HT Thích Phước Huệ (1875-1963): Cuộc đời và sự nghiệp của một bậc chân tu

ht phuoc hue 2
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Sinh ra tại Quảng Trị trong một gia đình vọng tộc với sáu đời có người xuất gia, Hòa thượng Thích Phước Huệ đã sớm đối diện với biến cố khi mẹ viên tịch lúc Ngài mới 16 tuổi. Theo cha vào Bình Thuận, một biến cố bất ngờ đã đưa Ngài đến nương tựa cửa chùa, nơi nghiệp tu hành bắt đầu bén duyên. Khám phá hành trình thiền môn và những đóng góp của bậc chân tu này tại Chiasedaophat.

ht phuoc hue 2

Hòa thượng Thích Phước Huệ, thế danh Nguyễn Văn Cự, pháp danh Ngộ Tánh, tự Hưng Long, hiệu Phước Huệ, sinh ngày mùng 8 tháng 4 năm Ất Hợi (1875) tại làng Trung Kiên, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Ngài xuất thân trong một gia đình có truyền thống khoa bảng và nếp sống Phật giáo sâu đậm. Trải qua nhiều thế hệ, gia tộc Ngài đã có sáu vị xuất gia trở thành những danh Tăng có công hạnh lớn. Nội tổ của Ngài là cụ Nguyễn Văn Bình, một người có công lao trong việc khai hoang, được dân làng tôn vinh là “Hậu hiền khai khẩn”. Thân phụ Ngài, ông Nguyễn Văn Khanh, từng giữ chức quan tỉnh Bình Thuận, còn thân mẫu là bà Nguyễn Thị Từ quê ở làng Diên Khánh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Năm 1890, khi tròn 16 tuổi, mẹ Ngài viên tịch. Sau đó, Ngài theo cha vào Bình Thuận nhậm chức. Trên đường đi ngang Nha Trang, thân phụ Ngài lâm bệnh nặng và phải xin tá túc tại một ngôi chùa nhỏ tên là Hải Đức. Sau khi cha qua đời, Ngài nhờ nhà chùa lo liệu tang sự.

Trong hoàn cảnh tứ cố vô thân nơi đất khách, Ngài đã tự mình mưu sinh bằng nghề đốn củi, đồng thời phụ giúp việc chùa. Mỗi tối, Ngài cùng chư Tăng tụng kinh, và chính trong những khoảnh khắc này, Phật pháp đã dần thấm sâu vào tâm thức Ngài, khơi dậy những suy tư về con đường giải thoát.

Nhận thấy con đường xuất gia là cách báo hiếu trọn vẹn và ý nghĩa nhất, Ngài đã xin xuất gia với Tổ Viên Giác, trụ trì chùa Hải Đức, và được ban pháp danh là Ngộ Tánh. Với nền tảng Nho học sẵn có và sự hướng dẫn từ gia đình, Ngài đã nhanh chóng vượt trội so với các bạn đồng tu trong quá trình tu tập, được Bổn sư ban pháp tự Hưng Long.

Tìm hiểu thêm: Thích Phổ Hòa: Từ Nho Giáo Huế đến Bậc Thánh Tăng – Cuộc đời và Hành Trình Giác Ngộ

Năm 1894, khi 20 tuổi, Ngài xin phép dời hài cốt phụ thân về kinh đô Huế và cải táng tại núi Thiên Thai, bên cạnh Tổ đình Thuyền Tôn. Sau đó, Ngài tiếp tục cầu học với Tổ Từ Hiếu và cùng năm đó, Ngài được thọ giới tại Đại giới đàn chùa Báo Quốc, với Tổ Hải Thuận làm Đường đầu Hòa thượng.

Năm 1899, ở tuổi 25, Ngài xin phép lập một thảo am nhỏ tại làng Bình An để tu hành và phụng thờ song thân. Nơi đây sau này trở thành chùa Hải Đức trên đường Nam Giao, Huế.

Năm 1904, Ngài đắc pháp với Hòa thượng Tâm Truyền, trụ trì Tổ đình Báo Quốc, và được ban pháp hiệu Phước Huệ, với bài phú kệ:

Thượng thừa Phật Tổ chấn tôn phong
Phó kệ truyền đăng pháp pháp đồng
Thiện quả viên thành tăng Phước Huệ
Tương kỳ đạo đức vĩnh Hưng Long.

Cũng trong năm này, Ngài nhận chức trụ trì chùa Kim Quang (làng An Cựu, Huế), do bà Từ Minh, Hoàng Thái Hậu đời vua Thành Thái, kiến lập. Nhờ vậy, vua Thành Thái có cơ duyên gần gũi và nghe pháp, từ đó Ngài được vua kính trọng.

Năm 1914, Ngài trở lại Nha Trang thăm Bổn sư, nhưng Tổ Viên Giác đã viên tịch. Chùa Tổ trong tình trạng xiêu vẹo, hoang tàn. Ngài đã dốc sức vận động trùng tu lại ngôi chùa, và không lâu sau, chùa Hải Đức đã trở thành một đạo tràng trang nghiêm tại thành phố Nha Trang.

Năm 1924, ở tuổi 50, Ngài được Chư sơn tỉnh Khánh Hòa suy tôn làm Đường đầu Hòa thượng tại Đại giới đàn Nha Trang.

Xem thêm: Tâm Như: Uyên bác, tâm lành, trí tuệ rạng ngời

Sau đó, Ngài trở về Huế, biến am Hải Đức thành ngôi chùa nguy nga như ngày nay.

Năm 1934, Ngài về quê hương Quảng Trị để vận động trùng tu Tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang tại làng Ái Tử. Công trình này kéo dài hơn bốn năm và hoàn thành vào năm 1940. Sau khi khánh thành, Ngài được Giáo hội tỉnh Quảng Trị cung thỉnh làm Đường đầu Hòa thượng trong Đại giới đàn của tỉnh. Cũng trong năm đó, vua Bảo Đại bổ nhiệm Ngài làm Tăng Cang Tổ đình Báo Quốc.

Từ năm 1941 đến 1945, Ngài liên tục đảm nhiệm chức Trị sự trưởng Giáo hội Tăng già tỉnh Thừa Thiên.

Trong bối cảnh chấn hưng Phật giáo cả nước, Ngài đã chọn Thượng tọa Bích Không, một người am tường nhiều lĩnh vực, để hỗ trợ thực hiện các Phật sự quan trọng. Một trong những công việc đó là việc dời chùa Hải Đức từ Nha Trang lên núi Trị Thủy, thuộc làng Phước Hải. Ngôi chùa này sau đó đã trở thành Phật Học Viện Hải Đức – Nha Trang, một cơ sở đào tạo danh tiếng.

Năm 1951, Ngài đến thăm Ngài Phổ Nhãn, trụ trì Tổ đình Thiên Bửu. Hai vị đã cùng nhau vận động trùng tu Tổ đình và tiến cúng ngôi chùa này cho Giáo hội Ninh Hòa để làm trung tâm hoằng dương chánh pháp. Năm 1954, tại Đại giới đàn Ninh Hòa, Ngài được cung thỉnh làm Đường đầu Hòa thượng.

Năm 1956, Ngài ký văn bản hiến cúng chùa Hải Đức Nha Trang cho Giáo hội Trung Phần để làm nơi đào tạo Tăng Ni, thể hiện tầm nhìn xa và sự quyết đoán vì sự phát triển của Phật giáo.

Năm 1962, Ngài trở lại Quảng Trị để kiến thiết tượng đài Quan Thế Âm tại Tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang.

Khám phá: Hòa thượng Thích Trí Chơn: Hành trình Tinh hoa từ Bình Thuận đến Cố đô

Trong suốt 70 năm hoằng hóa, Ngài đã đi khắp nơi, từ Trị Thiên đến Khánh Thuận. Bên cạnh những đóng góp to lớn cho đạo pháp, Ngài còn quan tâm đến nhiều công việc khác như:

  • Đứng đầu phiên họp của Hội đồng Sơn môn Tăng già Thừa Thiên ngày 4 tháng 4 năm 1948 để bầu ra Ban Quản Trị Tổ đình Báo Quốc.
  • Vận động các vị Tỳ Kheo giao trả Tổ đình Từ Đàm lại cho Giáo hội.
  • Đại trùng tu chùa Kim Quang ở An Cựu – Huế.
  • Chứng minh và cổ động cho việc trùng hưng chùa Phổ Đà, Đà Nẵng.
  • Tận tình chăm lo cho chùa Phật Quang – Thị xã Phan Thiết.

Trong một thời gian, Ngài đã ra miền Bắc học thêm Pháp môn Mật Tông và đã chữa lành bệnh cho nhiều người, đặc biệt là các bệnh về tâm thần.

Sự nghiệp đào tạo đồ chúng của Ngài đã sản sinh ra nhiều đệ tử xuất sắc, tiêu biểu như:

  • Hòa thượng Bích Phong (1900-1968), trụ trì chùa Quy Thiện và kế thừa Tổ đình Báo Quốc.
  • Hòa thượng Bích Không (1894-1954), nguyên trụ trì chùa Hải Đức (1943).

Ngoài ra, Ngài còn có nhiều đệ tử là người nước ngoài, trong đó có kỹ sư Frank M. Bazl, người Mỹ, đã nhận Ngài làm cha đỡ đầu trên bước đường tu học vào năm 1958.

Trước khi viên tịch, Ngài thường nói: “Ta ra đời nhằm ngày Đản Sinh của đức Từ Phụ thì sau ta cũng chọn ngày ấy mà viên tịch”. Ngày mùng 8 tháng 4 năm Quý Mão (1963), khi biết Giáo hội dời ngày lễ Phật Đản vào ngày Rằm, Ngài nói: “Rứa thì ta cũng đợi đến ngày rằm…”.

Vào lúc 11 giờ 30 ngày Rằm tháng 4 năm Quý Mão (1963), Ngài đã an nhiên viên tịch, hưởng thọ 89 tuổi với 68 hạ lạp. Bảo tháp của Ngài được tôn trí trong khuôn viên chùa Hải Đức – Huế.

Những câu chuyện về cuộc đời và sự nghiệp lẫy lừng của Hòa thượng Thích Phước Huệ chỉ là một phần nhỏ trong kho tàng kiến thức phong phú mà bạn có thể khám phá tại mục Tiểu sử.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang