Tòng Lâm Bắc Truyền: Danh Xưng Chư Tôn Đức Tăng

danh xung chu ton duc tang trong tong lam phat giao bac truyen 1404 1
0
(0)

Từ khởi thủy Ấn Độ, Phật giáo đã lan tỏa và biến đổi, hình thành nên những nét đặc trưng riêng biệt tại phương Đông. Hành trình này đã kiến tạo nên những danh xưng kính trọng dành cho các bậc tu hành, phản ánh sự hòa quyện giữa giáo lý từ Tây Thiên và bản sắc văn hóa bản địa. Khám phá nguồn gốc và ý nghĩa sâu xa của các danh xưng tôn kính này, giúp ta hiểu thêm về Chia sẻ Đạo Phật.

Pháp danh bắt đầu bằng họ Thích có nguồn gốc từ khi nào?

Các danh xưng tôn kính dành cho chư tôn đức Tăng trong Phật giáo Bắc Truyền, giống như nhiều yếu tố khác của Phật giáo, đều có nguồn gốc từ Ấn Độ và đã được phát triển, thăng hoa tại các quốc gia phương Đông.

Phật giáo, từ cội nguồn Tây Thiên, đã lan tỏa theo dòng chảy lịch sử và văn hóa, du nhập vào phương Đông. Khi đến với phương Nam, Phật giáo không mang theo ý niệm áp đặt giáo lý, mà với tâm niệm lành, đánh thức Phật tánh sẵn có trong mỗi chúng sanh. Vì lẽ đó, Phật tánh không phân biệt cao thấp, không có chỗ cho sự tranh chấp hay mưu cầu lợi ích cá nhân, dân tộc, hay tôn giáo. Phật giáo luôn sẵn lòng lắng nghe và học hỏi những gì có lợi cho Pháp và cho chúng sanh. Phật giáo Bắc Truyền là minh chứng sống động cho sự hòa quyện thành công tuyệt vời của Đạo Phật.

Hình ảnh minh họa về danh xưng chư tôn đức Tăng trong Tòng lâm Phật giáo Bắc truyền

Ảnh minh họa.

Kể từ khi Đức Phật thuyết giảng bài pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển, độ cho năm anh em ông Kiều Trần Như xuất gia, giáo đoàn Tăng sĩ đã hình thành. Danh xưng “Tăng” ban đầu chỉ đơn thuần là tên gọi cho tu sĩ Phật giáo. Theo sách Thích Thị Yếu Lãm ghi lại: “Tiếng Phạm gọi là Tăng Già, Đông Độ xưng là Chúng, nay lược gọi là Tăng vậy”. Qua quá trình phát triển mạnh mẽ của Phật giáo, danh từ “Tăng” không chỉ giữ nguyên ý nghĩa ban đầu mà còn hàm chứa đầy đủ phẩm vị và ý nghĩa sâu sắc trong Đạo Phật, từ một danh xưng đơn giản trở thành một cụm từ phong phú và đa nghĩa.

Tương tự, tất cả các danh xưng tôn kính dành cho chư tôn túc trong Tòng Lâm Phật giáo Bắc Truyền đều có nguồn gốc từ Ấn Độ và đã được phát triển rực rỡ tại phương Đông.

Tìm hiểu thêm: Khi tâm hồn lạc lối, Đấng Tối Cao dẫn lối: 7 "phao cứu sinh" vượt qua sóng gió cuộc đời

Ý nghĩa của các danh xưng tôn kính trong Tòng Lâm Phật giáo Bắc Truyền

Danh từ “Tôn Đức” là sự kết hợp của “Tôn Giả” và “Đại Đức”, thường được dùng để chỉ chung các bậc trưởng lão, những người có đạo hạnh cao, tuổi cao đức trọng trong Phật giáo. Sách Thích Thị Yếu Lãm giải thích: “Tôn Giả. Tiếng Phạm gọi là A Lợi Di. Đông Độ xưng là Tôn Giả, là bậc đầy đủ đức hạnh và trí huệ, đáng để tôn kính vậy”. Luận Đại Trí Độ lại ghi: “Đại đức. Tiếng Phạm gọi là Bà Đàn Đà. Đông Độ xưng là Đại đức. Trong Luật Tạng nhiều chỗ xưng Phật là Đại đức”. Luật Tỳ Nại Da cũng chép: “Phật dạy: từ đây trở về sau, từ vị mới thọ Tỳ Kheo cho đến các bậc trưởng túc Tỳ Kheo đều gọi là Đại đức”. Sách Tăng Huy Ký bổ sung: “hạnh lành viên mãn, đức cao trọng vọng, tôn xưng Đại đức”.

Ngoài ra, Tòng Lâm Phật giáo Bắc Truyền còn sử dụng nhiều danh xưng riêng biệt để tôn vinh các bậc Tôn Đức Tăng Già, bao gồm:

1. Sa Môn

Kinh Trường A Hàm mô tả: “Sa Môn là người từ bỏ mọi ràng buộc ái luyến, xuất gia học đạo, chế ngự các căn, không bị dục vọng bên ngoài lôi cuốn, có lòng từ bi rộng lớn, không làm tổn hại chúng sanh, không sợ hãi trước khổ đau, không ham thích trước niềm vui, có khả năng nhẫn nhịn kiên cường như đất vậy”. Kinh Niết Bàn giải thích: “Tiếng Phạm gọi là Sa Môn, Đông Độ xưng là Thiện Giác”.

Theo Kinh Bảo Tích: “Gọi là Sa Môn vì đã điều phục được các duyên trần, đạt đến sự tịch diệt, chuyên tâm học hỏi các pháp, giữ gìn thân thể thanh tịnh, thấu hiểu nghĩa lý chân thật của vạn pháp, đạt đến sự giải thoát, lìa bỏ tám pháp thế gian, tâm kiên cố không lay chuyển như đại địa, bảo hộ cho tất cả pháp của mình và người khác, không bị nhiễm trước bởi hình tướng, giống như bàn tay vẫy trong không trung không có chướng ngại, thành tựu nhiều pháp như vậy gọi là Sa Môn”.

Luận Du Già phân loại Sa Môn thành 4 loại: 1. Thắng Đạo Sa Môn (chỉ Chư Phật); 2. Thuyết Đạo Sa Môn (chỉ những vị giảng thuyết chánh pháp); 3. Hoạt Đạo Sa Môn (chỉ những vị chuyên tu các phẩm hạnh lành); 4. Ôi Đạo Sa Môn (chỉ những vị không tu theo Bát Thánh Đạo, hành tà đạo, không phải là bậc đạo đức). Luật Ngũ Phần ghi lại: “Khi Đức Phật mới thành đạo, mọi người đều tôn xưng Ngài là Đại Sa Môn”.

2. Đạo Sư

Kinh Đại Pháp Cự Đà La Ni giải thích: “Vì có thể đối với Đạo Bồ đề không còn thối chuyển, không đoạn tuyệt Đạo Bồ đề, cho nên gọi là Đạo Sư”. Kinh Hoa Thủ viết: “Có thể vì chúng sanh mà nói pháp không còn sanh tử nữa, ấy là Đạo Sư”. Kinh Thương Chủ Thiên Tử Sở Vấn có đoạn: “Thế nào gọi là Đạo Sư? Bồ Tát Văn Thù trả lời: Ở trong Phật Đạo, thường có thể làm cho chúng sanh thành thục sự tín tâm sâu sắc vào Phật Pháp, thì gọi là Đạo Sư”.

Kinh Phật Báo Ân ghi: “Là bậc Đại Đạo Sư, lấy con đường đi đến Niết Bàn làm lộ trình chính, dẫn dắt chúng sanh đạt được sự an lạc vĩnh hằng”. Kinh Thập Trụ Đoạn Kết khẳng định: “Người được xưng là Đạo Sư, là người có thể khiến cho hết thảy muôn loài chúng sanh nhận biết được chánh đạo”.

Khám phá: Bí mật phong thủy nhà ống: Chiều dài, chiều rộng bao nhiêu mới "hốt bạc" tài lộc?

3. Tổ Sư

Sách Bảo Lâm Truyện ghi lại cuộc đối thoại: “Thái thú Kỳ Thành là Dương Huyễn Chi hỏi Đạt Ma Tổ Sư rằng: Tây Thiên truyền thừa xưng là Tổ, vậy có nghĩa như thế nào? Đạt Ma Tổ sư trả lời: Hiểu thấu Phật tâm tông, hành trì, liễu giải đều có thể tương ưng, thì gọi là Tổ Sư”. Thiền tông Tây Thiên có 32 vị Tổ, Đông độ có 6 vị Tổ, và Thiền Phái Trúc Lâm tại Việt Nam có 3 vị Tổ. Bên cạnh đó, mỗi tông phái trong Thập Tông đều có Tổ sư riêng của mình.

4. Thiền Sư

Kinh Thiện Trụ Ý Thiên Tử Sở Vấn ghi lại câu hỏi của Thiên Tử: “Những vị Tỳ Kheo như thế nào thì được xưng là Thiền Sư? Ngài Văn Thù đáp: Ở trong tất cả các Pháp, dù hành trì hay tư duy đều không còn chỗ để sanh khởi phiền não nữa. Nếu biết như vậy, người đó được xưng là Thiền Sư. Thậm chí cho đến các pháp hữu vi, pháp vô vi, pháp nào có thể giữ lấy hoặc không giữ lấy, tất cả đều không có pháp để giữ lấy, trong đời này cho đến đời sau và trong ba cõi cũng không có pháp để giữ lấy, cho đến trong tất cả các pháp đều không có một pháp để giữ lấy, vì tất cả các pháp đều là không, chúng sanh cũng như vậy, không có gì để giữ lấy. Đạt được trạng thái như vậy thì xưng là Thiền Sư”.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một ví dụ về danh xưng Thiền Sư

Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

“Không còn nhận thức về ít hay nhiều, không phải là chấp nhận, không chấp nhận, trong tất cả các pháp đều là vô sở đắc. Vì vậy mà không còn ức niệm. Nếu như không còn ức niệm thì tu hay không tu, chứng hay vô chứng đều không còn ý nghĩa. Như vậy thì xưng là Thiền Sư”.

Sách Thiền Lâm Tượng Khí Tiên phân loại bậc Thiền Sư thành hai:

  1. Những vị đầy đủ đức hạnh được Vua ban thưởng ân tứ và huy hiệu.
  2. Các vị Tăng thuộc Thiền tông xưng hô các bậc tôn túc trong tông phái là Thiền Sư.

Tại Việt Nam, có những bậc Thiền Sư kiệt xuất như Vạn Hạnh Thiền Sư, Pháp Thuận Thiền Sư, Không Lộ Thiền Sư, Hương Hải Thiền Sư, những người được triều đình và vua quan kính trọng, ban sắc phong huy hiệu.

5. Trưởng Lão

Kinh Trường A Hàm nêu ba bậc Trưởng Lão:

  1. Niên cao lạp trưởng (tuổi cao đức trọng) được xưng là Trưởng Lão.
  2. Liễu đạt pháp tánh, đầy đủ trí đức cũng được xưng là Trưởng Lão.
  3. Giả vờ làm dáng Trưởng Lão thì gọi là giả Trưởng Lão.

Sách Truyền Đăng Lục, Thiền Lâm Quy Thức viết: “Nếu như đầy đủ Đạo nhãn, tuân thủ đức hạnh đáng để tôn kính, thì được tôn xưng là Trưởng Lão. Ví dụ như ở Tây Vực, Ngài Tu Bồ Đề đạo cao lạp trưởng, được tôn xưng là Trưởng Lão”. Kinh Tăng Nhất A Hàm ghi lại lời của Ngài A Nan: “Nay chư Tỳ Kheo như thế nào để tự xưng danh hiệu? Phật bảo Ngài A Nan: Nếu như các vị Tỳ Kheo nhỏ tuổi nên tôn xưng các vị Đại Tỳ Kheo là Trưởng Lão…”. Sách Tổ Đình Sự Uyển cho biết: “Nay Thiền Tông xưng các vị trụ trì là Trưởng Lão”.

6. Tông Sư

Sách Thích Thị Yếu Lãm định nghĩa: “Là vị thầy truyền trao Phật Tâm Tông. Tông là tôn kính vậy. Tông sư là người thông suốt pháp không, chỉ rõ thật pháp vốn không, cho nên được chúng sanh tôn kính vậy”.

7. Pháp Chủ

Kinh Trường A Hàm ghi nhận: “Phật là thuyết Pháp Chủ, xưa nay đều xưng các vị Tăng thiện nghệ thuyết pháp, liễu nghĩa tất cả các pháp là Pháp Chủ”. Pháp Chủ cũng là danh xưng dành cho các bậc cao Tăng được triều đình tôn kính. Sách Thích Thị Yếu Lãm dẫn chứng: “Vua Tống Hiếu Vũ sắc phong cho Thiền sư Đạo Hiến làm Pháp Chủ chùa Tân An và Chùa Chấn. Đương thời được tôn xưng là Vạn Nhân Pháp Chủ”. Hiện nay, ngôi vị Pháp Chủ là phẩm vị cao nhất trong Tăng Đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

8. Đại Sư

Sách Thích Thị Yếu Lãm giải thích: “Đại sư là Sư phạm vậy… Đức Phật được tôn xưng là Đại Sư của Tam Giới”. Luận Du Già bổ sung: “Có thể hóa độ vô lượng chúng sanh, lìa khổ não đạt đến tịch diệt… lại có thể diệt trừ hết thảy tà uế và ngoại đạo, xuất hiện trên thế gian, cho nên được tôn hiệu là Đại Sư”. Ngoài Đức Thế Tôn, những người được tôn hiệu Đại Sư phải hội đủ 5 điều công đức:

  • Giới hạnh thanh tịnh trang nghiêm, cả đời hành trì giới luật không có gì sai sót.
  • Giỏi về kiến lập pháp tràng để hoằng pháp độ sanh.
  • Giỏi về giáo dục, có học vấn uyên thâm.
  • Giỏi về tùy cơ ứng pháp, giải thích mọi nghi hoặc, có thể lập pháp hoặc không cần lập pháp, không còn vướng mắc trong các pháp, có thể liễu ngộ về tính không.
  • Làm thầy dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi biển khổ.

Ý nghĩa của các danh xưng trong Phật giáo

9. Thượng Sĩ

Luận Du Già giải thích: “Người không vì lợi ích của riêng mình, mà làm chỉ vì lợi cho người khác gọi là hạ sĩ, người chỉ vì lợi cho mình không có lợi cho người khác mà làm gọi là trung sĩ, người làm lợi cho chính mình và cũng lợi cho người khác thì được gọi là thượng sĩ. Thượng sĩ phải đầy đủ lợi mình lợi người và phải có tâm lớn, nguyện lớn, như vậy cũng được xưng là Đại Sĩ”.

10. Thượng Nhân

Kinh Ma Ha Bát Nhã định nghĩa: “Thượng nhân là Bồ Tát nhất tâm hành A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, tâm không tán loạn”. Kinh Tăng Nhất A Hàm cho biết: “Làm người sống ở trên đời có sai lầm thì tự mình nên sửa chữa, người như vậy được gọi là thượng nhân”. Trong Thập Tụng Luật, có phân loại con người thành bốn loại: 1. Người thô ác; 2. Người ô trược; 3. Người bình thường; 4. Thượng nhân. Vua Bình Sa Vương đã từng xưng các đệ tử Phật là Thượng Nhân. Sách Thích Thị Yếu Lãm bổ sung: “Trong thì đầy đủ trí đức, ngoài thì tuân thủ các thắng hạnh, ở trong chúng sanh mà có phẩm hạnh cao hơn, được xưng là Thượng Nhân”.

11. Đạo Nhân

Luận Trí Độ cho rằng: “Người đắc đạo được xưng là Đạo Nhân, ngoài người xuất gia ra những người tại thế gian cũng được xưng là Đạo Nhân”.

12. Phương Trượng

Sách Thiền Lâm Tượng Khí Tiên định nghĩa: “Trụ Trì là Phương Trượng vậy”. Sách Thích Thị Yếu Lãm giải thích nguồn gốc: “Phương Trượng là chính nơi ở của một ngôi chùa, là nơi ở của trụ trì. Kiến trúc này có từ thời nhà Đường Hiển Khánh, được dựng theo tích Ngài Văn Thù đến thăm ngôi nhà nhỏ chỉ vuông vắn khoảng một trượng của ngài Duy Ma Cật khi ngài thị hiện bệnh. Do đó, nơi ở này được gọi là Phương Trượng”. Vì Trụ trì cư ngụ tại Phương Trượng, nên từ đó về sau, trong Thiền lâm thường tôn xưng Trụ trì là Phương Trượng.

13. Đường Thượng

Sách Thiền Lâm Tượng Khí Tiên cho biết: “Đường Đầu Hòa Thượng cũng xưng là Đường Thượng”. Trong Tòng Lâm, danh xưng Đường Thượng thường được dùng trong tôn hiệu, văn sớ và long vị của chư Tôn Túc Hòa Thượng hoặc chư tôn đức trụ trì các tự viện.

14. Hòa Thượng

Luật Thiện Kiến giải thích: “Hòa Thượng là tiếng Thiên Trúc, tiếng Hán dịch là biết tội, biết không tội, gọi là Hòa Thượng”. Hoa Nghiêm Âm Nghĩa của Ngài Huệ Uyển cho biết: “Danh từ Hòa Thượng theo tiếng của Ngũ Thiên Tạp gọi là Ổ Ba, Trung Hoa dịch là Cận, còn gọi là Đà Da dịch là Độc. Nghĩa là Tôn sư làm nơi nương tựa để cho đệ tử thân cận và học hỏi, cựu dịch là Thân Giáo Sư”. Luận Liễu Minh Chánh Truyện ghi: “Tiếng Phạm là Ưu Bà Đà Ha, dịch là Y học, y theo vị đó mà học giới định huệ, thì vị đó là Hòa Thượng vậy”.

Sách Phiên Thích Danh Nghĩa Tập ghi lại: “Hòa Thượng tiếng Phạm gọi là Ổ Ba Thứ Ca, truyền đến nước Vu Điền, dịch thành Hòa Thượng, truyền đến Đông Độ ngài Cưu Ma La Thập dịch là Lực Sanh”. Kinh Xá Lợi Phất Vấn ghi: “Phàm là người xuất gia, lìa bỏ cha mẹ, từ bỏ cõi luân hồi, vào cửa Phật, thọ nhận Pháp mầu nhiệm, vậy nên nương vào sức lực của thầy để sanh trưởng pháp thân, dựa vào công đức của thầy để nuôi lớn mạng lưới trí tuệ…

Xem thêm: Đinh Dậu 1957 Nam Mạng Năm 2025: Khám Phá Vận Trình An Nhiên Tuổi 69

Sự tôn kính đối với chư tôn đức Tăng

Hòa Thượng còn được gọi là Cận Tụng, vì đệ tử tuổi nhỏ không thể xa thầy, thường xuyên thân cận để học hỏi Kinh Luận…”. Sách Thiền Lâm Tượng Khí Tiên giải thích thêm: “Hòa Thượng tiếng Phạm là Ổ Ba Đà Da, đây dịch là Thân Cận Giáo Sư, vì có thể dạy dỗ chúng ta lìa khỏi nghiệp thế gian, cho nên có hai loại. 1. Thân Giáo: tức là nhận nghiệp vụ dạy dỗ cho ta; 2. Y Chỉ: tức là người để ta đi theo để học đạo vậy”.

15. Long Tượng

Kinh Trung A Hàm ghi lại lời Phật dạy cho Ngài Ô Đà Di: “Những vị Sa Môn đối với người cho đến chư thiên, không dùng thân khẩu ý để làm hại, Ta cho rằng những vị ấy là Long Tượng”. Danh xưng Long Tượng thường được dùng để tôn vinh những bậc cao Tăng thạc đức của Tòng lâm.

Phật Pháp đã truyền đến phương Đông và trải qua hai ngàn năm phát triển. Do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, nhiều danh từ Phật giáo khi được dịch sang Hán ngữ đã khiến chúng ta đôi khi nhầm lẫn, cho rằng chúng thuộc về Phật giáo Bắc Truyền. Tuy nhiên, thực tế là tất cả các danh xưng tôn kính trong Tòng Lâm Phật giáo Bắc Truyền đều có nguồn gốc từ Ấn Độ. Một số danh xưng khác do chính Đức Phật thuyết giảng, và một số khác được phát triển tại phương Đông, góp phần làm phong phú thêm nét văn hóa ứng xử, cách xưng hô và thể hiện lòng tôn kính của các thế hệ hậu học Phật giáo Bắc Truyền đối với các bậc Trưởng Thượng và Cao Tăng.

Qua những định nghĩa và giải thích trên, chúng ta đã phần nào hiểu được sự phong phú và ý nghĩa sâu sắc của các danh xưng dành cho chư tôn đức Tăng trong Tòng lâm Phật giáo Bắc Truyền. Để tiếp tục hành trình khám phá những giá trị tinh thần này, mời quý vị tìm hiểu thêm trong chuyên mục Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang