Tổ chức Hệ phái Khất sĩ: Cấu trúc và Hoạt động

atr avatar 3872 1763355057
0
(0)

Được khai sinh vào giữa thế kỷ 20, Hệ phái Khất sĩ đã kiến tạo nên một con đường tu tập độc đáo, vượt qua những khuôn khổ truyền thống. Hành trình phát triển của hệ phái trải qua nhiều thăng trầm, được đánh dấu bởi những cột mốc quan trọng và sự định hình cấu trúc qua ba giai đoạn lịch sử then chốt. Khám phá cấu trúc tổ chức và những hoạt động cốt lõi của hệ phái tại chiasedaophat.com.

Hệ phái Khất sĩ, được thành lập vào năm 1944 tại miền Nam Việt Nam, là kết quả của sự sáng lập bởi Tổ sư Minh Đăng Quang. Với tôn chỉ “Nối truyền Thích Ca chánh pháp”, hệ phái chú trọng vào việc tu tập và giải thoát, vượt qua sự phân chia giữa Phật giáo Nam tông và Bắc tông. Ngay từ khi ra đời, hệ phái đã thu hút sự quan tâm, học hỏi của nhiều người, dần dần phát triển và vững mạnh.

Năm 1981, Hệ phái Khất sĩ chính thức gia nhập vào ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Bài viết này sẽ tập trung phân tích sâu hơn về hệ thống tổ chức đặc thù của hệ phái qua ba giai đoạn lịch sử.

Hệ thống tổ chức của Hệ phái Khất sĩ có thể được chia thành ba giai đoạn chính:

  • Giai đoạn đầu (1944 – 1954): Từ khi thành lập đến khi Tổ sư viên tịch.
  • Giai đoạn thứ hai (1954 – 1981): Từ sau khi Tổ sư viên tịch đến trước khi gia nhập Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
  • Giai đoạn thứ ba (1981 – Nay): Từ khi gia nhập Giáo hội Phật giáo Việt Nam đến nay.

1. Giai đoạn đầu (1944 – 1954): Thời kỳ khai sáng của Tổ sư Minh Đăng Quang

Sau khi đạt được giác ngộ về Tứ diệu đế và Vô thường, Khổ, Vô ngã, với pháp lý “Thuyền Bát Nhã”, Đức Tổ sư Minh Đăng Quang bắt đầu truyền đạo vào năm 1944.

Năm 1947, hai đệ tử đầu tiên là Từ Huệ và một học trò nhỏ tên Giác Chơn đã được ngài thu nhận. Chùa Linh Biểu, nay thuộc ấp 1, xã Tân Hòa Thành, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, là nơi khai mở đạo tràng đầu tiên.

Hoạt động cốt lõi của hệ phái là khất thực và hóa duyên, đòi hỏi những người hành đạo phải sống đời sống du tăng, không ràng buộc gia đình, không nơi cư trú cố định và không giữ tiền bạc. Theo quy định của Tổ sư, tổ chức giáo đoàn hình thành dựa trên số lượng các vị du tăng, với cấp bậc như sau:

  • Một tiểu giáo hội: 20 vị
  • Một trung giáo hội: 100 vị
  • Một đại giáo hội: 500 vị

Ban đầu, đoàn du tăng khất sĩ thành lập một tiểu giáo hội, với Đức Tổ sư vừa là bổn sư vừa là Sư trưởng. Trong quá trình hành đạo khắp nơi, giáo đoàn vừa truyền bá Phật pháp, vừa xây dựng các cơ sở thờ tự. Chỉ trong vòng gần 10 năm, dưới sự dẫn dắt của Tổ sư, đoàn du tăng đã hình thành được 27 ngôi tịnh xá.

Trước khi viên tịch, Tổ sư Minh Đăng Quang đã giao phó trọng trách chưởng quản giáo hội cho Thượng tọa Giác Chánh, một đệ tử tâm đắc của ngài.

2. Giai đoạn từ 1954 đến 1981: Giai đoạn phát triển và định hình tổ chức

2.1. Thời kỳ từ 1954 đến 1975

Với cương vị chưởng quản giáo hội, Thượng tọa Giác Chánh tiếp tục dẫn dắt đoàn du tăng hành đạo. Theo tài liệu của TT. Thích Giác Duyên, trong chuyến ra miền Trung lần đầu vào năm 1956, một số đệ tử lớn của Tổ sư đã ở lại đây để phát triển đạo pháp, thành lập hai giáo đoàn: Giáo đoàn 2 do Trưởng lão Giác Tánh, Giác Tịnh dẫn dắt, và giáo đoàn của Trưởng lão Giác An. Tiếp nối, vào năm 1959, Thượng tọa Pháp sư Giác Nhiên thành lập giáo đoàn, năm 1960 là giáo đoàn của Trưởng lão Giác Lý, và năm 1962 Thượng tọa Giác Huệ lập giáo đoàn mới. Bên cạnh đó, Ni giới cũng hình thành các đoàn hành đạo dưới sự dẫn dắt của Ni trưởng Huỳnh Liên, Ni trưởng Ngân Liên, Ni trưởng Trí Liên.

Sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập vào ngày 07/11/1981, các vị Trưởng lão lãnh đạo các giáo đoàn đã ổn định tổ chức và đổi tên thành Giáo đoàn I, II, III, IV, V, VI.

Mỗi giáo đoàn đều có một Trưởng lão đứng đầu, phụ trách hoằng pháp tại một số tỉnh nhất định. Hoạt động hành đạo ban đầu mang tính du hóa, bao gồm hai thành phần: Hành xứ (du phương hóa nguyện) và Trụ xứ (trụ trì tại các tịnh xá để điều hành Phật sự). Trước sự trưởng thành của Hệ phái, các vị Trưởng lão nhận thấy sự cần thiết phải thiết lập một tổ chức giáo hội chính thức. Vì vậy, vào năm 1964, ba vị Thượng tọa là Giác Nhiên, Giác Tường, Giác Nhu đã đứng ra xin phép thành lập Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam. Sau một thời gian vận động, ngày 22/4/1966, Bộ Nội vụ, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã chấp thuận cho thành lập Giáo hội với Bản Điều lệ gồm 32 điều, theo nghị định số 405/BNV/KS.

Bản Điều lệ này, được soạn thảo tại Gia Định ngày 18/12/1960, quy định rõ về Danh hiệu, Hội sở và Mục đích của Giáo hội. Tuy nhiên, do Đạo dụ số 10 ngày 06/08/1950 dưới thời vua Bảo Đại vẫn còn hiệu lực, chỉ có Giáo hội Công giáo được công nhận là “Giáo hội”, các tôn giáo khác chỉ được xem xét công nhận là “Hiệp hội”. Do đó, Hệ phái chỉ được công nhận là Hiệp hội.

Khám phá: Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Vẻ đẹp dịu dàng “Bướm bay vườn cải hoa vàng”

Điều thứ hai của Bản Điều lệ quy định Giáo hội hoạt động vô thời hạn và trong phạm vi toàn quốc, với Hội sở đặt tại Tịnh xá Trung tâm 98, đường Nguyễn Trung Trực, Gia Định. Điều thứ ba nêu rõ Giáo hội kết nạp tu sĩ xuất gia không phân biệt chủng tộc, cư trú tại Việt Nam, nhằm mục đích “Tự giác, giác tha theo giáo lý của Đức Phật Thích Ca”, thông qua phương pháp trì bình khất thực và hỗ trợ cư sĩ trên đường tu học.

Phần “Thành phần của Giáo hội” gồm một điều, quy định Giáo hội bao gồm Tứ chúng, không phân biệt quốc tịch, hạng số, được chia thành bốn hạng. Mỗi hội viên được cấp thẻ do Ban Trị sự lập ra để tham dự Đại hội.

Phần “Nhập hội – xuất hội và khai trừ” gồm 11 điều, trong đó từ Điều 10 đến Điều 17 quy định về Ban Trị sự, quyền hạn, chức năng và một số chức vị trong Ban.

  • Điều thứ mười: Ban Trị sự chịu trách nhiệm quản trị Giáo hội, bao gồm:
    • A) Một Tri sự Trưởng
    • B) Hai Tri sự Phó
    • C) Một Thư ký
    • D) Một Kiểm soát viên
    • E) Một hoặc nhiều Cố vấn
  • Điều thứ mười một: Nhân viên Ban Trị sự được tuyển chọn từ Tỳ kheo tăng và Tập sự Tỳ kheo, đủ 21 tuổi. Họ được Đại hội bầu cử với nhiệm kỳ ba năm, có thể tái cử. Trong trường hợp đồng phiếu, người lớn tuổi đạo hơn sẽ đắc cử.
  • Điều thứ mười ba: Trong giai đoạn sáng lập, Ban khởi xướng tạm thời cai quản Giáo hội. Sau khi Điều lệ được chấp thuận, Ban sáng lập sẽ triệu tập Đại hội để cử Ban Trị sự chính thức vào Lễ Tự tứ đương niên.
  • Điều thứ mười bốn: Tri sự Trưởng có nhiệm vụ chăm lo việc tu hành, thi hành Điều lệ, triệu tập các cuộc họp của Ban Tri sự và Đại hội. Trong các cuộc bỏ phiếu chưa phân định, phiếu của Tri sự Trưởng có giá trị quyết định. Tri sự Trưởng đại diện Giáo hội trong các mối quan hệ với cơ quan chức năng và tư nhân. Tri sự Phó hỗ trợ Tri sự Trưởng và thay thế khi vắng mặt.
  • Điều thứ mười lăm: Thư ký chịu trách nhiệm lập biên bản, soạn thảo thông tư, giấy mời, lưu trữ tài liệu và danh bộ Giáo hội.
  • Điều thứ mười sáu: Kiểm soát viên, dưới quyền Tri sự Trưởng, đảm nhiệm việc giữ gìn trật tự, tổ chức các phiên họp Đại hội, giám sát bầu cử và kiểm soát tài chính của Giáo hội.
  • Điều thứ mười bảy: Cố vấn đưa ra ý kiến đóng góp xây dựng, chỉnh đốn nội bộ để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.

Về hệ thống tổ chức, Bản Điều lệ còn quy định thành lập chi hội ở tỉnh, quận, làng (Điều 26). Cơ sở cuối cùng của Hệ phái là Tịnh xá, Am Cốc (Điều 21). Các cấp Trung ương đến chi hội đều có Phân ban Hoằng pháp, chịu trách nhiệm đọc kinh, tụng kệ, thuyết pháp để truyền bá Phật giáo (Điều 27). Ban Hoằng pháp còn có nhiệm vụ mở trường dạy học, các khóa huấn luyện Phật pháp (Điều 28). Ngoài ra, còn có Ban Kiểm duyệt báo chí, kinh kệ, thi văn.

Sau khi được Bộ Nội vụ công nhận Bản Điều lệ, từ ngày 04-06/05/1966, Hệ phái Khất sĩ đã tiến hành Đại hội lần thứ nhất bầu Ban Trị sự mới, gồm:

  • Tri sự Trưởng: Thích Giác Nhiên
  • Tri sự Phó: Giác Tường
  • Tri sự Phó: Giác Phúc
  • Tổng Thư ký: Giác Nhu
  • Phó Thư ký: Giác Hườn
  • Kiểm soát: Giác Thọ
  • Cố vấn: Giác Hiền

Theo TT. Thích Giác Duyên, Đại hội này mang tính chất giải quyết vấn đề pháp lý về giấy phép thành lập Hội. Phải đợi đến nhiệm kỳ II (1970-1973) mới thực sự là Đại hội toàn quốc. Trong nhiệm kỳ này, nhiều vị Trưởng đoàn lần lượt viên tịch. Trước tình hình đó, Đại hội III (khoáng đại) được triệu tập ngày 04/09/1973. Lần đầu tiên sau hơn 15 năm, 5 giáo đoàn đã họp mặt đông đủ. Đại hội đề xuất cải tổ thành phần lãnh đạo Trung ương thành 2 Viện:

  • Viện Chỉ đạo: Gồm 1 Tăng chủ, 2 Phó Tăng chủ, 1 Chánh Thư ký. Các vị này thuộc hàng Trưởng lão Đạo sư chứng minh tối cao.
  • Viện Hành đạo: Gồm 1 Viện trưởng, 2 Phó Viện trưởng, 1 Tổng Thư ký, 1 Phó Tổng Thư ký và các Tổng vụ như Tăng sự, Hoằng pháp, Cư sĩ, Xã hội. Cùng một Hội đồng Cố vấn Trung ương gồm các Trưởng lão, Thượng tọa cao hạ. Viện Hành đạo chịu trách nhiệm về đường lối hành đạo của Giáo hội, nhiệm kỳ 5 năm (1973-1978).

Đại hội cũng cử Ban Tu chỉnh Điều lệ, cho ra đời bản Điều lệ mới gồm 26 điều, thay thế bản 32 điều. Tuy nhiên, do bản Điều lệ 32 điều vẫn còn hiệu lực về mặt pháp lý, nên các vấn đề cải tổ giáo hội theo tinh thần Hội nghị khoáng đại chưa được chấp nhận. Ban Trị sự cũ tiếp tục lưu nhiệm cho đến ngày 30/04/1975.

2.2. Thời kỳ từ 1975 – 1981

Sau ngày đất nước thống nhất vào mùa xuân năm 1975, Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam bước vào một giai đoạn mới với nhiều thay đổi.

Về tổ chức: Một Đại hội khoáng đại (bất thường) được tổ chức vào ngày 17/06/1975 với sự tham gia của đại biểu 5 giáo đoàn. Hội nghị đã kiểm điểm tình hình Phật sự, kiện toàn Ban Trị sự Trung ương và tu chỉnh điều lệ kỳ II gồm 6 chương, 27 điều. Đây là đại hội duy nhất và cuối cùng của Giáo hội. Sau đại hội, các vị Trưởng lão, Thượng tọa trở về trụ xứ tại các tịnh xá. Mọi sinh hoạt của giáo hội tạm lắng xuống, các chư tăng cùng nhau sinh hoạt, lao động sản xuất và thực hành tôn giáo tại tịnh xá. TT. Thích Giác Duyên gọi đây là thời kỳ “Dĩ hòa vi quý; Dĩ nông vi thiền; Dĩ tâm vi Phật”.

Xem thêm: Thấu hiểu để An Yên: Chấm dứt phán xét, mở lối hạnh phúc đích thực

Về Giáo hội Khất sĩ Ni giới

Ngay từ thời Tổ sư Minh Đăng Quang còn tại thế, trong hàng ngũ xuất gia đã có cả Tăng và Ni. Tác giả Thích Giác Duyên ghi nhận có tới 53 vị Ni xuất gia làm đệ tử của Tổ sư, với pháp danh kết thúc bằng “Liên” như Huỳnh Liên, Bạch Liên, Thanh Liên, Kim Liên. Ban đầu, Ni giới Khất sĩ do Tổ sư chỉ đạo. Sau khi ngài vắng bóng, Ni trưởng Huỳnh Liên đã lãnh đạo Ni giới tiếp tục hành đạo.

Nhận thấy sự cần thiết phải thành lập giáo hội riêng để thuận tiện cho hoạt động du hóa, Ni giới đã thành lập một ban vận động với Bản Điều lệ gồm 30 điều, được Bộ Nội vụ, chính quyền Sài Gòn duyệt y theo nghị định số 7/BNV/NA/P5. Trên cơ sở đó, ngày 11/01/1958, Ni trưởng Huỳnh Liên đã thành lập Giáo hội Ni giới Khất sĩ Việt Nam. Đây là một giáo hội độc lập về tổ chức và phát triển, có pháp nhân, pháp lý, với trụ sở đặt tại Tịnh xá Ngọc Phương (nay là số 491/1 đường Lê Quang Định, phường 1, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh).

Bản Điều lệ, phần Danh hiệu – Hội sở – Mục đích, Điều thứ nhất quy định: “Giữa những người nữ tu xuất gia thuộc Phật giáo công nhận Bản Điều lệ này, có thành lập một Hiệp hội tên là: Giáo hội Khất sĩ Ni giới Việt Nam, đặt dưới chế độ Dụ số 10, ngày 06/08/1950.” Tương tự như Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam, Giáo hội Khất sĩ Ni giới Việt Nam cũng chỉ được xem là “Hiệp hội” theo Đạo Dụ số 10.

Về Thành phần giáo hội, Điều thứ sáu quy định: “Giáo hội gồm có hội viên là Ni cô, bất luận quốc tịch, bất luận hạn số, phân ra bốn hạng: Tỳ kheo ni, tập sự Tỳ kheo ni, sadini và tập sự sadini.”

Hệ thống tổ chức lãnh đạo cấp Trung ương của Ni giới tương tự như Tăng giới. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Tri sự Trưởng, Tri sự Phó, Thư ký, Kiểm soát viên, Cố vấn của Ni giới cũng giống như quy định trong Điều lệ của Tăng giới. Về tổ chức địa phương, ở tỉnh lập chi hội. Các chi hội tuân theo Điều lệ của Giáo hội Ni giới nhưng có quyền tự trị về các công việc địa phương (Điều 25). Mỗi chi hội tỉnh có một Ban Trị sự Trung ương (Điều 26).

Ban Trị sự sáng lập gồm:

  • Tri sự Trưởng: Bạch Liên
  • Tri sự Phó: Thanh Liên
  • Thư ký: Thành Liên
  • Kiểm soát viên: Chơn Liên
  • Cố vấn: Tạng Liên.

Trên thực tế, trong một số giáo đoàn Tăng có phân đoàn Ni giới, ví dụ như hai phân đoàn Ni giới trực thuộc Tăng đoàn IV và một phân đoàn Ni thuộc Tăng đoàn III.

3. Giai đoạn từ 1981 đến nay: Hội nhập và phát triển trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Năm 1981, Hệ phái Khất sĩ là một trong chín tổ chức Phật giáo hợp nhất thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đoàn đại biểu Khất sĩ tham dự hội nghị do Hòa thượng Thích Giác Nhu làm Trưởng đoàn, Hòa thượng Thích Giác Phúc (Phó Trưởng đoàn), Ni sư Thích Nữ Tố Liên (Thư ký đoàn) cùng các thành viên khác. Từ đây, Hệ phái Khất sĩ cùng với hai hệ phái Bắc tông và Nam tông trở thành ba hệ phái chính của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Sau khi gia nhập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hệ phái Khất sĩ có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển về tổ chức, nghi lễ và các hoạt động văn hóa – xã hội từ thiện. Về tổ chức, đến năm 1982, Hệ phái Khất sĩ có thêm một giáo đoàn do cố Hòa thượng Giác Huệ thành lập, trở thành Giáo đoàn VI. Một đoàn do cố Trưởng lão Từ Huệ lập năm 1950, hoạt động rải rác ở các tỉnh miền núi, miền Trung và Nam bộ, gia nhập Giáo đoàn IV vào tháng 7/2007.

Kể từ năm 1982, Hệ phái Khất sĩ có 6 giáo đoàn Tăng và 1 Đoàn Ni giới. Riêng 3 phân đoàn Ni giới nằm trong Giáo đoàn III và IV.

Tìm hiểu thêm: Quy y Tam Bảo: Khai Mở Chân Trí, Sống Trọn Vẹn Từ Tâm

Về Giáo đoàn Tăng, đến năm 2012, trải qua ba kỳ đại hội, mô hình tổ chức ngày càng được củng cố.

Mô hình tổ chức Trung ương của Hệ phái

  • Nhiệm kỳ một (1991 – 1996): Bao gồm Ban Chứng minh và Ban Thường trực (Trưởng ban, Phó Trưởng ban, Thư ký, Kiểm soát, các Ủy viên). Nhiệm kỳ này không có các tiểu ban.
  • Nhiệm kỳ hai (07/09/2009): Bổ sung thêm 4 tiểu ban: Tiểu ban Tăng sự, Tiểu ban Giáo dục, Tiểu ban Nghi lễ, Tiểu ban Hướng dẫn cư sĩ.
  • Nhiệm kỳ ba (02/09/2012): Ngoài 4 tiểu ban trên, có thêm Tiểu ban Hoằng pháp.

Như vậy, đến nhiệm kỳ 3, hệ thống tổ chức Trung ương của Hệ phái Khất sĩ gồm: Ban Chứng minh, Ban Thường trực và 5 tiểu ban.

Về Giáo đoàn Ni

Giáo đoàn Ni giới của Hệ phái Khất sĩ bao gồm 1 Đoàn Ni giới và 3 phân đoàn Ni giới nằm trong Giáo đoàn III và IV. Cụ thể, Giáo đoàn IV có Phân đoàn 1 và Phân đoàn 2, Giáo đoàn III có Phân đoàn III.

Về tổ chức, mỗi phân đoàn có cách gọi khác nhau:

  • Phân đoàn 3: Nhiệm kỳ I (1981-1984), Nhiệm kỳ II (1985-1989), Nhiệm kỳ III (1990-1994) gồm các chức Trưởng ban, Phó ban, Thư ký. Nhiệm kỳ IV có sự thay đổi về hệ thống tổ chức, bao gồm: Ban Quản sự, Ban Thư ký, Ban Giáo luật, Ban Hoằng pháp, Ban Thủ quỹ, Hội đồng Tỳ kheo Ni.
  • Phân đoàn 2: Từ năm 1981 đến 2003, hệ thống tổ chức gồm Trưởng Phân đoàn, Phó Phân đoàn. Từ năm 2003, bổ sung các Ban như: Ban Cố vấn, Ban Tăng sự, Kiểm soát, Từ thiện, Hội đồng Tỳ kheo Ni.

Do đặc thù, Giáo đoàn III có 2 Phân đoàn Ni giới. Mùa Vu Lan năm 1998, dưới sự cố vấn chứng minh của Hòa thượng Thích Giác Ngộ, Ban Quản chúng Ni được thành lập nhằm hợp nhất hai Phân đoàn Ni (1 và 2) thành một tập thể thống nhất, có lãnh đạo và nội quy sinh hoạt theo một hệ thống nhất định.

Tại nhiệm kỳ 1 (1998-2004), một hệ thống tổ chức ni giới thuộc Giáo đoàn IV đã ra đời, bao gồm:

  • Ban Chứng minh: Trưởng ban, Phó ban, Thư ký, Phó thư ký, Giám luật, Phó Giám luật, Thủ quỹ, Ủy viên.
  • Ngày 30/12/2003, thành lập Hội đồng Tỳ kheo Ni.
  • Tổ chức nhiệm kỳ II (2004-2007) tương tự nhiệm kỳ I.
  • Năm 2007-2009, Ban Quản chúng Ni đoàn IV lưu nhiệm.
  • Nhiệm kỳ IV (2009-2012) bổ sung Ban Tăng sự và một số đặc trách các Phân ban.

Về tổ chức Ni giới, Giáo hội Khất sĩ Ni giới được thành lập trên cơ sở nghị định số 7/BNV/NA/P5 và hệ thống này về cơ bản vẫn được duy trì cho đến nay. Ngoài việc thực hiện các điều luật trong Giới bổn và 114 Điều răn của Tổ sư Minh Đăng Quang, ngày 05/03/1992, dưới thời kỳ lãnh đạo của Ni trưởng Bạch Liên, Nội quy Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam đã được áp dụng. Bản Nội quy gồm 18 điều, nhằm mục đích “làm cho Ni giới Khất sĩ Việt Nam ngày càng xứng đáng là một tập thể IV: Giới đức, trang nghiêm tu học, song hành, giữ vững giềng mối xưa, làm rạng danh Thày Tổ”.

Đến thời điểm năm 2010, Giáo hội Ni giới của Hệ phái Khất sĩ đã trải qua 4 đời Ni trưởng.

Tính đến năm 2010, Ni giới Hệ phái Khất sĩ thuộc Tổ đình Ngọc Phương có 148 tịnh xá, 33 tịnh thất, 21 chùa và 1034 vị ni chúng xuất gia tu học (tính từ Sadini trở lên). Hằng năm, các vị ni đều tổ chức khóa An cư Kiết hạ để tập trung học tập Kinh, Luật, Luận, thúc liễm thân tâm và trau dồi giới đức.

Trải qua 70 năm hình thành và phát triển, dù có những thăng trầm và đã gia nhập vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hệ phái Khất sĩ vẫn duy trì được những nét đặc thù về hệ thống tổ chức. Điều này thể hiện sự kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp mà Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã dày công xây dựng và các bậc Tôn đức lãnh đạo kế thừa.

PGs Ts. Nguyễn Hồng Dương – Viện Nghiên cứu Tôn giáo/ Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 3 năm 2014

Hy vọng những thông tin trên đã giúp bạn hiểu rõ hơn về cấu trúc và hoạt động của Hệ phái Khất sĩ, hãy cùng khám phá thêm những nội dung thú vị khác về Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang