Nằm uy nghiêm bên dòng sông Hương thơ mộng, Chùa Thiên Mụ không chỉ là một biểu tượng kiến trúc cổ kính của Cố đô Huế mà còn ẩn chứa trong mình những câu chuyện lịch sử, huyền thoại ly kỳ. Từ việc chọn lựa địa thế linh thiêng đến những lời tiên tri về bậc minh chủ, ngôi chùa này đã chứng kiến bao thăng trầm của đất nước. Khám phá về Đại Hồng Chung và hành trình xây dựng, trùng tu ngôi cổ tự tại Chiasedaophat sẽ đưa bạn ngược dòng thời gian về với cội nguồn văn hóa, tâm linh sâu sắc.
Khái lược về Chùa Thiên Mụ và Đại Hồng Chung
Tọa lạc trên một ngọn đồi thuộc xã Hà Khê, cách cố đô Huế về phía Tây khoảng 05 km, “Thiên Mụ tự” nghiễm nhiên trở thành một thắng cảnh uốn quanh địa thế “Sông Hương núi Ngự”. Trong ý nghĩa được phác họa gần nhất, Thiên Mụ là bà lão nhà Trời. Điều này đã đan dệt không ít yếu tố mang tính truyền thuyết, kể về việc trấn yểm của Cao Biền. Theo truyền thuyết, Cao Biền, theo lệnh vua Đường Ý Tôn, đã tìm những nơi đất tốt có vượng khí để lập phép trấn yểm. Ông nhận thấy ngọn đồi hình đầu rồng tại xã Hà Khê là một dấu hiệu tốt của vùng linh địa. Lại thêm nghe được lời tiên báo từ một bà lão tóc bạc: “Đời sau, nếu có bậc minh chủ, muốn bồi đắp mạch núi lại, đem lại linh khí cho đồi núi này, thì hãy lập chùa thờ Phật ở đây…”. Từ huyền thoại này, “Ngay sau khi Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558-1613) vào trấn thủ đất Thuận Hóa, ông đã để ý đến việc lập chùa vào năm 1601…” và tự tay viết biển chùa là “Thiên Mụ tự” (chùa Thiên Mụ – chùa bà lão nhà Trời).

Thực tế, chúa Nguyễn Hoàng cho xây dựng lại chùa Thiên Mụ trên nền một ngôi chùa nhỏ đã có trước đó, như Đỗ Văn An đã ghi lại trong Ô Châu cận lục năm 1554. Chùa Thiên Mụ được xây dựng không chỉ dựa trên truyền thuyết hay sự ngẫu nhiên, mà là một sự tất yếu trong tổng thể xây dựng một mái nhà chung cho Phật giáo quy mô và rạch ròi dưới thời chúa Nguyễn Hoàng. Năm 1862, vua Tự Đức, lo ngại chữ “Thiên” phạm húy, đã đổi tên chùa thành “Linh Mụ”. Đến năm 1869, nhà vua mới cho phép sử dụng lại tên “Thiên Mụ”. Vì vậy, dân gian vẫn dùng cả hai tên này.
Sau khi thành lập, Thiên Mụ nhanh chóng trở thành trung tâm sinh hoạt lớn của Phật giáo Đàng Trong, bao gồm việc tổ chức các lễ nghi, truyền giới và đón tiếp nhiều bậc Cao tăng nội ngoại quốc như ngài Thạch Liêm, Lâm Tế, Liễu Quán. Các bậc quân vương thời Nguyễn như chúa Nguyễn Phúc Chu, Nguyễn Phúc Khoát, và sau này là vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đều hết lòng hộ trì. Cụ thể, “Năm 1815, vua Gia Long sắc tu bổ lại chùa Thiên Mụ… Năm 1844, vua Thiệu Trị, theo di chúc của vua Minh Mạng, sắc dựng một ngôi tháp lớn bảy tầng ở chùa Thiên Mụ, gọi là Từ Nhân Tháp. Năm 1849, vua Tự Ðức sắc các chùa công như Thiên Mụ,… được chủ trì bởi một vị Tăng cương để lãnh đạo Tăng chúng tu học, các vị Tăng cương này đều có lương bổng của chính phủ chi cấp. Năm 1853, vua Tự Ðức lại sắc ban ruộng đất cho các chùa như Thiên Mụ,…”. Điều này cho thấy, bên cạnh nỗ lực khôi phục vị thế Nho giáo, triều Nguyễn vẫn duy trì sự hộ trì đối với Phật giáo, đặc biệt là Thiên Mụ, nơi nhanh chóng được xem là Quốc tự, mang đậm màu sắc Phật giáo cung đình.
Chùa Thiên Mụ cũng đối mặt với những giai đoạn khó khăn. “Vào cuối thế kỷ XVIII, chùa Thiên Mụ lại lâm vào tình trạng đổ nát, mãi đến năm 1815, thời Gia Long, chùa mới được xây dựng lại”. Giai đoạn hoang tàn này cũng đã được Phan Huy Ích ghi lại trong chuyến đi đến Phú Xuân năm 1716 qua bài thơ “Phỏng Thiên Mụ tự chỉ tác”:
“Thăm nền của chùa Thiên Mụ
Ngăn sóng, đồi cao cỏ phủ dày
Chùa xưa hoang vắng khói hòa mây
Am Tăng, nền cũ, thành đàn tế
Điện Phật, lối nào, dấu nữa xe
Bia tạc, chữ mờ, rêu phủ kín
Khánh quý tiếng còn giục khách mê
Hai mươi năm trước từng viếng cảnh
Chiều tà, tiều hát, chẳng buồn nghe”
“Những năm chinh chiến đã để lại bao nhiêu đổ nát trong xứ sở. Tự viện và Tăng sĩ cũng chịu chung số phận: Nhiều chùa chiền bị phá hủy, các trung tâm tu học bị giải tán, Tăng sĩ tản mác mọi nơi. Một số các Cao tăng trở về kiến thiết lại các tổ đình và tổ chức trở lại sự tu học”. Đặc biệt, “Năm 1947, cùng chung số phận với hàng loạt các cơ sở Phật giáo cả nước, chùa Linh Mụ cũng bị Pháp đánh phá và chiếm đóng”.
Ngày nay, khi nghiên cứu về các giá trị văn hóa của Phật giáo Đàng Trong nói chung và Phật giáo cố đô Huế nói riêng, Thiên Mụ không chỉ là một danh lam thắng cảnh mà còn là nơi lưu giữ nhiều di tích lịch sử quý giá gắn liền với quá trình xây dựng, mở mang sự nghiệp của triều Nguyễn. Quả chuông được Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu “đúc cúng chùa Thiên Mụ vào ngày mồng 08 tháng 4 năm Canh Dần (1710)”. Đây là nơi duy nhất trong số bảo vật chùa Thiên Mụ được chúa Phúc Chu cho khắc bốn chữ “Thiên Mụ thiền tự”. Trên chuông còn khắc rõ bài minh: “Quốc chúa Ðại Việt Nguyễn Phúc Chu, nối dòng Tào Ðộng Chánh Tông đời thứ ba mươi, pháp danh Hưng Long, đúc hồng chung này nặng 3.285 cân, an trí ở chùa Thiên Mụ thiền tự để vĩnh viễn cung phụng Tam bảo. Cầu nguyện gió hòa mưa thuận quốc thái dân an, chúng sinh trong pháp giới đều hoàn thành đại viên chủng trí. Năm Vĩnh Thịnh thứ sáu, ngày Phật đản tháng Tư Canh Dần”. Theo nội dung này, quả chuông không chỉ cung cấp thông tin về niên đại, nhân vật và ý nghĩa hộ trì Pháp bảo mà còn khẳng định việc kế thừa, nối dòng tông phái Tào Động thứ 30 do Tổ Thạch Liêm truyền vào Việt Nam. Ngày nay, trong việc đánh giá chất lượng các đại hồng chung, “Chuông Thiên Mụ nổi tiếng cả nước với tiếng ngân vang xa rộng của nó”. Điều này góp phần mang lại những giá trị văn hóa cao quý được hình thành và hun đúc trên mảnh đất cố đô hơn 400 năm qua. Đại hồng chung chùa Thiên Mụ đã được nhà nước công nhận là bảo vật quốc gia năm 2013.
Cổ vật này được tôn trí trong một ngôi nhà lục giác, nằm bên phải tháp Phước Duyên. Tương ứng với 6 mặt của nhà chuông, mỗi mặt đều có một cửa vòm. Chỉ có một lối đi ba bậc cấp, lát đá thanh, hai bên không có lan can. Phần nóc chia làm hai tầng, lợp ngói âm dương tráng men vàng, các bờ nóc bờ quyết đắp xi măng hình mây hóa rồng. Trên chóp gắn hồ lô bằng xi măng. Xung quanh tường quét vôi màu vàng gạch và nâu nhạt. Sự phối trí kiến trúc chùa chiền cạnh “non nước” thể hiện sự hòa điệu với thiên nhiên trong việc cầu nguyện mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, đồng thời nhắn gửi thông điệp về sự hiện diện của một pháp khí quan trọng trong nghi lễ nhà chùa.

Với trọng lượng gần 02 tấn, chuông được treo trên một chiếc giá đúc bằng bê tông sơn màu nâu giả gỗ. Giả thuyết cho rằng giá chuông này được làm lại cùng thời với đợt trùng tu điện Đại hùng bảo điện vào năm 1954. Khác với nhiều đại hồng chung hiện thời, cổ vật này đã được hạ sát xuống thanh đỡ phía dưới, cho thấy chuông đã ngừng hoạt động và cần được bảo trì để giảm thiểu tác động bào mòn qua các triều đại lịch sử.
Những giá trị của Đại Hồng Chung chùa Thiên Mụ
Dựa trên các sự kiện lịch sử liên quan đến niên đại, nhân vật đúc chuông và các mô tả chi tiết, Đại Hồng Chung chùa Thiên Mụ là một di sản chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học. Nó không chỉ có ý nghĩa đối với Phật giáo Đàng Trong vào đầu thế kỷ XVIII mà còn mang tầm vóc lớn lao cho Phật giáo Việt Nam cho đến ngày nay.
Về giá trị lịch sử, đây là một bảo vật do chúa triều Nguyễn (Nguyễn Phúc Chu) dâng cúng, gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của chúa cũng như bối cảnh Nam tiến của dân tộc. Việc nhà Chúa cúng chuông không chỉ khẳng định niềm tin và sự hộ trì Phật pháp, mà còn mở ra tiền đề để các quân vương sau này quan tâm hơn đến thiện sự này. Bên cạnh ý nghĩa tâm linh, hành động này còn thể hiện chính sách tôn giáo mềm mỏng, nhu nhuyến đối với đạo Phật. Tiếng chuông ấy, giữa chốn kinh kỳ trầm mặc, không chỉ mang thông điệp thức tỉnh mà còn là tiếng vọng về khát vọng chung của con người trong hành trình Nam tiến. Từ đó, Quốc tự Linh Mụ dần thu hút đông đảo tín đồ, giúp triều đình thu phục lòng dân, tạo dựng niềm tin và sự ủng hộ, góp phần ổn định đất nước. Đại hồng chung chùa Thiên Mụ trở thành một pháp khí góp phần “gắn kết Phật giáo với Hoàng đồ và Đạo đế trong vai trò hệ tư tưởng chính thống”.
Kiệt tác này còn phản ánh lịch sử giao lưu, phát triển giữa các nền mỹ thuật điêu khắc, hội họa và kỹ nghệ đúc đồng đặc sắc thời chúa Nguyễn. Nó đánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc hình thành và truyền bá kỹ nghệ đúc đồng của làng nghề (phường đúc), đặc biệt là sự ảnh hưởng của Hán tự Trung Hoa và Bát bửu của Đạo giáo, Nho giáo. Những yếu tố này làm phong phú thêm cá tính đặc thù của lịch sử Phật giáo Đàng Trong trong buổi đầu tiếp biến và canh tân tư tưởng, triết lý nhà Phật. Lịch sử Phật giáo Việt Nam sẽ không trọn vẹn nếu bỏ quên nền văn hóa, nghệ thuật được vua chúa và thần dân triều Nguyễn trân trọng gìn giữ.

Về giá trị văn hóa, đại hồng chung là bảo vật tiêu biểu được công nhận Di sản văn hóa vật thể tại chùa Thiên Mụ. Các họa tiết trang trí trên chuông độc đáo, không có chiếc chuông nào sánh được, kể cả chuông do vua Gia Long dâng cúng. Thiết kế quả chuông và phân chia các ô trên thân chuông thể hiện sự kế thừa văn hóa thời Lê và phát triển vào thời Nguyễn. Đặc biệt, sự phối hợp giữa Bát bửu Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo đánh dấu sự dung nạp và kiến tạo nên một văn hóa mới trong đạo Phật. Những yếu tố này minh chứng cho sự hòa quyện, giao thoa giữa các nền văn minh, các luồng tư tưởng, văn hóa dân tộc dưới thời chúa Nguyễn, thể hiện sự gắn bó mật thiết trong đời sống xã hội qua đức tin và ước nguyện của quần chúng, triều đình, thông qua việc dung hợp, tiếp biến các tín ngưỡng văn hóa giữa ba tôn giáo: Phật – Nho – Lão giáo.
Kỹ thuật đúc chuông đồng thời Nguyễn đạt đến đỉnh cao rực rỡ và huy hoàng. Nhiều sản phẩm của Phường Đúc thời đó nay đã trở thành di sản trong kho tàng văn hóa vật thể của kinh thành Huế, mà đại hồng chung chùa Thiên Mụ năm 1710 là một điển hình. Chuông không chỉ toát lên những đường nét tinh xảo mà còn phản ánh trình độ thâm niên và sự am hiểu giá trị văn hóa tín ngưỡng của các bậc thầy đúc đồng. Bên cạnh giá trị về hình thức, giá trị về âm thanh cũng được đánh giá cao. “Tiếng chuông chùa Thiên Mụ biểu trưng cho sự hiện diện của Phật giáo hằng ngày, sớm và chiều tại cố đô Huế, trong lòng mỗi người dân tại cố đô Huế”. Do vậy, rất nhiều du khách, đặc biệt là khách nước ngoài, rất ấn tượng với chuông cổ chùa Thiên Mụ.
Lược bỏ giả thuyết trấn yểm của Cao Biền, rõ ràng “Dân Việt Nam có xây chùa thờ Phật là mọi phép yểm của Cao Biền đều bị phá hết”. Sức mạnh của chân lý và cái thiện là tối thượng. Trong phạm vi ảnh hưởng của Đạo Phật, không có sự trấn yểm nào có thể bẻ gãy hướng đi của đạo Phật. Tuy nhiên, trong sự kỳ vọng và tín mộ của quần chúng, Phật giáo cũng dựa trên tinh thần phương tiện để chuyển tải thông điệp qua lời kinh, tiếng kệ và âm thanh vang vọng của chuông chùa. Việc chọn địa thế tôn trí chuông cũng mang một chút ý nghĩa phong thủy, không phải để “trấn” mà để hợp cùng sức mạnh của sông nước, tạo nên tiếng vang vọng lớn cho đất trời cố đô.

Về giá trị khoa học, đây là hiện vật gốc có giá trị lớn cho các nhà nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Đàng Trong. Chuông góp phần cung cấp tư liệu cho ngành khảo cổ học Phật giáo trong việc tìm kiếm dấu vết lịch sử, văn hóa tại Thần kinh đầu thế kỷ XVIII. Đây là nguồn tư liệu quan trọng cho các ngành khảo cổ, lịch sử, văn hóa, văn hóa Phật giáo, mỹ thuật, đúc đồng, đặc biệt là quá trình Phật giáo theo đoàn di dân tiến vào miền Nam.
Ở một khía cạnh khác, chuông chùa Thiên Mụ là một chất xúc tác lớn cho âm nhạc và thi ca. Những câu hò ví dặm, làn điệu “nam ai” mang mác như: “Gió đưa cành trúc la đà/Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương” đã trở thành âm hưởng văn hóa ăn sâu vào tiềm thức người dân xứ Huế. Trong lĩnh vực văn học, vua Thiệu Trị đã “bỏ nhiều công sức để phân hạng và đề vịnh thơ hai mươi thắng cảnh tiêu biểu của đất Thần kinh…”. Thiên Mụ tự cũng nằm trong số ba danh lam thắng cảnh được vua vịnh thơ:
“Cao cương cổ sát trấn tiền xuyên
Nguyệt tướng thường viên tự tại thiên
Bách nhị hồng thanh tiêu bách kiết
Tam thiên thế giới tỉnh tam duyên
Tằng hoằng ngọ nhật u minh cảm
Liêu lượng dần tiêu đạo vị huyền
Phật tích thánh công thùy hải vũ
Thiện nhân phước quả phổ cai diên”
Bài thơ “Ca ngợi sắc tướng của Phật … nhấn mạnh tính chất thức tỉnh của tiếng chuông cùng lẽ nhiệm mầu của lời kinh tiếng kệ. … hai câu kết là cái mong ước bình thường của một ông vua mộ Phật về sự gắn bó tốt đẹp giữa Phật giáo và đất nước, dân tộc”. Bài thơ thể hiện tấm lòng và kiến giải của nhà vua đối với Phật pháp, cho thấy giáo lý Đạo Phật đã trở thành tư tưởng chủ đạo trong áng văn thơ của ngài, tạo nên nét tương đồng rõ rệt khi so sánh với thơ văn của Phật giáo Lý Trần.
Kết luận
Nhìn tổng thể, chùa Thiên Mụ là một trong số ít danh lam tạo dựng được mối liên hệ đậm đà với sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo dưới vương triều nhà Nguyễn. Bên cạnh giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, văn học, hội họa, thi ca cũng không ngừng ca ngợi chốn danh lam, cổ tự này. Đặc biệt, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc chùa chiền thể hiện rõ nét vị trí của Đạo Phật trong đời sống tinh thần của cư dân đến vùng đất mới. Thiên Mụ trở thành niềm tự hào và biểu tượng thịnh vượng của Phật giáo nước nhà, xứng tầm với Phật giáo cung đình Huế.
Riêng về đại hồng chung, dưới góc nhìn của giới nghiên cứu, đây là một đại kiệt tác phản ánh tinh hoa dân tộc và là điểm tựa tinh thần của người dân cố đô. Ngoài việc gián tiếp thể hiện tinh thần dân tộc, hộ quốc an dân của Phật giáo, tiếng “chung cổ” bên dòng sông Hương đã góp phần khẳng định vai trò của một Quốc tự. Nó khơi dậy mối liên hệ mật thiết, hòa quyện giữa tinh thần từ bi, giải thoát của đạo Phật với bản sắc văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc Việt. Tinh thần nhập thế của Phật giáo đã len lỏi vào âm thanh vang vọng trên bầu trời và trong lòng người dân cố đô, thôi thúc họ gạn đục khơi trong, lắng đọng tâm tư để tìm về cuộc sống bình yên, thanh nhàn.
Việc tìm hiểu về bảo vật hơn 400 năm tuổi trong ngôi đại cổ tự xứ Huế là quá trình tìm lại những giá trị vàng son gắn liền với biết bao thăng trầm trong buổi đầu Nam tiến. Nó không chỉ phản ánh việc chuyển tải đạo lý nhà Phật mà còn giới thiệu về một thời kỳ Phật giáo phát triển hưng thịnh ở Đàng Trong dưới sự hộ trì của tầng lớp vua chúa. Qua đó, góp phần xây dựng ý thức bảo tồn để đại hồng chung luôn giữ gìn dáng vẻ cổ kính và nét đẹp nên thơ của mình.
Để hiểu sâu hơn về ý nghĩa và những giá trị mà Phật giáo mang lại, hãy cùng khám phá thêm trong chuyên mục Đạo phật.
