Tình yêu đôi khi mang đến những cung bậc cảm xúc mãnh liệt, khiến con người sẵn sàng hy sinh cả tình thân để theo đuổi. Nhưng liệu trong sự say đắm ấy, chúng ta có còn nhớ đến ơn nghĩa sinh thành? Hãy cùng khám phá những góc khuất và ý nghĩa sâu sắc về hiếu đạo trên hành trình tìm về bản tâm, nơi mọi vấn đề đều có thể được hóa giải tại Chia sẻ Đạo Phật.
Tình yêu sét đánh có sức mạnh lay động tâm hồn, khiến con người say đắm và si mê. Trong tình yêu, sự gắn bó giữa vợ chồng đôi khi còn vượt qua cả tình cảm ruột thịt, có người sẵn sàng từ bỏ cha mẹ để theo đuổi tình yêu. Điều này thật đau lòng, bởi ít ai nhận ra công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ. Mẹ mang nặng đẻ đau, cha vất vả nuôi con khôn lớn, dựng vợ gả chồng cho con để con có cuộc sống ổn định.
Do chìm đắm trong si mê tình ái và ràng buộc hôn nhân, con người thường chỉ quan tâm đến vợ con, gia đình riêng. Ít ai thấu hiểu và đền đáp công ơn trời biển của cha mẹ. Hiếu kính cha mẹ là đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, nhắc nhở chúng ta phải biết tôn trọng và phụng dưỡng đấng sinh thành.
Ngay từ khi lọt lòng, chúng ta đã được mẹ mớm dòng sữa ngọt ngào, kết tinh từ tình yêu thương vô bờ bến. Tuy nhiên, khi lớn lên, lập gia đình và có trách nhiệm với con cái, con người thường có xu hướng đặt lợi ích gia đình riêng lên trên, quên đi công ơn dưỡng dục của cha mẹ. Đây là một lẽ thường tình trong cuộc sống.
Trong cuộc đời, con người thường tự vấn về mục đích sống, về nguồn cội và đích đến sau khi chết. Tại sao ta không tìm thấy bình yên và hạnh phúc thực sự? Làm thế nào để tìm ra ý nghĩa cuộc sống? Mỗi chúng ta sinh ra đều là kết quả của tình yêu thương giữa cha mẹ, đó là quy luật tự nhiên của tạo hóa.
Cuộc sống con người vốn dĩ phong phú nhưng cũng đầy rẫy phức tạp. Khả năng suy nghĩ, nói năng và hành động mang lại lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Ngược lại, nếu không suy xét kỹ lưỡng, những hành động đó có thể gây ra phiền muộn và đau khổ cho nhân loại.
Sau khi cái chết, sự sống vẫn tiếp diễn dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào nghiệp nhân tốt hay xấu mà ta đã gieo trồng. Ngay cả khi đạt đến giác ngộ, các vị Phật vẫn tiếp tục công việc độ sinh, thực hiện hạnh nguyện cao cả của Bồ tát, tùy duyên hóa độ chúng sanh. Sự sống luôn tuần hoàn, không bao giờ chấm dứt.
Tình ái là khởi nguồn của sinh tử, đồng thời cũng là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại của vạn vật trong cõi Ta bà đầy khổ đau. Ái bao gồm tình thương dành cho cha mẹ, vợ con, anh em, bạn bè, cho đến tình yêu với danh vọng, tiền tài, nghệ thuật, nhà cửa, cảnh vật thiên nhiên…
Vậy gốc rễ của sinh tử là gì? Người xưa đã dạy: “Nghiệp không nặng không sinh vào cõi Ta bà, lòng tham ái không dứt không sinh vào Tịnh độ”. Tham ái chính là nguồn gốc của sinh tử. Nếu không hiểu rõ điều này mà chỉ tu tập hời hợt, ta chỉ hưởng được phước báo ở cõi trời, cõi người.
Do đó, những người tu hành theo Phật pháp cần nhận thức rõ ràng rằng tham ái là cội nguồn của sinh tử. Để đạt được sự tự tại và giải thoát, chúng ta phải đoạn trừ gốc rễ này. Khi đối diện với vợ con, gia đình, tài sản hay danh vọng, hãy nhớ rằng tất cả những thứ này đều không thể mang theo khi chết. Sự chia ly, mất mát càng khiến ta thêm luyến tiếc và khó thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.
Nếu con người sống bằng tình yêu thương chân thật, thế giới xung quanh sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Bầu trời sẽ quang đãng, mặt đất không còn cảnh lầm than, và những đau khổ do hiểu lầm, oán giận sẽ không còn.
Tình cảm giống như những hạt mưa. Mưa lớn có thể dập tắt ngọn lửa tham lam, ích kỷ, hay sự căm ghờn, đố kỵ. Tuy nhiên, mưa cũng có thể nuôi dưỡng ngọn lửa tình yêu, ước mơ và hy vọng. Bằng sự khoan dung, thấu hiểu và sẻ chia vị tha, chúng ta có thể vun đắp những ngọn lửa ấy, tránh để chúng lụi tàn trong đêm tối vô minh.
Tình yêu thương chân thành, sự xót xa trước những mảnh đời bất hạnh, lòng cảm thông, chia sẻ và tha thứ đều xuất phát từ “tình thương yêu chân thật”. Khi đánh mất giá trị và phẩm chất làm người, chúng ta tự tách mình ra khỏi thế giới của nhận thức đúng đắn và tâm linh.
Hạnh phúc lớn nhất của con người là được sống hòa hợp, chan hòa trong tình yêu thương chân thật của mọi người.
Người xưa có câu: “Mất của cải là mất ít, mất tình thương là mất nhiều”. Đôi khi, chúng ta mất tất cả vì tham ái, si mê. Một người sống thiếu tình cảm sẽ trở nên hung ác, tàn nhẫn. Cha mẹ có thể hại con, vợ chồng không tôn trọng nhau, anh em tranh giành tài sản, bạn bè hại nhau vì lợi ích cá nhân. Tất cả là do thiếu vắng tình thương yêu chân thật, dẫn đến sự vô cảm, thiếu thốn lòng thông cảm và tha thứ.
Chúng ta nên sống bằng trái tim yêu thương và thấu hiểu, trân trọng những gì mình đang có. Hãy sống bằng tình người, đừng để sự vô cảm len lỏi vào cuộc sống. Hãy đặt tình yêu thương nhân loại làm trung tâm, mở rộng trái tim, quan tâm, chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh, thông cảm và sẵn sàng nâng đỡ họ. Hãy biết quý trọng tình cảm và tha thứ cho lỗi lầm của người khác.
Trong cuộc sống bộn bề, đôi khi chúng ta mải mê công việc, lạc thú bên bạn bè mà quên đi những phút giây êm đềm, hạnh phúc bên cha mẹ. Cha mẹ, người ngày đêm thương nhớ, mong chờ và dõi theo từng bước chân của chúng ta.
Ngày xưa, trong một kiếp nọ, Tôn giả Mục Kiền Liên sinh ra trong một gia đình khá giả. Dù đã trưởng thành, ngài không muốn lập gia đình để phụng dưỡng cha mẹ già. Tuy nhiên, vì mong muốn có con nối dõi, cha mẹ đã ép ngài cưới vợ.
Ban đầu, người vợ mới về nhà chồng đã phụng dưỡng cha mẹ chồng chu đáo, làm tròn bổn phận người vợ, khiến nhiều người hàng xóm ngưỡng mộ.
Thời gian trôi qua, cha mẹ chồng già yếu, đôi mắt mù lòa. Người vợ càng thêm vất vả, nhọc nhằn, thường xuyên bị la rầy vô cớ. Nàng dâu vừa phải chăm sóc con cái, vừa phải lo cho cha mẹ chồng mù lòa. Công việc triền miên khiến nàng dâu sinh tâm cau có, bực dọc và oán giận cha mẹ chồng.
Dưới áp lực công việc gia đình, nàng dâu ngày nào cũng cằn nhằn chồng về sự khó khăn, phiền phức của cha mẹ già. Chàng trai lâm vào thế khó xử, gánh nặng cơm áo gạo tiền đè nặng lên vai. Người vợ than thân trách phận, cho rằng mình bạc phước khi phải chịu đựng cảnh khổ sở: cha mẹ làm đổ cơm, ăn uống, tắm rửa khó khăn, lại còn hay cằn nhằn, la mắng. Nàng vợ luôn tạo ra tình huống éo le, buộc chồng phải lựa chọn: hoặc là cha mẹ, hoặc là vợ con.
Trong hoàn cảnh éo le, cha mẹ già mù lòa, cuộc sống gia đình ngày càng khó khăn, người chồng càng thêm lo lắng. Chàng không biết giải quyết thế nào để trọn vẹn cả hiếu lẫn tình. Chàng đắn đo, suy nghĩ mãi, bởi điệp khúc “bên hiếu bên tình, chọn bên nào?” cứ lặp đi lặp lại mỗi ngày. Chàng thương cha mẹ già mù lòa, không nỡ bỏ rơi, nghĩ đến công ơn sinh thành dưỡng dục. Tuy nhiên, người vợ lại quá khắt khe, ích kỷ, khiến chàng khó xử.
Thật vậy, trong cuộc đời này, không gì thiêng liêng và cao quý bằng công ơn cha mẹ. Trong các loại tình cảm, không tình nào sánh bằng tình mẹ cha. Vậy mà, mấy ai hiếu kính và phụng dưỡng cha mẹ khi tuổi già? Cha mẹ già yếu, bệnh tật, không còn làm được việc gì giúp ích cho con cháu, trở thành gánh nặng cho gia đình, tốn kém và nhọc nhằn. Vì lẽ đó, ngày xưa có quan niệm bỏ cha mẹ vào rừng khi tuổi già.
Có một người cha đang đóng chiếc xe để chở cha mình vào rừng. Một hôm, đứa con biết được mới nói: “Khi nào ba đưa nội đi, ba nhớ mang xe về cho con”. Người cha hỏi: “Để làm gì?”. Đứa con đáp: “Con để dành chiếc xe đó, chờ đến khi nào cha già, con sẽ lấy xe chở cha đi, giống như ông nội ngày hôm nay”. Người cha nghe con nói vậy, suy nghĩ một hồi lâu, rồi từ bỏ ý định, bắt đầu chăm sóc cha mình ân cần, chu đáo hơn để đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục.
Nuôi dưỡng cha mẹ tuổi già rất khó khăn, vì thân thể yếu đuối, đi lại khó khăn, hoặc bệnh nặng phải nằm một chỗ. Nếu gia đình nghèo khó, thiếu thốn, việc chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ càng thêm vất vả. Nhiều khi, con cái bận rộn công việc nên lơ là, cha mẹ trách móc, giận dỗi, khiến mọi chuyện càng thêm khó xử.
Một hôm, Đức Phật đặt một ít đất trên đầu ngón tay và hỏi các vị Tỳ kheo: “Đất trên đầu ngón tay ta nhiều hay đất trên quả địa cầu này nhiều?”. Các vị Tỳ kheo đồng trả lời: “Dạ, đất trên quả địa cầu nhiều ạ”. Phật dạy: “Người có hiếu với cha mẹ trên thế gian này rất ít”.
Hoàn cảnh cuộc sống xô đẩy khiến con người phải vật lộn kiếm sống, không có thời gian chăm sóc cha mẹ già và nuôi dạy con cái đúng mực. Đức Phật với lòng từ bi thương xót chúng sanh, luôn nhắc nhở và chỉ dạy chúng ta đạo lý làm người là phải hiếu kính và phụng dưỡng cha mẹ.
“Uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây” là câu ca dao, tục ngữ của dân tộc Việt Nam, nhắc nhở con cháu biết ơn và đền ơn cha mẹ. Cha mẹ là đấng sinh thành, nuôi dưỡng ta nên người. Nếu ta không biết ơn cha mẹ, làm sao ta có thể giúp đỡ và chia sẻ với người khác?
Chàng trai đó không nỡ bỏ cha mẹ, nhưng hoàn cảnh vô cùng khó xử. Ngày nào cũng diễn ra điệp khúc ai oán, người vợ trẻ khóc lóc, than vãn, khiến người chồng càng thêm đau khổ. Tình yêu vợ chồng, sắc đẹp mặn mà của người vợ trẻ, tương lai của con cái như một ma lực buộc chàng trai phải lựa chọn.
Đêm đó, người chồng không thể ngủ được vì chuyện vợ con và cha mẹ. Nước mắt lăn dài trên má. Chàng nghĩ rằng, thà chấp nhận bỏ cha mẹ để nuôi vợ, nuôi con.
Sáng hôm sau, chàng trai đến thủ thỉ với cha mẹ: “Bây giờ cha mẹ đã lớn tuổi rồi, không còn biết sống bao lâu nữa. Con xin thỉnh cha mẹ về quê thăm gia tộc nội ngoại một lần cuối, để sau này nhắm mắt lìa đời, khỏi phải ân hận tiếc nuối quê cha đất tổ”.
Cha mẹ nghe con nói có lý nên đồng ý. Ngờ đâu, đó là cái bẫy của người vợ ác tâm. Con người ta vì tham cầu quá mức mà đánh mất nhân cách, chỉ biết lợi ích cho bản thân, bất chấp sống chết của người khác. Họ sẵn sàng làm những điều tội lỗi để bảo vệ cái tôi ích kỷ. Ít ai nghĩ đến công sinh thành dưỡng dục trời biển của cha mẹ. Ít ai nghĩ mình được sinh ra từ đâu, ai nuôi mình khôn lớn, ai giúp mình có cơm no áo ấm, thành công danh sự nghiệp.
Thế là, chàng trai thuê một chiếc xe ngựa, tự mình cầm dây cương chở cha mẹ vào rừng sâu. Đến chỗ khuất người, chàng trai trao dây cương cho cha và nói: “Dạ thưa cha mẹ, đoạn đường này có nhiều bọn cướp. Con phải xuống đi trước để dò la tin tức và canh chừng chúng”.
Đi được một đoạn, chàng giả làm bọn cướp đánh đập cha mẹ tàn nhẫn. Nhưng ông bà không nghĩ đến thân mình, chỉ lo cho con. Họ la lớn: “Con ơi! Hãy mau chạy lẹ đi con, kẻo bị bọn cướp đánh chết không về nuôi vợ nuôi con được. Cha mẹ đã già rồi, có chết cũng không sao”.
Thật là, đứt từng khúc ruột!Cha mẹ nuôi con như biển hồ lai láng,Con nuôi cha mẹ con tính tháng tính ngày.
Người con ngỡ rằng đây là một giấc mơ. Trong giây phút sinh ly tử biệt, cận kề cái chết, cha mẹ già vẫn luôn thương tưởng nhớ đến mình.
Công cha như núi Thái SơnNghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy raMột lòng thờ mẹ kính chaCho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Những âm vang ấy tự nhiên hiện lên rõ ràng trước mắt anh, như thức tỉnh cơn điên cuồng, ngu si, dại dột của mình.
Trong kinh Phật dạy:
Cha mẹ già khi trăm tuổi,Vẫn còn thương con tám mươi.
Thật vậy, trên cõi đời này, không gì cao quý và thiêng liêng bằng tình cha mẹ. Dù suốt cuộc đời cõng cha cõng mẹ, lo cho ăn uống đầy đủ, cung phụng sơn hào hải vị, cũng chưa trả hết công ơn trời biển của cha mẹ. Vậy mà, chàng trai đó vì tiếng gọi tình yêu, bị tiếng sét ái tình làm mê muội, nỡ lòng tàn nhẫn đến thế sao?
Tình cha mẹ thương con như biển rộng, sông dài mênh mông vô cùng tận. Trong cơn mê sảng, điên rồ, chàng trai chợt tỉnh lại. Tay chân rụng rời, nói không nên lời, nghẹn ngào quỳ xuống ôm chầm lấy cha mẹ, van xin tha tội chết, ăn năn sám hối lỗi lầm, mong cha mẹ thứ tha.
Sau đó, anh ta đưa cha mẹ về nhà, hết lòng thờ kính hiếu dưỡng và đuổi cô vợ đi. Người vợ hồn vía lên mây, quỳ lạy van xin tha thứ một lần để ở lại nuôi con và dưỡng cha mẹ. Với lòng hỷ xả, anh cũng xin cha mẹ tha thứ cho cô con dâu.
Lòng tham của con người không có giới hạn, luôn ích kỷ nhỏ nhen. Họ nghĩ cha mẹ già là gánh nặng, tốn kém và chẳng mang lại lợi ích gì. Ít ai nghĩ mình từ đâu mà có. Nếu không có cha mẹ nuôi nấng, bảo bọc, làm sao ta sống đến giờ này, có nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con ngoan? Thế mới biết:
Vì tình chăn gối đậm đàQuên đi ân nghĩa mẹ cha thuở nào.Chỉ vì không biết tu trìNên đành bất hiếu cũng vì ái ân.
Tình cảm vợ chồng nồng nàn, ấm áp đôi khi lấn át tình cảm cha mẹ. Trên đời này, không gì yêu thương tha thiết bằng ái tình. Con người sẵn sàng từ bỏ tất cả để đi theo tiếng gọi tình yêu, làm những điều tàn ác, dã man nhất để bảo vệ tình yêu, những điều mà người bình thường không dám làm, như trường hợp trong câu chuyện trên.
Đành đoạn, nhẫn tâm, mất hết tính người chỉ vì trái tim mách bảo. Đau lòng, chua xót, ngậm ngùi, đắng cay. May mắn thay, chàng trai ấy còn chút lương tâm, ăn năn sám hối kịp thời. Nếu không thì:
Tội này chồng chất cao thành núi,Biết đến chừng nào mới trả xong.Công cha nghĩa mẹ sinh thànhTrời cao biển rộng cũng không sánh bằng.
Mặc dù đã ăn năn hối hận, tận tâm hiếu dưỡng, nhưng cha mẹ già sức yếu lại bị đánh đập, nên một thời gian ngắn sau đó, hai ông bà đã qua đời. Chàng trai đó vì ác nghiệp quá nặng nề, nên nhiều kiếp về sau bị đọa đày chịu khổ trong địa ngục.
Từ nhân duyên này, chàng trai phát nguyện lớn, đời đời kiếp kiếp luôn hiếu dưỡng cha mẹ. Thời Phật tại thế, chàng trai đó chính là Tôn giả Mục Kiền Liên, xuất gia tu theo Phật và chứng quả A La Hán, thần thông đệ nhất. Vì thương mẹ hiện tiền không biết quý kính Tam bảo, làm nhiều điều ác, keo kiệt, ích kỷ, nên sau khi chết, không biết sẽ thác sanh về đâu. Ngài dùng thần thông đi tìm mẹ, mới biết mẹ mình bị đọa lạc trong loài ngạ quỷ (quỷ đói), chịu khổ sở vô cùng.
Thương mẹ đói khát khổ sở, thân thể tiều tụy, Ngài trở về trần gian xin bát cơm, dùng thần lực dâng cho mẹ. Bà ta đói khát nhiều ngày nên khi thấy cơm, một tay che bát cơm vì sợ các quỷ đói khác thấy xin, một tay vội vàng bốc ăn. Nhưng trớ trêu thay, cơm hóa thành lửa, bà ta không ăn được, đau khổ vô cùng.
Tôn giả Mục Kiền Liên thấy mẹ như vậy, động lòng thương xót. Ngài vận dụng thần thông để giúp mẹ được no đủ, nhưng vô hiệu quả vì nghiệp ác của bà quá nặng. Ngài bèn trở về nhờ Đức Phật cứu độ.
Phật dạy: Mẹ ông khi còn sống tham lam, bỏn sẻn, tâm địa độc ác, nên sau khi chết bị đọa làm quỷ đói. Một mình ông không đủ sức cứu mẹ mà phải nhờ công đức tu hành thanh tịnh của chư Thánh Tăng trong mùa an cư kiết hạ mới cứu được mẹ.
Tôn giả Mục Kiền Liên làm theo lời Phật dạy, thực hiện lễ cúng dường Trai Tăng. Nhờ vậy, mẹ Ngài thoát khỏi kiếp quỷ đói và sanh về cảnh giới an lành. Tuy nhiên, do ác nghiệp quá khứ còn sót lại, vào cuối đời, Ngài bị một số người ác tâm dùng gậy đánh chết.
Một số Tỳ kheo thắc mắc, tại sao Ngài không dùng thần thông để thoát chết? Phật dạy: Thần thông không chuyển được nghiệp lực.
Bình thường, Tôn giả Mục Kiền Liên dùng thần thông biến hóa vô song, đi lại trong các cõi trời, cõi người như trở bàn tay. Đến khi nghiệp đến, Ngài không dùng thần thông được nữa, đành chịu chết để trả ác nghiệp còn sót lại.
Như chúng ta đã biết, thần thông chỉ là diệu dụng khi còn sống. Chúng ta có thể dùng thần thông để dời núi, lấp biển, cầu mưa gió. Nhưng khi nghiệp báo đến, thần thông cũng bất lực trước quả xấu ác của chính mình. Nếu thần thông mạnh hơn nghiệp báo, thế giới này sẽ không còn ai sống sót. Con người sẽ đua nhau luyện thần thông để làm bá chủ thiên hạ.
Vậy thần thông để làm gì? Bởi vì trong quá khứ, nhiều đời, Ngài Mục Kiền Liên từng làm nghề đánh bắt cá, tàn hại sinh linh. Có một kiếp, Ngài bất hiếu, tàn nhẫn với cha mẹ vì vợ con. Cho nên, dù kiếp hiện tại tu hành chứng quả, Ngài vẫn phải trả ác nghiệp còn sót lại.
Câu chuyện trên là một bài học về nhân quả công bằng, không thiên vị ai. Siêng năng tinh tấn tu hành sẽ chứng quả giải thoát. Gieo tạo ác nghiệp sẽ đến hồi đủ duyên phải trả quả xấu. Tuy nhiên, người tu trả quả khác với người đời. Khi quả xấu đến, họ vẫn an nhiên tự tại, không oán hận thù hằn người hại. Ngược lại, họ luôn mở rộng lòng từ, bi, hỷ, xả, sẵn sàng bao dung, tha thứ và độ lượng. Do đó, nhân quả xấu kể từ đây chấm dứt, không còn tác động chi phối.
Còn chúng ta, khi gặp quả xấu, lại oán giận, thù hằn, đổ thừa cho số phận, mà không biết rằng tất cả đều do mình tạo ra. Điều này có khi còn làm cho nhân quả xấu trở nên lớn mạnh thêm. Người Phật tử thời nay vẫn thích thần thông hơn. Nghe ở đâu có linh ứng liền tranh nhau đến đảnh lễ cầu xin đủ thứ. Vì thói quen tò mò, ưa chuộng điều màu nhiệm, huyền bí và thích cầu khẩn van xin hơn là tu tập, nên dễ bị người gạt gẫm, dụ dỗ, cuối cùng rơi vào mê tín dị đoan, không làm chủ được bản thân và làm những điều tà vạy.
Câu chuyện của Tôn giả Mục Kiền Liên là một bài học quý giá cho cuộc đời, giúp chúng ta có nhận thức sáng suốt hơn về công cha nghĩa mẹ. Ai lớn lên cũng cần lập gia đình, xây dựng hạnh phúc và đóng góp cho xã hội. Nhưng nếu không có cha mẹ, làm sao ta có thân này? Theo quy luật nhân quả tương duyên, thờ kính hiếu dưỡng cha mẹ là lẽ đương nhiên, thể hiện tinh thần biết ơn và đền ơn.
Khi ta biết hiếu thảo với cha mẹ, biết đền ơn đáp nghĩa, thì con cháu ta sau này cũng sẽ biết hiếu thảo. Điều này sẽ trở thành truyền thống tốt đẹp, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, nhắc nhở mọi người ai cũng phải biết đó là đạo lý chân chính trong cuộc đời làm người.
Thích Đạt Ma Phổ Giác
Để hiểu sâu hơn về nguồn cội và ý nghĩa của luân hồi sinh tử trong Đạo phật, mời quý độc giả cùng khám phá thêm những nội dung liên quan trong chuyên mục.