Năm 1963, biến động chính trị tại Sài Gòn đã tạo nên một bầu không khí sôi sục, khi những sinh viên như Đào Văn Bình chứng kiến sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm ngay trước mắt. Giữa bối cảnh hỗn loạn và những cuộc biểu tình nổ ra khắp nơi, người dân Sài Gòn đã có những phản ứng đầy bất ngờ trước những sự kiện lịch sử. Khám phá chân dung đầy đủ về Đào Văn Bình và câu chuyện của ông trong thời kỳ đầy biến động này, bạn đọc có thể tìm hiểu thêm tại Website Chia sẻ Đạo Phật.
Năm 1963, khi cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm diễn ra, tôi là sinh viên Luật Khoa năm nhất tại Sài Gòn. Tiếng radio hàng xóm mở suốt ngày đã cập nhật tin tức từng giờ về biến động chính trị. Thời điểm đó, nhiều trường đại học, trung học phải đóng cửa hoặc tự động bãi khóa do tình hình đấu tranh của Phật Giáo. Dù Đại học Luật Khoa không có bãi khóa tự động, trường cũng đóng cửa một thời gian, tạo điều kiện cho một số sinh viên tham gia các cuộc biểu tình.
Trong bối cảnh hỗn loạn đó, tôi và nhiều bạn bè cùng trang lứa đều nắm bắt khá rõ tình hình đất nước. Điều kỳ lạ là dù tiếng súng nổ ra, xe tăng bao vây Dinh Độc Lập, người dân Sài Gòn vẫn kéo nhau ra xem khi tiếng súng lắng xuống, bất chấp nguy hiểm. Tôi cũng thuộc nhóm “điếc không sợ súng” ấy. Tôi đã chứng kiến cảnh người dân Chợ Bến Thành mang cơm nước, trái cây ra tặng binh sĩ Nhảy Dù sau khi đài phát thanh loan báo chế độ Ngô Đình Diệm đã bị lật đổ. Tôi cũng đã thấy cảnh tượng người dân, thanh niên Sài Gòn dùng dây kéo đổ tượng Hai Bà Trưng tại Bến Bạch Đằng. Chiếc tượng đổ gục, cổ đứt lìa, được đám đông đưa lên xích lô diễu hành quanh phố, reo hò như lễ hội. Sở dĩ có sự kiện này là do trước đó, nhiều người bàn tán rằng đây thực chất là tượng bà Ngô Đình Nhu chứ không phải tượng Hai Bà Trưng với kiểu tóc và trang phục quen thuộc của bà.
Những hình ảnh lịch sử này có thể được tìm thấy trong cuốn “The Eyewittness History of the Vietnam War” của George Esper và The Associated Press, xuất bản năm 1983. Trang 34 có hình ảnh lịch sử về sự kiện này, và trang 36-37 ghi lại cảnh tượng thanh niên, sinh viên Sài Gòn bao quanh hàng rào Dinh Độc Lập, bắt tay binh sĩ Việt Nam Cộng hòa – những đơn vị đầu tiên tấn công vào dinh.
Sau những cuộc đảo chính, chỉnh lý, biểu dương lực lượng liên miên của các tướng lĩnh và biến cố Miền Trung, Hiến pháp Đệ Nhị Cộng Hòa ra đời năm 1967. Sau khi liên danh Thiệu-Kỳ đắc cử tổng thống, cùng với sự rạn nứt giữa Thượng Tọa Thích Tâm Châu và Thượng Tọa Thích Trí Quang khiến Phật Giáo chia đôi, câu chuyện đấu tranh của Phật Giáo năm 1963 và gia đình Ngô Đình Diệm dần trở thành dĩ vãng. Áp lực quân sự gia tăng, đời sống người dân khó khăn với sự hiện diện của hơn 500.000 quân đội Mỹ tại Miền Nam. Lúc này, không ai còn tâm trí để đào xới lại lịch sử năm 1963, và hai anh em Ngô Đình Diệm cũng đã yên nghỉ tại Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi.
Cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi chưa từng đọc hay xem bất kỳ tài liệu, bài báo nào cho rằng Thượng Tọa Thích Trí Quang là cán bộ hay đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam. Khi hàng triệu người Việt vượt biển tìm tự do, tôi đã hy vọng mọi người sẽ gác lại đau thương quá khứ để đoàn kết, giành lại tương lai. Tuy nhiên, sự bình yên và đoàn kết ở hải ngoại chỉ kéo dài được một đến hai thập kỷ. Giữa thập niên 1990, xuất hiện những bài viết, cuốn sách ca ngợi Ngô Đình Diệm như một “cha già dân tộc”, đồng thời công kích cuộc đấu tranh của Phật Giáo năm 1963, với luận điểm cho rằng Thượng Tọa Thích Trí Quang là đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Nếu Thượng Tọa Thích Trí Quang thực sự là “cộng sản nằm vùng”, điều đó có nghĩa là cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng tôn giáo năm 1963 của Phật Giáo là hoàn toàn bịa đặt, do cộng sản giật dây, lèo lái hoặc chỉ đạo. Điều này ngụ ý rằng dưới thời Ngô Đình Diệm không hề có sự kỳ thị tôn giáo. Như vậy, để làm sáng tỏ chính nghĩa của cuộc đấu tranh năm 1963, cần phải tìm hiểu rõ lý lịch của Thượng Tọa Thích Trí Quang. Cá nhân tôi chưa bao giờ nghĩ Thượng Tọa là cán bộ cộng sản, nhưng nay tôi nhận thấy cần phải tìm hiểu lại con người thật của ông.
Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ điện tử và sự hỗ trợ của Google – “bộ nhớ của nhân loại” – chúng ta có thể dễ dàng tìm kiếm các dữ kiện liên quan đến Thượng Tọa Thích Trí Quang. Với tinh thần tìm hiểu sự thật, không thêm thắt ý kiến cá nhân, tôi xin dịch bốn tài liệu sau đây để quý vị cùng suy ngẫm:
Tài liệu giải mật của CIA về Thích Trí Quang
Tài liệu này do Viện Đại học Saskatchewan (Canada) sưu tầm và phổ biến. Phần Tóm Lược Chính (Abstract) của báo cáo CIA cho biết:
“Một cuộc phân tích nhằm xác định liệu Thích Trí Quang có liên hệ hoặc là cán bộ cộng sản, cũng như xem xét về con người và mục tiêu đấu tranh của ông. Báo cáo tình hình đến ngày 27 tháng 8 năm 1964 đánh giá rằng Trí Quang không phải là cộng sản; ông ta chỉ muốn thiết lập một chính quyền thần quyền/tôn giáo ở Miền Nam. Thông tin tình báo được gửi bằng cable, TDCS 314/02342-64. Ngày 28 tháng 8 năm 1964. 8 trang. Mật/Không phổ biến. Bản sao đã được tẩy sạch. Giải tỏa ngày 24 tháng 5 năm 1976.”
“Chỉ Có Tôn Giáo Là Đáng Kể Ở Việt Nam”: Thích Trí Quang và Cuộc Chiến Tranh Việt Nam
Đây là biên khảo của James McAllister, thuộc Phân Khoa Chính trị học, Đại học Williams. Phần Tóm Lược Chính (abstract) của bài viết:
“Thích Trí Quang từ lâu đã là một trong những nhân vật gây tranh cãi nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Các học giả cánh hữu cho rằng Trí Quang có khả năng là một cán bộ cộng sản hoạt động theo chỉ đạo của Hà Nội. Ngược lại, các học giả cánh tả cho rằng ông là một nhà lãnh đạo tôn giáo đấu tranh bất bạo động cho dân chủ và mong muốn chấm dứt chiến tranh sớm. Bài biên khảo này lập luận rằng cả hai quan điểm trên đều thiếu thuyết phục. Như các giới chức Hoa Kỳ đã kết luận một cách công bằng, không có bằng chứng đáng tin cậy nào cho thấy Trí Quang là cán bộ cộng sản hoặc có cảm tình với mục tiêu của Hà Nội hay Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Dựa trên các tài liệu lưu trữ phong phú về các cuộc trao đổi giữa Trí Quang và các giới chức Hoa Kỳ, có thể thấy rõ Trí Quang thực sự chống cộng mạnh mẽ và hoàn toàn hiểu được việc sử dụng quân đội Hoa Kỳ để chống lại Bắc Việt và Trung Hoa. Yếu tố chính gây mâu thuẫn giữa phong trào đấu tranh của Phật Giáo và chính quyền Johnson là sự kiên quyết của Trí Quang cho rằng các chế độ quân nhân sau Ngô Đình Diệm thù địch với Phật Giáo và không đủ khả năng dẫn dắt cuộc đấu tranh chống cộng sản đến thành công.”
Phỏng vấn Thích Trí Quang trên Tạp chí TIME (22/04/1966)
Cuộc phỏng vấn này đề cập đến nhiều vấn đề, bao gồm cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến và việc ứng cử của liên danh Thiệu-Kỳ. Dưới đây là phần trích đoạn quan điểm của Thượng Tọa Thích Trí Quang về cộng sản và sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Việt Nam:
Trong một cuộc phỏng vấn riêng tư hiếm hoi, Thượng Tọa Thích Trí Quang đã trao đổi với các phóng viên của TIME. Khi được hỏi về khả năng đàm phán với Việt Cộng nếu chiến tranh kết thúc thành công, Thượng Tọa nhấn mạnh rằng đàm phán chỉ có giá trị khi mang lại lợi ích cho cả hai phe, và ông không đồng ý với bất kỳ hình thức đầu hàng trá hình nào.
Về vấn đề các thành phần phi cộng sản trong hàng ngũ Việt Cộng, Thượng Tọa cho rằng nếu có, họ cũng sẽ bị cộng sản lợi dụng và chỉ đạo, do đó không thể hy vọng vào họ. Ông cũng khẳng định không có sự phân biệt giữa Cộng sản Bắc Việt và Cộng sản Miền Nam, cả hai đều là cộng sản và hệ tư tưởng của họ nguy hiểm hơn súng đạn.
Khi được hỏi về tin đồn Quốc hội Lập hiến sẽ yêu cầu người Mỹ rút khỏi Việt Nam, Thượng Tọa bác bỏ hoàn toàn, cho rằng đó là những lời bôi nhọ vô căn cứ. Ông khẳng định cuộc đấu tranh chống cộng cần có sự giúp đỡ của Mỹ và vấn đề là làm thế nào để nâng cao giá trị của sự giúp đỡ đó. Quốc hội được bầu ra sẽ là cơ quan ủng hộ tinh thần và chấp nhận sự giúp đỡ của Mỹ.
Thích Trí Quang từ Wikipedia
Thích Trí Quang (sinh năm 1924) là một tăng sĩ Phật giáo Đại thừa Việt Nam, nổi tiếng với vai trò lãnh đạo cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1963 tại miền Nam Việt Nam. Ông đã kêu gọi tín đồ noi gương đấu tranh bất bạo động của Gandhi, dẫn đến các cuộc biểu tình lan rộng chống lại chính quyền Công giáo của Tổng thống Ngô Đình Diệm và các chính sách thân Công giáo, chống Phật giáo, được cho là do ảnh hưởng của Giám mục Ngô Đình Thục. Việc chính quyền Diệm đàn áp các cuộc biểu tình đã gây bất mãn sâu rộng trong dân chúng, dẫn đến cuộc đảo chính tháng 11 năm 1963 lật đổ ông và gia đình.
Trong những năm đầu, Thích Trí Quang sang Tích Lan nghiên cứu Phật giáo. Khi trở về, ông tham gia phong trào kháng chiến chống Pháp giành độc lập cho Việt Nam. Ngày 8 tháng 5 năm 1963, nhân lễ Phật Đản, Phật tử Huế đã chuẩn bị treo cờ Phật giáo. Tuy nhiên, chính quyền đã dựa vào một nghị định ít khi thi hành để cấm đoán, trong khi trước đó một tháng, cờ Công giáo được phép treo trong lễ kỷ niệm của Giám mục Ngô Đình Thục. Phật tử Huế bất chấp lệnh cấm và tổ chức biểu tình, tập trung tại đài phát thanh với hy vọng nghe tiếng nói của Thích Trí Quang. Chính quyền đã cắt sóng và nổ súng vào đám đông, làm 9 người thiệt mạng.
Từ ngày 10 tháng 5, Phật giáo phát động chiến dịch đòi bình đẳng tôn giáo, bồi thường cho nạn nhân, trừng phạt người có trách nhiệm và quyền treo cờ Phật giáo. Thích Trí Quang kêu gọi người biểu tình không để cộng sản lợi dụng tình hình bất ổn và chủ trương đấu tranh bất bạo động. Khi khủng hoảng leo thang, ông đến Sài Gòn để thương thuyết và chuẩn bị cho các cuộc xuống đường sau vụ tự thiêu của Thích Quảng Đức vào ngày 11 tháng 6. Trước cuộc tấn công của mật vụ và lực lượng đặc biệt của Ngô Đình Nhu vào Chùa Xá Lợi ngày 21 tháng 8, ông đã trú ẩn tại Tòa Đại sứ Hoa Kỳ. Đại sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge đã chấp nhận cho ông trú ẩn và từ chối giao nộp ông cho lực lượng của Nhu sau vụ lục soát, nổ súng và đánh đập tăng ni tại chùa. Tại Huế, 30 người đã thiệt mạng khi cố gắng ngăn chặn lực lượng của Nhu tấn công các chùa.
Sau cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 lật đổ Diệm và Nhu, có tin đồn rằng nhóm quân nhân muốn Thích Trí Quang tham gia nội các mới, nhưng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã bày tỏ sự phản đối.
Sau cuộc chỉnh lý năm 1964 của Nguyễn Khánh lật đổ Dương Văn Minh, Khánh ra lệnh xử tử Đại úy Nguyễn Văn Nhung, cận vệ của Minh và là người đã giết hai anh em Diệm, Nhu. Điều này gây ra tin đồn về sự phục hồi quyền lực của các chính trị gia thân Diệm, khiến Thích Trí Quang hủy bỏ chuyến hành hương Ấn Độ để tổ chức các cuộc phản đối chống lại Khánh. Cuối năm 1964, Khánh thu hồi quyết định quản thúc các tướng lĩnh tại Đà Lạt, đứng đầu là Trần Văn Đôn.
Năm 1965, các cuộc biểu tình tái diễn khi tướng Nguyễn Chánh Thi, người chống Diệm và là Tư lệnh Quân đoàn I, bị Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ cách chức. Thời điểm này, Nguyễn Cao Kỳ bắt giữ Thích Trí Quang và ra lệnh quản thúc tại gia (chùa). Khi Sài Gòn sụp đổ và cộng sản tràn vào miền Nam Việt Nam, Thích Trí Quang một lần nữa bị chính quyền cộng sản quản thúc tại gia.
Nhận Định
Tại các quốc gia văn minh phương Tây, việc xem xét lại lịch sử, tìm hiểu sự thật diễn ra thường xuyên bởi các nhà sử học khi có thêm dữ kiện mới. Ngay cả trong các lớp học lịch sử Hoa Kỳ, học sinh còn được tổ chức các phiên tòa giả định để xét xử Tổng thống Jackson về hành động giết hại người Da Đỏ. Việc xem xét lại lịch sử, lập tòa án giả định không nhằm dạy học sinh căm thù Tổng thống Jackson mà để thế hệ sau tránh lặp lại sai lầm của thế hệ trước. Nếu các sử gia không mổ xẻ, phân tích hành động của Tổng thống Jackson, điều đó có nghĩa là ông làm đúng và thế hệ sau sẽ tiếp tục làm theo, gây ra tác hại triền miên. Do đó, với tinh thần học hỏi, xây dựng đất nước và vì thế hệ mai sau, tôi hoan nghênh mọi nỗ lực khoa học, khách quan, nghiêm túc nhằm tìm hiểu về con người thực của Thượng Tọa Thích Trí Quang. Tuy nhiên, nghiên cứu lịch sử không hề dễ dàng. Các sử gia đã chỉ ra hai nguồn sử liệu chính để nghiên cứu:
- Tài liệu chính yếu (Primary Source): Bao gồm các chỉ dụ, đạo luật, sắc lệnh, nghị định hành chính, mệnh lệnh, biên bản phiên họp nội các, báo cáo, tờ trình, hình ảnh, băng ghi âm, phim tài liệu, phỏng vấn có ghi âm/thu hình, công báo – đây là những tài liệu chính xác của lịch sử.
- Tài liệu thứ yếu (Secondary Source): Như thơ, kịch, tiểu thuyết, bài viết, tâm tình, trao đổi cá nhân, hồi ký liên quan đến một giai đoạn lịch sử. Các tài liệu này có mức độ khả tín rất thấp, đôi khi không đáng tin cậy do chứa đựng nhiều ý kiến cá nhân (yêu ghét, chủ quan). Các sử gia nghiêm túc không bao giờ dựa vào Secondary Source để viết lịch sử. Ngay cả các cuộc trao đổi riêng tư giữa các nhân vật lịch sử hoặc những người liên quan cũng cần được kiểm chứng qua báo chí, tài liệu lưu trữ, băng ghi âm, nhật ký, văn khố, v.v.
Vì vậy, nếu ai đó không đồng ý với tài liệu giải mật của CIA và cho rằng đó là tài liệu giả, do nhóm thân cộng bịa đặt hoặc sự đánh giá của Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ hoàn toàn sai lệch, họ có thể viết thư chất vấn cơ quan CIA. Hoặc nếu tài liệu nghiên cứu của James McAllister, Wikipedia và cuộc phỏng vấn của tạp chí TIME bị cho là thiếu vô tư hoặc thân cộng, chúng ta có thể viết thư phản đối hoặc cung cấp cho họ những tài liệu chính xác hơn nhằm làm sáng tỏ lịch sử – một nhu cầu cần thiết cho một dân tộc muốn tiến lên.
Cuối cùng, chúng ta nên nhớ rằng một dân tộc man di mọi rợ thì không có lịch sử. Một dân tộc nô lệ thì lịch sử bị ngoại bang bóp méo, sửa đổi hoặc viết lại. Một dân tộc độc lập và hùng mạnh thì lịch sử phải được học hỏi, nghiên cứu, kế thừa và phê phán trong tinh thần khách quan và hướng về tương lai.
Tháng 12, 2009
Ghi chú
Dấu (*) là trích dẫn trong Tiểu Truyện Tự Ghi của Hòa Thượng Thích Trí Quang, nguyên là phần phụ lục trong cuốn Bồ Tát Giới (in sau năm 1975, do website Trang Nhà Quảng Đức phổ biến). Đoạn văn nói về việc tham gia kháng chiến: “Thọ Bồ tát giới rồi, không đầy một tháng sau Pháp đổ bộ Đồng Hới, tôi tham gia kháng chiến. Nhưng tháng 10 năm ấy, mẹ tôi bịnh nặng, bốn anh em tôi đều đi kháng chiến, người thứ ba tử trận một tuần sau ngày Pháp đổ bộ, hai người thứ nhất và thứ tư ở xa, tôi ở gần nhà nhất nên phải về nuôi mẹ.”
TÀI LIỆU ĐÍNH KÈM
1) Tài Liệu Thứ Nhất:
University of Saskatchewan
University Library
Declassified CIA Documents on the Vietnam War
We hereby acknowledge the permissions granted by the Gale Group to include in this Database the abstracts provided in the Declassified Documents Reference System CD-ROM and by the Texas Tech University’s Virtual Vietnam Archive to provide the links for fulltext documents.
Search:
Advanced search…
Title: An analysis of Thich Tri Quang’s possible communist affiliations, personality and goals
Date of Creation: August 28, 1964
Date of Declassification: May 24, 1976
Type of Document: Intelligence information cable
Level of Classification: CONFIDENTIAL
Status of Copy: SANITIZED
Pagination, Illustration: 8p.
Abstract: An Analysis of Thich Tri Quang’s Possible Communist Affiliations, Personality and Goals: Situation Report as of 27 August 1964 (assessment is that Tri Quang is not a Communist; he would like to establish a theocracy in South Vietnam). Intelligence Information Cable, TDCS 314/02342-64. Aug. 28, 1964. 8 p. CONFIDENTIAL/NO FOREIGN DISSEM. SANITIZED copy. Released May 24, 1976.
Indexing Terms:
THICH TRI QUANG
THICH DUC NGHIEP
THICH GIAC DUC
THICH MINH CHAU
THICH THIEN MINH
THICH TAM CHAU
TON THAT XUNG
Declassified Documents Reference System Location: 1976-22E
2) Tài Liệu Thứ Hai
Modern Asian Studies (2008), 42:751-782 Cambridge University Press
Copyright © Cambridge University Press 2007
doi:10.1017/S0026749X07002855
Research Article: ‘Only Religions Count in Vietnam’: Thich Tri Quang and the Vietnam War
JAMES McALLISTER
Department of Political Science, Williams College, Williamstown, MA 01267 Email: [email protected]
Article author query
mcallister j
Abstract
Thich Tri Quang has long been one of the most controversial actors in the history of the Vietnam War. Scholars on the right have argued that Tri Quang was in all likelihood a communist agent operating at the behest of Hanoi. Scholars on the left have argued that Tri Quang was a peaceful religious leader devoted to democracy and a rapid end to the war. This article argues that neither of these interpretations is persuasive. As American officials rightly concluded throughout the war, there was no compelling evidence to suggest that Tri Quang was a communist agent or in any way sympathetic to the goals of Hanoi or the NLF. Drawing on the extensive archival evidence of Tri Quang’s conversations with American officials, it is apparent that Tri Quang was in fact strongly anti-communist and quite receptive to the use of American military power against North Vietnam and China. The main factor that led to conflict between the Buddhist movement and the Johnson administration was Tri Quang’s insistence that the military regimes that followed Ngo Dinh Diem were hostile to Buddhism and incapable of leading the struggle against Communism to a successful conclusion.
3) Tài Liệu Thứ Ba:
World: A TALK WITH THICH TRI QUANG
Friday, Apr. 22, 1966
In an unusual private interview, one of the relatively few he has granted to Western newsmen, Thich Tri Quang talked for an hour last week with TIME Correspondents Frank McCulloch and James Wilde at his Saigon residence, a room in a maternity clinic. The interpreter was Than Trong Hue, a Vietnamese member of the TIME staff, who addressed the monk with the “venerable” title reserved for the Buddhist clergy. Tri Quang was clad in a hospital gown, white pantaloons, and brown leather sandals.
- If stability returns to Viet Nam and the war against the Communists is waged successfully, do you believe that eventually some sort of negotiations must be held with the Viet Cong?
- Of course, in raising such a question you have really answered it yourself—obviously any war must be finally ended by some kind of negotiations. But negotiations are worthwhile only if conditions are favorable for them. If you negotiate without benefit to your cause and struggle, that is a surrender in the guise of negotiations. And I am certainly not in favor of any such surrender.
- Do you believe there are non-Communist elements within the Viet Cong?
- If so, they are completely exploited and led by the Communists, so we can have no hope for them. Even if they are only followers, they can be of no use to us. Being led or directed by Communists is the same as being a Communist.
- What do you think of the Viet Cong movement?
- This is mostly a matter of semantics to me. People try to separate North Vietnamese Communists from South Vietnamese Communists. No such separation exists. They are both Communists. And as far as I am concerned, as a religious man, the ideology they possess is much more dangerous than the guns they possess.
- Can you comment on rumors that the first thing a legislative assembly might do would be to ask the Americans to leave Viet Nam?
- Rumors such as these are sheer libel. No proof or substantiation for them exists. One should not ask whether Americans should remain in Viet Nam. It is agreed by all that the struggle against Communism here must be made with the assistance of the Americans. So the problem is really how to enhance the value of that assistance. American assistance is not now fully supported in Viet Nam because there is no popular representation to give it such support. When an assembly is elected, it will, by giving its moral endorsement to such assistance, enhance its value and its acceptance.
Read more: http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,899140-3,00.html#ixzz0ZIyhmbQ5
4) Tài Liệu Thứ Tư:
From Wikipedia, the free encyclopedia
Jump to: navigation, search
Thích Trí Quang (born 1924) is a Vietnamese Mahayana Buddhist monk best known for his role in leading South Vietnam’s Buddhist majority during the Buddhist crisis in 1963.
His campaign, in which he exhorted followers to emulate the example of Mahatma Gandhi, saw widespread demonstrations against the Catholic government of President Ngo Dinh Diem, and its pro-Catholic and Anti-Buddhist policies, attributed to the influence of Diem’s elder brother Archibishop Ngo Dinh Thuc of Hue. Diem’s often violent suppression of the demonstrations lead to widespread dismay among the populace, and resulted in a military coup in November 1963 that removed Diem and his family from power.
In his early days, Thich Tri Quang went to Ceylon to further his Buddhist studies. When he returned, he participated in anti-French activities, calling for the independence of Vietnam.
In 1963, Vesak, the birthday of Gautama Buddha fell on May 8. The Buddhists of Hue had prepared celebrations for the occasion including the display of the Buddhist flag. The government cited a rarely enforced regulation prohibiting the display of religious flags, banning it. This occurred despite the non-enforcement of the regulation on a Catholic event celebrating the fifth anniversary of Ngo Dinh Thuc as Archbishop of Hue less than a month earlier. The Buddhists defied the ban and held a demonstration, and congregated at the radio station expecting to hear an address by Thich Tri Quang, as was routine for such a day. The authorities cancelled the speech and opened fire on the crowd, killing nine.
On May 10, Buddhist campaigns for religious equality, compensation for the victims, punishment for those responsible, and the right to fly the Buddhist flag. Thich Tri Quang urged the demonstrators to not allow Vietcong to exploit the unrest, and exhorted a strategy of passive resistance. As the crisis deepened, he travelled to the capital Saigon for negotiations and further protests after the self immolation of Thich Quang Duc on June 11. Prior to the August 21 raids on the Xa Loi Pagoda by Ngo Dinh Nhu’s secret police and special forces, he sought refuge at the US embassy. He was accepted by the US ambassador Henry Cabot Lodge, who refused to hand him to Nhu’s forces after they had ransacked the pagodas, fired on and beat monks. In Hue, thirty people died as they attempted to blockade the pagodas from Nhu’s men.
Following the coup on November 1, 1963 which removed Diem and Nhu from power, it was reported that the military junta wanted Thich Tri Quang to be a part of the new cabinet, but the US State Department recommended against this.
After the 1964 coup by General Nguyen Khanh which deposed the Duong Van Minh junta, Khanh had Captain Nguyen Van Nhung, the bodyguard of Minh and executioner of Diem and Nhu executed. This generated rumours that pro-Diem politicians would be restored to power and prompted Thich Tri Quang to cancel a planned pilgrimage to India in order to organise further demonstrations. In late 1964, Khanh revoked his decision to put the General lead by Tran Van Don from detention in Da Lat.
In 1965, demonstrations occurred again when anti-Diem General Nguyen Chanh Thi, the commander of central Vietnam, was stripped of his position by Prime Minister Nguyen Cao Ky. This time Ky had Thich Tri Quang arrested and put him under house arrest in Saigon. When the communists overran South Vietnam in the Fall of Saigon, Thich Tri Quang was again put under house arrest…
Ghi chú: Tượng “hai bà Trưng” trước và sau Cách Mạng. Ảnh nguồn http://community.vietfun.com/showthread.php?t=691197&page=3
Để hiểu rõ hơn về cuộc đời và những đóng góp của Thượng tọa Thích Trí Quang cũng như Đào Văn Bình, mời quý độc giả khám phá chi tiết trong chuyên mục Tiểu sử.
