Thoại đầu thiền định: thực hành chánh niệm thay vì niệm chú

0
(0)

Trong cõi thiền định, việc quay về với chính mình qua thực hành quán chiếu sâu sắc thay vì bám chấp vào một điểm tựa duy nhất là con đường dẫn lối giác ngộ. Đại đức Hư Vân, với kinh nghiệm dày dặn, đã chia sẻ về phương pháp thoại đầu, một kỹ thuật vượt ngoài ngôn từ, đi thẳng vào bản tâm thanh tịnh, như cách Tôn giả Ma Ha Ca Diếp đã thấu suốt ý chỉ của Đức Phật qua một cành hoa. Khám phá hành trình thiền định tinh tế này tại Chiasedaophat.

Thiền Thất Khai Thị: Tham Thiền Thoại Đầu

Đại Hòa thượng Vi Phảng với lòng từ bi sâu sắc, cùng sự tha thiết hoằng dương Phật pháp của chư vị ban thủ và các đại cư sĩ đạo tình, đã phát tâm tổ chức thiền thất. Sự kiện này, với yêu cầu Hư Vân tôi đảm nhận vai trò chủ thất, quả thực là một nhân duyên thù thắng. Tuy nhiên, do tuổi già sức yếu và bệnh tật, khả năng giảng dạy của tôi có phần hạn chế.

Đức Phật đã thuyết pháp hơn bốn mươi năm, với vô lượng lời dạy hiển mật, bao trùm cả ba tạng kinh điển. Việc tôi đứng đây thuyết pháp hôm nay, suy cho cùng, chỉ là lặp lại những lời vàng ngọc của Phật Tổ. Trong tông môn, có một câu chuyện được ghi lại trong Kinh Đại Bát Nhã. Khi Đức Phật đang thuyết pháp, Vua trời Đại Phạm đã dâng cúng một cành hoa Kim Đàn. Ngài đưa cành hoa lên, nhưng tất cả đại chúng, trời người đều không hiểu ý nghĩa. Chỉ duy nhất Tôn giả Ma Ha Ca Diếp mỉm cười. Đức Thế Tôn liền phó chúc: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, nay đem phó chúc cho ông Ca Diếp.”

Tham thiền Thoại đầu chứ không phải niệm câu thoại 1
 

Đây là sự truyền thừa ngoài giáo lý, không dựa vào văn tự, đi thẳng vào tâm giác ngộ. Người đời sau, vì sự mê mờ, thường lầm tưởng đó là thiền. Kinh Đại Bát Nhã còn ghi nhận hơn hai mươi loại thiền, nhưng tất cả đều không phải là cứu cánh tối hậu. Thiền trong tông môn mới là pháp môn vô thượng, không phân biệt giai cấp, chỉ thẳng vào tâm địa, giúp người thấy tánh thành Phật. Do đó, việc tham thiền không nhất thiết phải gắn liền với việc “đả thất” (tổ chức khóa thiền). Tuy nhiên, do căn tánh chúng sanh ngày càng yếu kém, vọng tưởng sinh khởi không ngừng, chư tổ mới đặt ra phương tiện này để nhiếp hóa.

Tông môn này, từ Tổ Ma Ha Ca Diếp truyền thừa đến nay, đã trải qua hàng chục đời. Trong các triều đại Đường và Tống (619-1278), thiền pháp hưng thịnh khắp nơi. Hiện tại, thiền tông đang ở vào thời kỳ suy vi, chỉ còn một vài nơi như Kim Sơn, Cao Mân, Bảo Quang còn giữ được phần nào tông phong. Vì lẽ đó, nhân tài trong tông môn ngày càng hiếm hoi. Nhiều người tham gia “đả thất” tham thiền, nhưng đa phần chỉ vì danh tiếng, chứ không thực sự thấu hiểu bản chất.

Thuở xưa, Thất Tổ Hành Tư đã hỏi Lục Tổ Huệ Năng: “Làm thế nào để khỏi lạc vào giai cấp?” Lục Tổ đáp lại: “Ông đã từng làm những gì?” Tổ Hành Tư trả lời: “Thánh đế còn chẳng làm, thì có gì là giai cấp?” Lục Tổ thầm tán đồng và chấp nhận. Ngày nay, căn khí chúng sanh có phần cứng cỏi, nên chư vị Tổ Sư đã phương tiện dạy tham quán câu thoại đầu. Sau đời Tống, khi người niệm Phật ngày càng nhiều, chư vị Tổ Sư lại dạy tham quán câu “Ai là người đang niệm Phật?”.

Hiện nay, nhiều nơi áp dụng phương pháp này, nhưng không ít người chưa hiểu rõ. Họ cứ lặp đi lặp lại câu “Ai là người đang niệm Phật” nơi cổ họng, niệm không ngừng nghỉ, biến thành tụng niệm thay vì tham quán thoại đầu. Tham thoại đầu chính là tham cứu, là quán sát. Do đó, trong các thiền đường thường treo bốn chữ “Chiếu Cố Thoại Đầu”. “Chiếu” nghĩa là phản chiếu, “Cố” nghĩa là xoay trở lại. Ý nghĩa là phải tự phản chiếu, nhìn sâu vào tự tâm mình. Đó chính là quán thoại đầu.

Khi câu “Ai là người niệm Phật” chưa khởi lên, nó được gọi là thoại đầu. Khi đã khởi lên, nó trở thành thoại vĩ (đuôi câu thoại). Khi tham khán thoại đầu, chúng ta cần chú trọng vào chữ “Ai”. Lúc tâm chưa khởi lên chữ “Ai”, trạng thái đó như thế nào? Tương tự như khi đang niệm Phật, có người hỏi: “Bạch Thầy! ‘Ai’ đang niệm Phật?”. Nếu ta đáp: “Tôi là người đang niệm Phật”, người đó sẽ hỏi tiếp: “Thầy là người niệm Phật. Vậy miệng niệm hay ý niệm? Nếu nói miệng niệm thì lúc ngủ, sao không niệm? Nếu nói tâm niệm thì lúc thân này chết mất, sao không tiếp tục niệm?”.

Vì vậy, chúng ta có một nghi vấn cần truy cứu: “Câu thoại đầu này từ đâu mà đề khởi? Ta là ai?”. Cần phải vi tế, phản chiếu xoay trở lại, xem xét kỹ càng. Đó chính là nghe lại tự tánh của mình.

Trong lúc đi bộ hành hương, cần ngẩng đầu, gáy chạm nhẹ vào cổ áo. Bước theo nhịp chân người phía trước. Tâm phải bình tĩnh, thanh tịnh. Tránh nhìn đông ngó tây, chỉ nhất tâm xoay trở lại, phản chiếu câu thoại đầu. Khi ngồi, không ưỡn ngực về phía trước. Hơi thở giữ tự nhiên, không quá cao hay quá thấp.

Hơn nữa, cần thu nhiếp sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Buông bỏ mọi vọng tưởng. Luôn luôn xoay chiếu lại thoại đầu, không để quên mất. Tránh quán sát quá vi tế, vì dễ rơi vào hôn trầm (buồn ngủ) hoặc lạc vào không vọng, không thể thọ dụng. Cũng tránh quán sát quá thô, vì dễ sinh vọng tưởng, không thể khởi thoại đầu. Khi quán sát được thoại đầu, công phu sẽ dần thuần thục, tập khí cũng dần giảm bớt. Người mới bắt đầu dụng công có thể gặp khó khăn trong việc quán sát thoại đầu. Tuy nhiên, đừng lo sợ, cũng đừng mong cầu khai ngộ hay trí huệ.

Cần hiểu rằng, việc “đả thất” là để khai ngộ tâm tánh và cầu trí huệ. Nếu còn khởi tâm cầu mong, thì chẳng khác nào “lấy đầu đặt lên đầu”. Ngày nay, khi đã hiểu rõ, chỉ cần chuyên tâm đề khởi câu thoại đầu. Nếu trong lúc dụng công chưa đề khởi được thoại đầu, đừng vội gấp rút. Hãy xả bỏ mọi vọng tưởng, giữ tâm lặng lẽ, xoay chiếu trở lại. Khi vọng tưởng khởi lên, không chấp trước, chúng sẽ tự nhiên lắng xuống.

Như lời dạy: “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm.” Vọng niệm khởi lên, hãy dùng định lực xoay lại xem khán thoại đầu. Nếu mất thoại đầu, phải mau chóng đề khởi lại. Lúc mới ngồi thiền, có thể chỉ tập trung dẹp vọng tưởng, nhưng dần dần, thoại đầu sẽ tự khởi lên. Khi đó, quý vị có thể ngồi hết cả một cây nhang. Nếu không để mất thoại đầu, kết quả sẽ rất tốt.

Ngôn ngữ chỉ là phương tiện. Quý vị hãy nên chân thật dụng công.

Thiền sư Hư Vân (Thiền thất khai thị lần thứ nhất tại chùa Ngọc Phật, thành phố Thượng Hải, năm 1953)

Tìm hiểu thêm: Diệt Đế: Cánh cửa vĩnh cửu đến Niết Bàn và an lạc đích thực

Khám phá: Tùy Duyên Lắng Nghe Pháp Thoại: Chìa Khóa An Lạc Cho Tâm Hồn

Xem thêm: Milinda Vấn Đạo: Cuộc Đối Thoại Phật Giáo Kinh Điển Giữa Vua & Tăng Lữ Tại Cái Nôi Văn Hóa Tây Bắc Ấn

Để hiểu sâu hơn về những lời dạy quý báu này, mời bạn khám phá thêm trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang