Hòa thượng Thích Tâm Thanh: Cuộc Đời & Sự Nghiệp

co hoa thuong Thich Tam Thanh
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Từ một gia đình Nho học tại Quảng Nam, hành trình của Hòa thượng Thích Tâm Thanh đã bắt đầu từ những dấu ấn tuổi trẻ, bao gồm cả việc phát biểu trước vua Bảo Đại. Sớm bén duyên với Phật giáo, Ngài đã chứng tỏ bản lĩnh qua các hoạt động Hướng Thiện và Gia Đình Phật Tử, đặc biệt là trong giai đoạn đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo dưới thời Ngô Đình Diệm. Khám phá sâu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của Ngài tại Chiasedaophat.

Cố Hòa thượng Thích Tâm Thanh

TIỂU SỬ
CỐ HÒA THƯỢNG THÍCH TÂM THANH

(1931-2004)

I. THÂN THẾ

Hòa thượng Thích Tâm Thanh, pháp danh Giải Tịnh, hiệu Chơn Nghiêm, thế danh Lê Thanh Hải, sinh năm 1931 tại xã Duy An, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là ông Lê Nghiêm, thân mẫu là bà Trần Thị Qua.

Xuất thân trong một gia đình có nền tảng Nho học và Phật giáo, Hòa thượng sớm tiếp xúc với cả hai nền văn hóa Đông – Tây. Từ nhỏ, Ngài đã bộc lộ tài năng và hoài bão. Năm 1941, khi mới 10 tuổi, Ngài đã được chọn phát biểu cảm tưởng của học sinh tỉnh Quảng Nam trong buổi lễ đón tiếp Hoàng đế Bảo Đại.

Lớn lên trong truyền thống Phật giáo gia đình, Hòa thượng đã tích cực tham gia các tổ chức Hướng Thiện, Gia Đình Phật Hóa Phổ, và Gia Đình Phật Tử Việt Nam. Thời thanh niên, Ngài là một Huynh trưởng đa tài, nổi bật với khả năng thư pháp, hùng biện, hội họa và kiến thức sâu rộng.

Là thành viên nòng cốt của Gia Đình Phật Tử Quảng Nam, Hòa thượng đã đóng góp không ngừng cho tổ chức. Trong giai đoạn Pháp nạn 1963, Ngài đã cùng chư tôn đức và Gia Đình Phật Tử Quảng Nam đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo, chịu đựng nhiều lần bị đánh đập và giam cầm dưới chính quyền Ngô Đình Diệm.

Thấm nhuần tư tưởng vô ngã vị tha, bình đẳng và công bằng xã hội, Ngài đã quy y Tam Bảo, thọ trì Ngũ giới. Bổn sư của Ngài là Hòa thượng Phổ Thiên (Thượng Trừng Hạ Kệ), pháp danh Như Nhu, hiệu Tôn Thắng. Sau khi quy y, Ngài được ban pháp danh là Tâm Thanh.

II. XUẤT GIA HỌC ĐẠO

Sự nhiệt huyết trong công tác Phật sự và nhận thức sâu sắc về Chánh pháp đã thôi thúc Hòa thượng xuất gia. Năm 1963, Ngài được Hòa thượng Thích Chơn Ngọc (Long Trí) thế phát tại Quảng Nam, dưới sự chứng minh của chư tôn đức và sự tham dự của Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử Quảng Nam. Sau khi xuất gia, Ngài theo học tại Phật học viện Phổ Đà – Đà Nẵng. Nhận thấy tài năng nổi bật của Ngài, chư tôn đức đã đưa Ngài vào Sài Gòn tiếp tục tu học.

Năm 1964, Ngài thọ giới Sa Di, pháp tự Giải Tịnh, và được gửi đến Cao Đẳng Phật học viện Huệ Nghiêm. Năm 1966, Ngài chính thức thọ Cụ Túc giới tại Đại Giới Đàn Quảng Đức, với Hòa thượng Thích Thanh Thạnh làm Đàn Đầu. Hòa thượng Phổ Thiên ban cho Ngài pháp hiệu Chơn Nghiêm.

III. THỜI KỲ HÀNH ĐẠO

Sau khi tốt nghiệp Cao Đẳng Phật học Huệ Nghiêm, Hòa thượng trở thành một giảng sư uy tín của Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Ngài được mời về chùa Ấn Quang và sau đó là Tổ đình An Quang (Quảng Nam – Đà Nẵng) để thuyết giảng khắp các tỉnh thành miền Nam, từ Quảng Trị đến Cà Mau.

Năm 1969, Ngài về nhận chức Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất khu Bảy Hiền (Gia Định), nơi có đông đảo đồng bào Quảng Nam sinh sống. Tại đây, Ngài đã trùng tu chùa Phổ Hiền, thành lập Gia Đình Phật Tử Đức Trung, và vận động xây dựng trường Bồ Đề Hạnh Đức (nay là trường Võ Văn Tần), đồng thời giữ chức Giám đốc điều hành. Bên cạnh đó, Ngài vẫn tiếp tục công tác thuyết giảng theo sự điều động của Ban Hoằng Pháp Viện Hóa Đạo, và giảng dạy tại các Phật học viện như Dược Sư, Từ Nghiêm. Ngài cũng từng giữ quyền Giám đốc Ký nhi viện Quách Thị Trang.

Năm 1971, Ngài đến Đại Ninh thăm Hòa thượng Thiền Tâm và được giới thiệu mảnh đất hiến cúng để xây dựng một tịnh thất nhỏ. Nơi đây, Ngài dự định lui về tịnh dưỡng sau những ngày hoằng pháp bận rộn. Sau Lễ Phật Đản năm 1973, Ngài quyết định nhập thất chuyên tu thiền định.

Đầu năm 1975, trước biến động thời cuộc, Hòa thượng rời thất về chùa Phổ Hiền để hỗ trợ tinh thần và vật chất cho đồng bào Quảng Nam di tản. Sau khi chiến tranh kết thúc, Ngài trở về Đại Ninh tiếp tục tu tập.

Tháng 10 năm 1975, Ngài trở lại vận động trùng tu chùa Phổ Hiền, ngôi chùa được khánh thành vào tháng 7 năm 1976. Sau đó, Ngài quay về Đại Ninh tĩnh tu.

Xem thêm: Khương Tăng Hội: Người Đặt Nền Móng Thiền Tông, Khai Sáng Tinh Thần Việt

Năm 1978, Ngài về Quảng Nam trùng tu chùa Ba Phong và nhiều ngôi chùa khác tại quê nhà.

Năm 1981, Ngài bắt đầu giảng kinh Pháp Hoa tại chùa Linh Phong, thành phố Đà Lạt.

Năm 1982, sau khi thân phụ viên tịch, Ngài hạn chế đi xa, thường xuyên ở nhà chăm sóc mộ phần cha mẹ.

Năm 1983, nhận thấy duyên độ hóa thuận lợi, Ngài quyết định xây dựng Vĩnh Minh Tự Viện ngay trên khu đất tịnh thất Chơn Nghiêm. Ngôi chùa này mang ý nghĩa xiển dương Pháp môn Tịnh Độ và kết hợp tên của các vị Tổ sư. Vĩnh Minh Tự Viện trở thành điểm tựa tinh thần cho người dân địa phương, nơi pháp âm Tịnh Độ vang vọng mỗi chiều.

Năm 1993, Hòa thượng tiếp tục đại trùng tu Vĩnh Minh Tự Viện và hoàn thành nhiều công trình quan trọng như Giảng đường, Tăng xá, Pháp bảo, tượng đài, Bảo tháp. Ngài còn xây dựng Ni viện Diệu Nhân, vận động làm đường giao thông, cầu và đóng góp vào các hoạt động phúc lợi xã hội. Ngoài ra, Ngài còn thỉnh Đại Tạng và Tục Tạng kinh về tôn trí tại chùa.

Cũng trong năm 1993, khi đang giảng dạy tại trường Cơ Bản Phật học Lâm Đồng, Ngài đã đến viếng tang anh Nguyễn Khắc Từ và có những chia sẻ sâu sắc về lý tưởng của người Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử. Lời phát biểu về sự hy sinh cao cả của người Huynh trưởng đã trở thành lời di huấn thiêng liêng cho thế hệ sau.

Đầu năm 1995, Vĩnh Minh Tự Viện được khánh thành. Đây cũng là dịp các đại diện Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử Trung Ương tiến hành Đại Hội, kiện toàn cơ cấu tổ chức và đề án sinh hoạt.

Hàng năm, vào dịp Hiệp Kỵ Gia Đình Phật Tử tại Đà Lạt, các Huynh trưởng từ khắp nơi lại về Đại Ninh thăm Ngài. Tại đây, họ được lắng nghe những lời thuyết pháp sâu sắc, những chỉ giáo ân cần, thiết thực cho tổ chức trong bối cảnh đầy thử thách. Ngài đã tiếp thêm sức mạnh, niềm tin cho các Huynh trưởng vào Đạo pháp và lý tưởng Gia Đình Phật Tử. Ngài dạy rằng, lời phát nguyện của Huynh trưởng phải vững chắc như đá, ý chí kiên cường như cành thông, và tâm thành như liễu xanh. Quan trọng là giữ vững phẩm hạnh của chiếc áo Lam, tận tụy hy sinh cho lý tưởng tổ chức.

Trong những lần gặp gỡ, Ngài còn hát những bài ca do chính mình sáng tác, những bài ca đầy đạo vị, gợi nhớ về thời thanh niên hoạt động trong Gia Đình Phật Tử. Các đơn vị Gia Đình Phật Tử tổ chức trại hè cũng thường xuyên về thăm Vĩnh Minh. Dù đang nhập thất, Ngài vẫn cho phép anh em vào thăm, chia sẻ những bữa cơm chay đạm bạc.

Khám phá: Thích Tâm Nguyên: Vị Giảng Sư Trẻ Tài Ba Với Những Lời Hay Ý Đẹp Truyền Cảm Hứng

Hòa thượng là một giáo thọ đầy lòng bao dung đối với Gia Đình Phật Tử. Ngài tận tâm giảng dạy các bộ kinh Đại thừa cho các Huynh trưởng bậc Lực. Lần cuối cùng Ngài giảng tóm tắt tinh yếu kinh Hoa Nghiêm trước Lễ Phật Đản PL 2547 là một kỷ niệm khó quên đối với anh chị em Huynh trưởng.

Nhờ giới đức và sự gia trì của chư vị Hộ pháp, mỗi năm Ngài lại hoàn thành một công trình xây dựng tại Vĩnh Minh Tự Viện, biến nơi đây thành một Tòng lâm nổi tiếng. Ngài cũng tích cực tham gia các hoạt động xã hội như làm đường, xây cầu.

Gia Đình Phật Tử Việt Nam cũng noi gương Ngài mà từng bước hoàn thiện các công trình của tổ chức, bao gồm:

– Khai giảng các khóa đào tạo Huynh trưởng bậc Lực toàn quốc.
– Hoàn thiện tài liệu tu học các bậc Kiên, Trì, Định, Lực.
– Phát hành nội bộ trên 50 đầu sách giáo khoa tham khảo cho Huynh trưởng và Đoàn sinh.
– Tổ chức Đại hội 1998, bầu Ban Hướng Dẫn Trung Ương và phổ biến đề án sinh hoạt.
– Mở các trại đào tạo chuyên năng và trại Vạn Hạnh.
– Cải cách chương trình tu học và đào tạo từ Đoàn sinh đến Huynh trưởng.

Hòa thượng tùy duyên đảm nhiệm các chức vụ để giáo dưỡng Tăng Ni sinh kế thừa.

Năm 2003, nhân ngày kỵ Tổ Phổ Thiên, Ngài khánh thành bảo tháp Xá Lợi Minh Tích Ấn, công trình cuối cùng của đời mình. Ngài phó chúc Đại đức Thích Nguyên Hiền kế vị trụ trì Vĩnh Minh Tự Viện và phát nguyện nhập thất tĩnh tu.

Ngày 20 tháng 4 năm Quý Mùi (2003), lễ nhập thất của Ngài được tổ chức trang trọng. Ban Hướng Dẫn Trung Ương Gia Đình Phật Tử Việt Nam đã dâng lên Ngài bức tranh lưu niệm và tiễn Ngài vào thất.

IV. NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG

Tại tịnh thất Chơn Nghiêm, Hòa thượng bắt đầu công phu miên mật, nghiên cứu kinh điển Đại thừa và Nikaya. Ngài đã ghi chú những tinh yếu cốt lõi, biên soạn các tác phẩm quan trọng như “Những Đề mục quan yếu trong kinh điển Đại thừa” và “Những Đề mục thiết cận trong các kinh Nikaya”.

Sau khi hoàn thành hai bộ kinh điển này, Ngài tiếp tục công phu niệm Phật. Tiếng tụng kinh vang vọng ngày đêm. Sau lễ kỵ Tổ rằm tháng Hai năm Giáp Thân, Ngài họp môn đồ, kể lại giấc mộng thấy Chư Thiên thỉnh lên Đao Lợi thuyết pháp và chư vị Bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền phó chúc Phật sự độ sanh.

Ngày 30 tháng 2 năm Giáp Thân (2004), Hòa thượng biết cơ duyên hóa độ đã mãn, cho gọi các môn đồ ở xa về. Đến ngày 5 tháng 2 nhuận, Ngài dặn dò mọi việc và khuyến tấn tu trì. Nhiều Huynh trưởng cấp cao niên đã đến thăm Ngài, được Ngài sách tấn tu tập đúng Chánh pháp.

Tìm hiểu thêm: Minh Nhựa: Đại gia Sài Gòn một thời "khét tiếng" giờ tìm bình yên nơi cửa Phật

Ngài cho biết sẽ viên tịch vào ngày 13 tháng 2 nhuận. Dù môn đồ khẩn thiết xin Ngài trụ thế thêm, Ngài khẳng định mọi việc phải hợp thời. Đúng 6 giờ 15 phút ngày 13 tháng 2 nhuận năm Giáp Thân (tức ngày 02 tháng 4 năm 2004), Ngài đã an nhiên thu thần thị tịch, trụ thế 74 năm, trải qua 40 mùa An cư kiết hạ.

Với hơn 40 năm phụng sự Đạo pháp, Hòa thượng đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp. Ngài là một vị Yết Ma nghiêm mật, một Giáo thọ chân tình, đôn hậu, thấu lý đạt tình. Dù không chủ trương viết sách, Ngài đã để lại nhiều tác phẩm giá trị, đúc kết từ kinh nghiệm tu học và khảo cứu, bao gồm:

– Danh từ Phật học
– Nghệ thuật diễn giảng
– Những Đề mục quan yếu trong kinh điển Đại thừa
– Những phẩm mục thiết cận trong các kinh Nikaya
– Duy Thức dị giảng

Ngoài ra, Ngài còn có nhiều bài viết đăng trên các báo chí, tập san Phật giáo.

Xuất thân từ Gia Đình Phật Tử, Ngài là một Huynh trưởng cấp Tín và luôn quan tâm, gắn bó với tổ chức này. Ngài được suy tôn là Cố Vấn Giáo Hạnh Ban Hướng Dẫn Trung Ương Gia Đình Phật Tử Việt Nam từ năm 1995 cho đến ngày viên tịch.

Sự viên tịch của Ngài là một mất mát lớn lao cho Phật giáo và Gia Đình Phật Tử. Công đức và nguyện lực của Ngài là nguồn cảm hứng bất tận.

Nguyện cầu Giác linh Hòa thượng cao đăng Phật quốc, hồi nhập Ta Bà tiếp tục sứ mệnh cao cả hoằng hóa độ sanh.

NAM MÔ TÂN VIÊN TỊCH TỰ LÂM TẾ PHÁP PHÁI CHÁNH TÔNG, TỨ THẬP TAM THẾ KHAI KIẾN VĨNH MINH TỰ VIỆN, CỐ VẤN GIÁO HẠNH BAN HƯỚNG DẪN TRUNG ƯƠNG GĐPTVN, HUÝ THƯỢNG TÂM HẠ THANH, TỰ GIẢI TỊNH, HIỆU CHƠN NGHIÊM, LÊ CÔNG HÒA THƯỢNG GIÁC LINH THUỲ TỪ CHỨNG GIÁM.

Chấp bút: MÔN ĐỒ PHÁP QUYẾN.

Còn rất nhiều điều thú vị và ý nghĩa về cuộc đời, sự nghiệp của Hòa thượng Thích Tâm Thanh đang chờ bạn khám phá Tiểu sử.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang