Khám phá chiều sâu tâm linh qua lời dạy về Địa Tạng Bồ Tát, vị hóa thân từ bi luôn hiện hữu nơi U Minh, soi sáng con đường giải thoát khỏi khổ đau và oán kết. Hiểu rõ mối liên kết giữa nghiệp báo và sự cứu rỗi, chúng ta có thể tìm thấy sự bình an và con đường tu tập thuận lợi hơn trên trang chiasedaophat.com.
I. Ý nghĩa Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện
Trong Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, Đức Phật đã chỉ dạy về Bồ Tát Địa Tạng với vô lượng hóa thân, dùng trí tuệ và lòng từ bi để phổ độ chúng sanh, an trụ nơi cõi U Minh. Khái niệm “U Minh pháp giới” không có nghĩa là phải đọa vào địa ngục, mà là dạy chúng ta sống khiêm hạ, làm việc thiện một cách âm thầm, không cầu danh lợi. Đó chính là thực hành tâm Bồ Đề, lợi ích cho tất cả chúng sanh trong sáu cõi. Kinh cũng nhấn mạnh mối liên hệ mật thiết giữa chúng ta và chư Phật, Bồ Tát, cũng như với tất cả chúng sanh. Sự vô minh và hành động tàn hại lẫn nhau trong cõi phàm trần có thể gieo mầm oán hận, dẫn đến tai ương, như lời Phật dạy về “đao binh kiếp” có thể hóa giải nếu con người chấm dứt việc sát sinh và ăn thịt chúng sanh. Nhiều người trong quá khứ đã vô tình gây tổn hại cho các loài vật nhỏ bé như kiến, mà không nhận ra đó là nghiệp nặng. Kinh Địa Tạng khuyến khích chúng ta sám hối, nhận lỗi lầm và hồi hướng công đức cho những oan gia trái chủ này. Chỉ khi hóa giải được những oán kết, con đường tu hành mới trở nên thuận lợi. Chúng ta cần noi gương Địa Tạng Bồ Tát, dùng tâm chân thành để giúp đỡ người khác phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui. Lấy tâm “như đại địa” để bao dung, không phân biệt thân sơ, oán thân, tốt xấu. Tâm địa vốn thanh tịnh, không phân biệt, nhưng vọng tâm lại khởi niệm phân biệt, đó là sai lầm. Nhận ra vọng tâm để biết tâm chúng sanh, và nhận ra sự vô phân biệt của đại địa để biết chân tâm. Trích dẫn Pháp Ngữ của Hòa Thượng Tịnh Không.
II. Lợi ích khi tụng kinh Địa Tạng
Tông chỉ tu hành của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện gói gọn trong bốn chữ: Hiếu đạo, Độ sanh, Bạt khổ, Báo ân. Bộ kinh này là nền tảng đạo đức cho người đệ tử Phật, nhấn mạnh bổn phận làm con phải hiếu thảo, và trách nhiệm học trò phải phụng dưỡng thầy tổ.
Theo chương 13 của kinh, Đức Phật đã chỉ ra những lợi ích to lớn cho bất kỳ ai “nghe kinh điển này và nghe danh tự của Địa Tạng Bồ tát, cùng với chiêm lễ hình tượng Địa Tạng Bồ tát.” Cụ thể, những lợi ích bao gồm:
1. Được chư Thiên, Long thần hộ trì.
2. Tăng trưởng phước báu và quả lành.
3. Tích lũy nhân duyên vô thượng để đạt Thánh quả.
4. Không còn thối thất trên con đường Bồ Đề.
5. Luôn đầy đủ vật thực và y phục.
6. Ít bị bệnh tật và tai ương.
7. An toàn trước nạn lửa, nước và trộm cướp.
8. Được mọi người kính trọng khi tiếp xúc.
9. Các hàng Quỷ Thần thường theo hộ trì.
10. Đời sau chuyển đổi giới tính nếu là nữ, hoặc được làm thân quyến của bậc Vương giả, Đại Thần nếu có duyên.
11. Sở hữu dung mạo xinh đẹp.
12. Có thể được sanh về các cõi trời.
13. Có thể được làm vua chúa.
14. Sở hữu trí tuệ sáng suốt, nhớ lại các kiếp trước.
15. Mọi mong cầu đều được toại nguyện.
16. Quyến thuộc được an vui.
17. Các tai họa bất ngờ đều được tiêu trừ.
18. Nghiệp ác ở các đường ác đều được đoạn trừ.
19. Đi đến đâu cũng thuận lợi, không bị trở ngại.
20. Giấc ngủ đêm an ổn và vui vẻ.
21. Người thân đã quá vãng nếu có tội sẽ được thoát khổ.
22. Nếu có phước báu, sẽ được sanh về cõi an vui.
23. Được chư Thánh khen ngợi.
24. Căn tánh lanh lợi, thông minh.
25. Giàu lòng từ bi, cứu giúp chúng sanh.
26. Cuối cùng thành tựu quả vị Phật.
Đặc biệt, việc tụng kinh Địa Tạng mang lại lợi ích lớn cho thai phụ và thai nhi. Người mẹ khi mang thai tụng kinh hoặc niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát mỗi ngày sẽ giúp cầu bình an cho con, hóa giải oán kết nếu thai nhi là oan gia trái chủ, hoặc vun bồi thêm nhân duyên tốt đẹp nếu là người đến báo ân.
Theo quan điểm Phật giáo, mọi mối quan hệ đều dựa trên duyên nghiệp. Việc tụng kinh Địa Tạng giúp chuyển hóa những nghiệp duyên này. Nhiều người đã trải nghiệm sự chuyển đổi vận mệnh, hóa giải nghiệp chướng kỳ diệu khi thực hành trì tụng kinh hoặc danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, giúp tiêu tai, tăng phước và khai mở trí tuệ.
Tụng kinh Địa Tạng giúp chuyển đổi nghiệp và vận mệnh vô cùng kỳ diệu
III. Cách tác bạch trước khi tụng Kinh
Bảng phát nguyện tác bạch hồi hướng này đã được kiểm nghiệm và mang lại hiệu quả tích cực, giúp các vong linh oan gia trái chủ hoan hỷ siêu thoát. Do đó, nên thực hành mỗi ngày khi chép hoặc tụng kinh.
Hôm nay ngày … tháng … năm … Đệ tử … quy y Tam Bảo, trì tụng Kinh Địa Tạng, hồi hướng công đức cầu nguyện cho bản thân, thân nhân và chúng sanh cùng thành tựu đại bi thắng phước. Cúi mong Phật lực từ bi gia hộ.
Con nguyện trong đời này và vô lượng kiếp về sau, dưới sự chứng giám của Đức Phật A Di Đà, hồi hướng mọi Phước lành và Công Đức tu tập được trong mọi khoảnh khắc và trong suốt cuộc đời cho Cửu huyền thất tổ, ông bà nội ngoại, cha mẹ nhiều đời, ân sư và tất cả người thân thuộc.
Con nguyện hồi hướng công đức tụng Kinh, trì Chú, niệm Phật cùng các công đức, phước báu này cho Pháp giới chúng sanh, cho linh hồn ông bà tổ tiên thân gia quyến thuộc từ vô thủy kiếp đến nay; cho cha mẹ, anh em, vợ (chồng), con cái của con từ vô lượng kiếp; và cho tất cả oan gia trái chủ của con từ vô thủy kiếp đến nay. Con cầu nguyện Tam Bảo gia hộ cho tất cả cùng lìa khổ được vui, đồng vãng sanh về cõi Tây phương Tịnh Độ.
Hồi hướng cho những người gặp tai nạn trên đường, các vong linh thai nhi bị bỏ rơi hoặc phá thai, hồi hướng cho các chủng tử nghiệp trên thân thể con. Nguyện cho các vị nghe được Phật pháp, phát tâm sám hối nghiệp ác đã tạo, sớm vãng sinh về cõi lành, lìa khổ được vui.
Hồi hướng cho những chiến sĩ vô danh, các vong hồn không người thân thích, và tất cả chúng sanh trong mười phương pháp giới, cùng tất cả oan gia trái chủ có duyên nghiệp với con từ vô lượng kiếp. Nguyện cho họ nghe, hiểu kinh tạng, phát tâm Bồ đề, quy y Tam Bảo, thoát khổ và vãng sanh về cõi Tây phương cực lạc, để tất cả chúng sanh thoát khỏi vòng luân hồi đau khổ.
Nguyện ơn Tam Bảo gia hộ cho con luôn giữ lòng thương yêu khắp tất cả chúng sanh, dù là thế giới hữu hình hay vô hình, từ loài người, loài vật đến chúng sanh trong địa ngục, cỏ cây. Xin cho con luôn khiêm hạ, xem mình như cỏ rác, cát bụi. Nguyện trong đời này và nhiều đời kiếp về trước, mọi việc con làm có ích, mọi công đức tu tập, phước báu mỗi ngày đều được chia sẻ đến khắp pháp giới chúng sanh.
Nguyện khi con xả bỏ báo thân này, con và tất cả chúng sinh được vãng sanh về cõi Tây phương cực lạc. Cúi mong Đức Phật A Di Đà từ bi gia hộ cho chúng sinh, thành tựu đại bi thắng phước. Ngưỡng nguyện Đại bi Quan Thế Âm cùng chư Phật, Pháp, Tăng gia hộ. Con xin phát tâm với lòng thành kính.
Xin mời tất cả oan gia trái chủ, các vong linh Chư thiên Hộ pháp cùng chắp tay theo con tụng kinh, trì chú, niệm Phật. Nguyện Đức Phật chứng giám cho lời cầu nguyện của con được thành tựu và tăng trưởng mỗi ngày. Nguyện cầu tất cả cùng vãng sanh Tây phương cực lạc. Nam Mô A Di Đà Phật.
6 lần linh ứng liên tiếp trong thời gian tụng kinh Địa Tạng Bồ tát Bổn Nguyện
IV. Nghi thức tụng Kinh Địa Tạng
1. Tụng ba lần Chú Tịnh Khẩu Nghiệp Chơn-Ngôn để thanh tịnh nơi miệng:
“Tu rị, tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị, ta bà ha”
2. Tụng ba lần Chú Tịnh Thân Nghiệp Chơn-Ngôn để thanh tịnh thân thể:
“Tu đa rị, tu đa rị, tu ma rị, ta bà ha”
3. Tụng ba lần Chú An Thổ-Địa Chơn-Ngôn để thanh tịnh nơi đất đai và nhà cửa:
“Nam mô tam mãn đa, một đà nẫm, án độ rô, độ rô, địa vĩ, ta bà ha”
4. Tịnh Pháp Giới Chơn-Ngôn
Án lam, tóa ha
5. Tịnh Tam Nghiệp Chơn-Ngôn
Án ta phạ, bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám
6. Nguyện Hương
Nguyện đem lòng thành kính,
Gởi theo đám mây hương.
Phảng phất khắp mười phương.
Cúng dường ngôi Tam Bảo,
Thề trọn đời giữ đạo,
Theo tự tánh làm lành,
Cùng pháp giới chúng sinh,
Cầu Phật từ gia hộ,
Tâm Bồ Đề kiên cố,
Xa bể khổ nguồn mê,
Chóng quay về bờ Giác. (1 lạy)
7. Lễ Tán Phật
Đấng pháp vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loài
Quy y tròn một niệm
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Xưng dương cùng tán thán
Ức kiếp không cùng tận. (xá)
8. Quán tưởng
Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười Phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.
9. Đảnh lễ Tam Bảo
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai, thập phương Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trụ Tam Bảo. ( 1 lạy )
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta bà Giáo chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. ( 1 lạy )
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. ( 1 lạy )
10. Tán lư hương
Lư hương vừa bén chiên đàn
Khói bay nghi ngút muôn vàn cõi xa
Lòng con kính ngưỡng thiết tha
Ngưỡng mong chư Phật thương mà chứng cho
Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát (3 lần)
11. Chú Đại Bi
Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát ( 3 lần )
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a lị da bà lô kiết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.
Nam mô tất kiết lật đỏa y mông, a lị da bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà.
Nam mô na ra cẩn trì, hê lị ma ha bàn đà sa mế. Tát bà a tha đậu thâu bằng a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê lô ca đế, ca ra đế, di hê lị. Ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê lị đà dựng. Câu lô câu lô kiết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xa da đế. Đà ra đà ra địa ri ni, thất phật ra da. Giá ra giá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ. Y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị. Ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô. Bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn trì địa rị sắc ni na. Ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha, Ma ha tất đà dạ ta bà ha, Tất đà du nghệ thất bàn ra da, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư da ta bà ha, ta bà ma ha a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha.
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a lị da bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ ta bà ha. Án tất điện đô mạn đa ra bạt đà dạ, ta bà ha.
12. Bài tựa về Địa Tạng Bồ Tát
U Minh Giáo Chủ Bổn Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma ha tát.
Lạy Đức Từ Bi đại Giáo chủ !
“Địa” là dày chắc – “Tạng” chứa đủ.
Cõi nước phương Nam nổi mây thơm,
Rưới hương, rưới hoa, hoa vần vũ,
Mây xinh, mưa báu số khôn lường
Lành tất, trang nghiêm cảnh dị thường,
Người, Trời bạch Phật: Nhơn gì thế ?
Phật rằng : Địa Tạng đến Thiên đường !
Chư Phật ba đời đồng khen chuộng
Mười phương Bồ Tát chung tin tưởng
Nay con sẵn có thiện nhơn duyên
Ngợi khen Địa Tạng đức vô lượng:
Lòng từ do chứa hạnh lành
Trải bao số kiếp độ sanh khỏi nàn,
Trong tay đã sẵn gậy vàng,
Dộng tan cửa ngục cứu toàn chúng sanh,
Tay cầm châu sáng tròn vìn,
Hào quang soi khắp ba nghìn Đại Thiên.
Diêm Vương trước điện chẳng hiền,
Đài cao nghiệp cảnh soi liền tội căn.
Địa Tạng Bồ Tát thượng nhơn,
Chứng minh công đức của dân Diêm phù!
Đại Bi, Đại Nguyện, Đại Thạnh, Đại Từ, Bổn Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma ha tát. (đọc câu cuối 3 lần)
13. Văn phát nguyện
Kính lạy Đức Thế Tôn
Quy mạng mười phương Phật
Nay con phát nguyện rộng
Thọ trì Kinh Địa Tạng
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu ba đường khổ
Nếu có ai thấy nghe
Đều phát tâm Bồ đề
Hết một báo thân này
Sang qua cõi Cực Lạc
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! (3 lần)
14. Kệ khai Kinh
Pháp vi diệu rất sâu vô lượng
Trăm nghìn muôn ức kiếp khó gặp
Nay con thấy nghe được thọ trì
Nguyện hiểu nghĩa chơn thật của Phật.
Nam mô U minh Giáo chủ hoằng nguyện độ sanh
Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật,
Chúng sanh độ tận, phương chứng Bồ đề
Đại Bi, Đại Nguyện, Đại Thánh, Đại Từ, Bổn Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma ha tát (3 lần)
15. Tụng nội dung Kinh
Nội dung Kinh Địa Tạng
16. Bát Nhã Tâm Kinh
Quán Tự Tại Bồ Tát, hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ ẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử ! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận, vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo, vô trí diệt vô đắc.
Dĩ vô sở đắc, cố Bồ đề tát đỏa, y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn. Tam thế chư Phật y Bát nhã Ba la mật đa, cố đắc A nậu đa la Tam miệu tam Bồ đề.
Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị Đại thần chú, thị Đại minh chú, thị Vô thượng chú, thị Vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
(Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha – đọc câu này 3 lần)
17. Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú
Nam-mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa điệt dạ tha. A di rị đô bà tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ, a di rị đa, tì ca lan đế, a di rị đa, tì ca lan đa, dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha. (3 lần).
Phật A Di Đà thân sắc vàng
Tướng tốt quang minh không ai bằng
Hào quang trắng uyển chuyển như Tu Di
Mắt Phật xanh biếc như nước bốn biển
Trong quang minh có vô số hoá Phật
Hoá Bồ Tát cũng nhiều vô biên
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sinh
Chín phẩm sen vàng lên bờ giác.
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
Nam Mô A Di Đà Phật. (108 lần)
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (3 lần)
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.(3 lần)
Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (3 lần)
18. Sám Thập Phương
Mười phương chư Phật ba đời
Di Đà bậc nhất chẳng rời quần sanh
Sen vàng chín phẩm sẵn dành
Oai linh đức cả đã dành vô biên
Nay con dâng tấm lòng thiền
Quy y với Phật sám liền tội căn
Phước lành con có chi chăng
Ít nhiều con cũng quyết rằng về Tây
Nguyện cùng với bạn tu đây
Tuỳ thời cảm ứng hiện ngay điềm lành
Biết giờ biết khắc rõ rành
Lâm chung tận mặt cảnh lành Tây phương
Thấy nghe chánh niệm chơn thường
Vãng sanh Lạc quốc đồng nương sen vàng
Hoa nở thấy Phật rõ ràng
Thoát vòng sanh tử độ an muôn loài
Phiền não vô biên thệ dứt trừ
Pháp môn tu học chẳng còn dư
Chúng sanh nguyện độ bờ kia đến
Phật đạo cùng nhau chứng trí nhứ
Hư không cõi nọ dầu cùng
Nguyện trên còn mãi chẳng cùng chẳng thiên
Không tình cùng có đồng nguyền
Trí mầu của Phật đồng viên đồng thành
19. Sám Phổ Hiền
Nay con lại nguyện tu hành,
Phổ Hiền nguyện lớn sẵn dành mười môn:
Một là nguyện lạy Thế Tôn
Hiện thân trước Phật hết lòng kính tin
Hai khen Phật đức rộng thinh
Lời hay tiếng tốt tận tình ngợi ca
Ba thời sắm đủ hương hoa
Tràng phan bảo cái dưng ra cúng dường
Bốn vì mê chấp lầm đường
Tham sân nghiệp chướng con thường sám luôn
Năm suy công đức vàn muôn
Của Phàm của Thánh con đồng vui ưa
Sáu khi Phật chứng thượng thừa
Pháp mầu con thỉnh đã vừa truyền trao.
Bảy lòng chẳng chút lảng xao
Cầu xin chư Phật chớ vào vô dư
Tám thường tu học Đại thừa
Bao giờ bằng Phật mới vừa lòng con
Chín thề chẳng dám mỏi mòn
Dắt dìu muôn loại đều tròn pháp thân
Mười đem tất cả công huân
Mọi loài cùng hưởng, khắp trần cùng vui
Mười điều nguyện lớn nguyện rồi
Nguyện về Cực Lạc nguyện ngồi tòa sen.
20. Hồi hướng
Tụng kinh công đức thù thắng hạnh
Vô biên thắng phước giai hồi hướng
Phổ nguyện pháp giới chư chúng sinh
Tốc vãng vô lượng quang Phật sát.
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ
Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.
Nguyện sinh Tây Phương Tịnh độ trung
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu
Hoa khai kiến Phật ngộ Vô sinh
Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công đức
Phổ cập ư nhất thiết
Ngã đẳng dữ chúng sinh
Giai cộng thành Phật đạo.
21. Phục nguyện
A Di Đà Phật thường lai hộ trì, linh ngã thiện căn, hiện tiền tăng tấn, bất thất tịnh nhơn, lâm mạng chung thời, thân tâm chánh niệm, thị thính phân minh, diện phụng Di Đà, giữ chư thánh chúng, thủ chấp hoa đài, tiếp dẫn ư ngã. Nhứt sát na khoảnh, sanh tại Phật tiền, cụ Bồ Tát đạo, quảng độ chúng sanh đồng thành chủng trí.
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc thế giới, Đại Từ, Đại Bi, A Di Đà Phật (1 lạy)
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc thế giới, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (1 lạy)
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc thế giới, Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát, Nhất Thiết Hiền Thánh Chúng, Chư Thượng Thiện Nhân (1 lạy)
22. Tam Tự Quy Y
Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng (1 lạy)
Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ Kinh tạng, trí tuệ như biển (1 lạy)
Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại (1 lạy)
Mong rằng những nghi thức tụng kinh Địa Tạng này sẽ giúp quý vị có thêm niềm tin và thực hành tinh tấn trên con đường tu tập để tìm hiểu sâu hơn về những lời dạy quý báu của Đức Phật trong chuyên mục Đạo phật.