Sinh ra trong một gia đình nông nghiệp nơi cửa Phật, hành trình tu tập của Hòa thượng Thích Huệ Tánh đã bắt đầu từ khi còn rất trẻ, với những bước chân đầu tiên tại chùa Quan Thánh. Sự gắn bó sâu sắc với đạo pháp đã dẫn dắt Ngài đến kinh đô Huế, nơi Ngài chính thức khoác áo tu hành và trải qua những nghi lễ quan trọng trên con đường phụng sự đạo pháp, như được chia sẻ chi tiết tại Chia sẻ Đạo Phật.
I. Thân thế
Hòa thượng Thích Huệ Tánh, húy Nguyên Đạt, thuộc dòng pháp Liễu Quán đời thứ 44, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1933 tại làng Văn Vận, xã Hải Quy, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Ngài xuất thân trong một gia đình nông nghiệp thuần hậu, kính tin Tam Bảo. Thân phụ là cụ ông Lê Đình Ích (Pháp danh Tâm Lợi), thân mẫu là cụ bà Lê Thị Tá (Pháp danh Tâm Hoàn). Hòa thượng là người con thứ ba trong số bốn anh chị em.
II. Hành trình xuất gia và học đạo
Ngay từ thuở thiếu thời, với nếp sống gia đình kính Phật, Hòa thượng đã sớm biểu lộ chí nguyện xuất gia học đạo. Năm 10 tuổi, ngài theo Thầy Nhật Lệ (Hòa thượng Thích Nhật Lệ) đến chùa Quan Thánh (Quảng Trị) để học tập và tập sự đời sống Tăng lữ. Đến năm 1945, nhân duyên hội đủ, ngài đến Kinh đô Huế, bái Hòa thượng Thượng Trí Hạ Thủ làm thầy tế độ tại Tổ đình Sắc Tứ Báo Quốc Hàm Long Thiên Thọ tự. Tại đây, ngài chính thức được ban Pháp danh Nguyên Đạt, Pháp hiệu Thích Huệ Tánh.
Năm 1949, ngài thọ giới Sa-di tại Đại giới đàn Hộ quốc, chùa Báo Quốc, Huế, với Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Đàn đầu, Hòa thượng Thích Giác Nhiên làm Giới sư. Năm 1955, Hòa thượng được Bổn sư cho đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn chùa Báo Quốc, dưới sự chứng minh của Hòa thượng Giác Nhiên (Đàn đầu) và Hòa thượng Trí Thủ (Giới sư), chính thức trở thành một vị Tăng sĩ thuộc dòng Thích tử.
Với trí tuệ thông minh và tinh thần hiếu học, ngài đã được các bậc ân sư dày công bồi dưỡng cả về nội điển lẫn ngoại điển. Năm 1956, ngài hoàn thành Bằng Sơ học yếu lược. Năm 1960, ngài theo học tại Phật học đường Báo Quốc, Huế. Đến năm 1963, ngài đỗ bằng Tú tài I.
Tiếp nối con đường học vấn, năm 1964, ngài nhận bằng Pháp văn, và năm 1965, đỗ Tú tài II. Sau đó, Hòa thượng được Bổn sư gửi vào học tại Phật học viện Trung phần Hải Đức, Nha Trang, và tốt nghiệp khóa học tại đây. Năm 1966, ngài tiếp tục theo học tại Viện Đại học Vạn Hạnh – Sài Gòn, thuộc Quảng Hương Già Lam. Năm 1968, ngài tốt nghiệp Đại học Văn khoa. Với niềm đam mê sử học, đặc biệt là các giai thoại triều đại Việt Nam, Hòa thượng luôn dành thời gian tìm tòi, nghiên cứu các chứng tích về nguồn cội văn hóa và Phật giáo Việt Nam.
III. Sự nghiệp Hoằng pháp và phụng sự
Sau khi hoàn thành chương trình Phật học và thế học, Hòa thượng đã tích cực tham gia giảng dạy tại các trường như Đạt Đức (Sài Gòn), Bồ Đề (Gò Công và Bình Dương). Năm 1969, ngài được Tổng Vụ Văn hóa Giáo dục thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất cử làm Hiệu trưởng Trường Trung Tiểu học Tư thục Bồ Đề Cam Ranh. Năm 1971, ngài được bổ nhiệm làm Giám học Trường Tư thục Bồ Đề Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, và giữ chức vụ này cho đến năm 1975. Sau khi bàn giao trường học cho Nhà nước, Hòa thượng đã cẩn trọng thu xếp và lưu giữ hồ sơ, tài liệu của hàng ngàn học sinh.
Trong giai đoạn đất nước mới thống nhất, đối mặt với những khó khăn về kinh tế, Hòa thượng cùng một số quý thầy và giáo sư Trường Bồ Đề đã đến vùng Sở Đá – Mương Mán để vừa tu tập, vừa canh tác, tự túc đời sống. Bằng cách vận dụng linh hoạt giáo lý và phương tiện, ngài vẫn tiếp tục sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh theo những phương thức phù hợp với bối cảnh thời đại.
Ngày 15 tháng 3 năm 1973, theo lời thỉnh cầu của Hội Hướng đạo Bình Thuận, với đạo hạnh cao sâu, Hòa thượng đã nhận lời làm cố vấn giáo lý cho Hướng đạo sinh Phật giáo – Thiếu đoàn Trần Quốc Tuấn, với vai trò giảng sư, dìu dắt các bạn trẻ.
Vào ngày 14 tháng 4 năm 1974, Hòa thượng đảm nhiệm chức vụ Đặc ủy Văn hóa kiêm Đặc ủy Giáo dục của Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Bình Thuận.
Ngày 18 tháng 4 năm 1975, một ngày trước khi Phan Thiết được giải phóng, nhận được thông tư đặc biệt và thể hiện tinh thần vô úy của đạo Phật, ngài đã sát cánh cùng đồng bào trong cơn chiến nạn. Dưới sự đồng thuận của Tỉnh trưởng Bình Thuận, Hòa thượng đã di chuyển qua vùng chiến sự để giúp đỡ, hướng dẫn đồng bào ra khỏi vùng giao tranh, đồng thời động viên, an ủi các gia đình có thân nhân bị thương vong.
Ngày 10 tháng 11 năm 1975, Hòa thượng được Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Bình Thuận bổ nhiệm làm trụ trì chùa Tỉnh Hội, với ấn ký của Trưởng lão Hòa thượng Tường Vân.
Ngày 2 tháng 11 năm 1976, Hòa thượng giữ chức vụ Đặc ủy Thanh niên thuộc Ban Đại diện hợp nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Thuận Hải, theo Quyết định của Hòa thượng Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa đạo.
Năm 1979, Hòa thượng về trụ trì chùa Thiền Lâm, Đức Long, Phan Thiết, sau đó giao lại cho đệ tử là Thích Thiện Pháp.
Sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập vào năm 1982, Hòa thượng là một trong những thành viên chủ chốt trong việc vận động thành lập Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Thuận Hải. Ngài được đề cử đảm trách chức vụ Trưởng ban Hoằng pháp từ nhiệm kỳ I (1981) đến nhiệm kỳ VI (2012).
Năm 1987, Hòa thượng được Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thuận Hải bổ nhiệm trụ trì chùa Phật Quang, một ngôi cổ tự được xây dựng vào niên hiệu Chính Hòa (1680-1705). Cũng trong năm này, ngài phát tâm trùng tu ngôi Tam bảo và đã phát hiện nơi lưu giữ một bộ kinh Pháp hoa bằng gỗ vô cùng quý giá, cùng với các tài liệu cách mạng quan trọng được giấu trong tượng Phật.
Năm 1990, Hòa thượng được cung thỉnh làm Tôn chứng Tăng già tại Đại giới đàn Hữu Đức do Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Thuận Hải tổ chức. Ngài phát nguyện xây dựng tường thành, cổng tam quan chùa Phật Quang, kiến thiết vườn chùa, trồng hoa sứ thái, dựng vườn Phật tích, tạo cảnh quan trang nghiêm cho ngôi chùa.
Từ năm 1991 đến năm 2005, Hòa thượng được mời tham gia Ban Chức sự hạ trường tại Tòng Lâm Vạn Thiện.
Năm 1992, khi Trường Cơ bản Phật học (nay là Trường Trung cấp Phật học) Bình Thuận được thành lập, Hòa thượng đảm nhận vai trò Tổng Giám luật và giảng dạy bộ môn Luật học Phật giáo cho đến năm 2006. Cùng năm, nhân Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ III, Hòa thượng được tấn phong lên hàng giáo phẩm Thượng tọa.
Năm 1994, ngài được cung thỉnh làm Đệ Tam Tôn chứng Tăng già tại Giới đàn Bảo Tạng, do Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Thuận tổ chức.
Năm 2003, Hòa thượng phát nguyện đặt viên đá trùng kiến chùa Phật Quang theo lối kiến trúc cung đình Huế.
Năm 2007, tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VI, ngài được Đại hội tấn phong lên hàng giáo phẩm Hòa thượng.
Năm 2012, Hòa thượng khai sơn chùa Phật Quang II tại xã Măng Tố, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Cũng trong năm này, ngài được Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Thuận cung thỉnh vào ngôi vị Giáo phẩm Chứng minh Ban Trị sự nhiệm kỳ VII (2012-2017) và nhiệm kỳ VIII (2017-2022).
Năm 2015, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Thuận tổ chức Đại Giới đàn Nguyên Hương tại Tòng Lâm Vạn Thiện, Hòa thượng được cung thỉnh vào ngôi vị Đường đầu truyền giới Sa-di.
Tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần VIII, nhiệm kỳ (2017 – 2022), Hòa thượng được suy tôn vào ngôi vị Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
4. Công hạnh đào tạo Tăng tài và hóa độ chúng sanh
Sinh thời, Hòa thượng thường dạy chúng đệ tử và chính bản thân mình thực hiện chí nguyện “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”. Ngài thực hiện điều này thông qua con đường giáo dục, hoằng pháp lợi sinh, hướng dẫn nếp sống tâm linh kết hợp Thiền – Tịnh – Mật. Ngài chú trọng xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo Tăng tài, kế thừa và phát huy truyền thống Phật giáo. Hòa thượng luôn dạy đồ chúng sống lục hòa cộng trụ và thiết lập 13 lời di huấn để hàng đệ tử thực hành. Dù tuổi cao sức yếu, ngài vẫn không ngừng trau dồi kiến thức. Những bài pháp ngữ của ngài thường mang dấu ấn lịch sử, đề cao lòng tự tôn dân tộc, gìn giữ truyền thống và tinh hoa văn hóa Phật giáo Việt Nam.
Với hạnh đầu đà, tam thường bất túc, ngài sống giản dị, ăn rau, ít ngủ, đi chân trần, gần gũi thiên nhiên và yêu thương động vật. Đặc biệt, dù trong thời đại công nghệ phát triển, vật chất đầy đủ, ngài vẫn không sử dụng đến những tiện nghi đó. Bằng thân, khẩu, ý, Hòa thượng đã thế phát xuất gia và làm Thầy y chỉ cho hơn 50 vị Tăng Ni, cùng hàng chục ngàn tín đồ. Những đệ tử xuất gia của ngài đều được học hành tấn tu, trụ trì nhiều tự viện trong và ngoài nước, nhiều vị tham gia Giáo hội giữ các vị trí lãnh đạo quan trọng cấp tỉnh và địa phương, tiếp nối con đường phục vụ Đạo pháp và Dân tộc của ngài.
Với tình thương bao la, ngài đã chứng minh và chủ trì nhiều Phật sự quan trọng từ trong tỉnh đến các tỉnh thành khác, từ miền Trung, miền Nam đến miền Bắc.
Để tôn vinh công đức và đạo hạnh của Hòa thượng, các cấp Giáo hội từ Trung ương đến địa phương, cùng với chính quyền và Mặt trận Tổ quốc đã trao tặng nhiều Bằng tuyên dương công đức và Bằng khen cao quý.
5. Thời điểm viên tịch
Trong những năm tháng cuối đời, sau khi đã cống hiến hết tâm lực cho sự nghiệp giáo dục, xiển dương Phật pháp và đào tạo hậu học, nhận thấy sức khỏe suy giảm, Hòa thượng đã sắp xếp mọi Phật sự. Ngài căn dặn đồ chúng phải đoàn kết, yêu thương, bảo bọc lẫn nhau. Dù sức tàn lực kiệt, trí tuệ ngài vẫn minh mẫn, sáng suốt. Ngài đã dạy đồ chúng về tánh không trong Bát Nhã Tâm Kinh, ghi nhớ 7 chữ “bất”, 8 chữ “không”, và 21 chữ “vô”, với cốt lõi là chữ “Tâm”.
Vào ngày 23 tháng Chạp năm Tân Sửu, dự biết thời khắc sắp đến, Hòa thượng đã gọi các đệ tử xuất gia lại để căn dặn. Sau đó, ngài khoác y phục, lạy Phật, bái Tổ để chuẩn bị cho hành trình vô tung bất diệt. Ngài đã ứng khẩu bài kệ:
Huệ Tánh lánh đời chuyện bình thường
Xin đừng ai nhớ chớ ai thương
Hoạn lộ hữu duyên thiên lý ngộ
Vân tùng hữu xạ tự nhiên hương
Xưa nay sanh tử ai mà chẳng
Phật dạy tự lực với tự cường
Vẫy cánh tay từ chào vĩnh biệt
Bà con ở lại chúc an khương
Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 13 tháng 2 năm Nhâm Dần (tức ngày 15 tháng 3 năm 2022), Hòa thượng đã thuận thế vô thường, an nhiên thị tịch. Ngài trụ thế 89 năm, hạ lạp 67 năm.
Nam mô Từ Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tứ Thế Phật Quang Đường Thượng Trụ trì, Khai sơn Phật Quang Tự Đệ Nhị, húy Thượng Nguyên hạ Đạt, hiệu Huệ Tánh Giác linh Hòa thượng thùy từ chứng giám.
Để hiểu sâu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của các bậc cao tăng, mời quý vị cùng khám phá thêm trong chuyên mục Tiểu sử.

