhục thân của Thiền sư. Xương cốt vẫn còn nguyên vẹn trong tư thế ngồi kiết già như mấy chục năm trước. Từ đó, bảo tháp được xây dựng để tôn trí nhục thân ngài như hiện nay.
Dấu xưa tháp Tổ cô tịch hoang lạnh
Bảo tháp, dù đơn sơ và ẩn mình trên núi cao, vẫn là minh chứng cho địa linh, thánh tích huy hoàng về sự nghiệp tu tập của Thiền sư Viên Chiếu, lưu giữ nhục thân bất hoại. Đã có hai vị Tăng trẻ sau này noi gương tiền nhân, phát nguyện ẩn tu thiền định bên tháp Tổ, nhưng sau đó đã xuống núi hoằng hóa. Do đó, thánh tích hiện nay vẫn mang vẻ cô tịch, hoang lạnh và rêu phong.

Tấm bia đơn sơ mộc mạc và nơi ngài thị tịch tới giờ vẫn hoang vu
Dù cuộc đời Thiền sư như “nhạn quá trường không” (chim nhạn bay qua bầu trời), trong bối cảnh hiện tại, việc làm rạng danh chốn Tổ để tri ân công đức tiền nhân, nêu gương sáng tu hành cho hậu thế là điều mà những người con Phật cần suy ngẫm và thực hiện.
Việc nơi thị tịch của Thiền sư Viên Chiếu – một niềm tự hào của dòng thiền Việt Nam, một bậc Thiền sư đắc đạo, đức hạnh cao cả, một bậc đại sư thành tựu thiền định – lại còn sơ sài, tạm bợ, khiến lòng người không khỏi xót xa khi nhìn thấy sự hoang vu giữa núi rừng. Điều này cho thấy sự thiếu sót của chúng ta trong việc kiến tạo một nơi thờ tự trang nghiêm để tri ân một vị Tăng tài giỏi, đắc đạo hiếm hoi trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Tuệ Lam (Tổng hợp)
Nhục thân Thiền sư Viên Chiếu nơi cốc lạnh hoang sơ lay động lòng người là một câu chuyện đầy cảm hứng về hành trình tu đạo và thành tựu tâm linh. Hãy khám phá thêm những câu chuyện sâu sắc về đời sống tu hành và giáo lý Phật pháp trong chuyên mục Đạo phật.
