Khám phá góc nhìn dí dỏm về triết lý Phật giáo qua ngòi bút của một trí thức uyên bác, nơi sự kính ngưỡng hòa quyện với nét hóm hỉnh, tạo nên những suy ngẫm đầy thú vị. Chia sẻ Đạo Phật giới thiệu một cách tiếp cận độc đáo, hé lộ những tầng nghĩa sâu sắc ẩn sau lời “chào” đầy ý nhị.
Giáo sư Cao Huy Thuần, người Pháp gốc Việt, hiện là giáo sư ngành chính trị học tại Đại học Picardie, Pháp. Ông sinh tại Huế, từng theo học Luật tại Sài Gòn và giảng dạy tại Huế trước khi sang Pháp du học và bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Paris. Ông từng giữ chức Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Cộng đồng châu Âu tại Đại học Picardie. Giáo sư Cao Huy Thuần thường xuyên về Việt Nam tham dự các hội thảo về chính trị, xã hội và đã xuất bản nhiều tác phẩm bằng tiếng Pháp cũng như các bài báo bằng tiếng Việt, được đánh giá cao trong lĩnh vực văn chương chính trị.
Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám đã có một bài viết đầy ý nhị mang tên “Bonjour đức Phật” trên tạp chí “Viên Âm”. Bài viết này, với giọng kể chuyện hóm hỉnh, thường xuất hiện ở đầu mỗi số báo, mang lại niềm vui cho người đọc. Điều đáng ngạc nhiên là Bác sĩ Lê Đình Thám, một cư sĩ uyên bác, tác giả của nhiều bài viết học thuật sâu sắc và là người luôn giữ gìn sự cung kính khi giảng dạy, lại có thể viết một cách dí dỏm, thậm chí dám “cười” với cả Đức Phật, khiến cho những nhân vật như Duy Ma Cật cũng phải nể phục. Trong bài phát biểu này, thay vì đi sâu vào những triết lý cao siêu, tôi xin được “bonjour” Bác Thám qua một vài bài viết ngắn của Bác, đồng thời chia sẻ một vài nhận xét về phong trào Chấn hưng Phật học trên ba phương diện: bối cảnh lịch sử, mối quan hệ giữa Phật học và Phật giáo, cùng Phật học và khoa học.
I. Bối cảnh Lịch sử
Trong “Việt Nam Phật giáo sử lược”, Nguyễn Lang đã phân tích rõ ràng các nguyên nhân bên ngoài và bên trong dẫn đến sự ra đời và phát triển của phong trào chấn hưng Phật giáo. Ở đây, tôi xin bổ sung thêm một vài điểm thay vì lặp lại những gì đã được đề cập.
1. Nguyên nhân từ bên ngoài
Nguyễn Lang đã đề cập đến một “nghi ngờ” trong dư luận cho rằng phong trào chấn hưng Phật giáo là một kế hoạch của chính phủ bảo hộ. Hai yếu tố có thể dẫn đến nghi ngờ này là: thứ nhất, chính quyền bảo hộ đã dễ dàng cấp phép thành lập các Hội Phật học; thứ hai, sự hiện diện của một số cá nhân được cho là “người của chính quyền” trong các hội này. Để bác bỏ quan điểm này, Nguyễn Lang đã viện dẫn ý kiến của Phan Khôi và Huỳnh Thúc Kháng, những người không trực tiếp tham gia phong trào nhưng lại hết sức tán dương việc chấn hưng đạo Phật.
Để phản bác cùng Nguyễn Lang, tôi xin đưa ra một lập luận sâu sắc hơn, dựa trên chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam, đặc biệt là ở Trung Kỳ, nơi Pháp vẫn duy trì hình thức quân chủ An Nam trên nền tảng văn hóa truyền thống. Thực trạng thứ nhất là sự bế tắc của Pháp giữa hai chính sách “đồng hóa” và “hợp tác”. Thực trạng thứ hai là áp lực từ hai thế lực chính trị mạnh mẽ tại thuộc địa: phe thực dân bản địa và phe Công giáo, cả hai cùng hợp tác để đẩy chính quyền bảo hộ theo hướng đồng hóa.
Mặc dù chính sách áp chế, đồng hóa thường chiếm ưu thế, nhưng lại không thành công. Tương tự như việc người Trung Quốc đã cố gắng đồng hóa Việt Nam trong hàng ngàn năm mà không thành công, người Pháp cũng khó lòng đồng hóa người An Nam trong vài thập kỷ. Khi thất bại, Pháp thử chuyển sang con đường “hợp tác”, nhưng viễn cảnh này cũng nhanh chóng gặp phải sự phản đối từ cả hai thế lực trên, khiến các Toàn quyền thử nghiệm chính sách này bị triệu hồi về mẫu quốc.
Tuy nhiên, bối cảnh quốc tế và khu vực đã có nhiều biến động trước những năm 1930. Sự thức tỉnh của Trung Hoa với Tôn Dật Tiên, những tư tưởng cải cách của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, chiến thắng của Nhật Bản trước Nga, ý thức độc lập âm ỉ tại châu Á, và ảnh hưởng của những biến động này đối với giới sĩ phu Việt Nam, cùng với các cuộc nổi dậy và phản kháng khắp nơi trong nước chống lại ách áp bức, thuế khóa, rượu độc, đã buộc chính quyền bảo hộ phải xem xét lại chính sách cai trị của mình. Quốc hội Pháp cũng đã đặt ra câu hỏi về tính khả thi của chính sách đồng hóa tại xứ An Nam.
Từ lâu, vào năm 1889, Tổng Khâm sứ Chavassieux đã than thở trong một văn thư gửi Toàn quyền ở Hà Nội rằng: “Văn minh và tôn giáo của ta không tương cận với văn minh và tôn giáo của họ; tất cả đều ngăn cách chúng ta, và truyền thống của quá khứ cũng như nền giáo dục dân tộc đã dựng lên trước mặt chúng ta một bức tường nghìn đời không sao vượt qua được. Chúng ta đã chọn con đường đúng chăng? Ngày nay mọi người đều đồng thanh trả lời là không”. Tuy nhiên, không có Toàn quyền nào dám thay đổi chính sách. Toàn quyền Paul Beau (1902-1907) đã thử thay đổi nhưng chưa đạt được kết quả đã bị triệu hồi vĩnh viễn, và trường Đại học Hà Nội mới mở vài khoa đã phải đóng cửa. Tình hình này kéo dài cho đến khi các biến động buộc Quốc hội Pháp phải chất vấn chính phủ để thay đổi chính sách tại thuộc địa An Nam.
Albert Sarraut, người được đề cử để thực hiện chính sách hợp tác, đã giữ chức Toàn quyền hai lần (1911-1914 và 1917-1919). Để ngăn chặn ảnh hưởng của cách mạng dân tộc tại Trung Hoa và đối phó với các biến động trong nước, Albert Sarraut cho rằng cách duy nhất là nắm lấy phong trào duy tân và định hướng nó. Ông nhận định: “Ngay bây giờ chúng ta có thể tiên liệu được cách mạng Trung Hoa sẽ tăng cường tại Đông Dương tư tưởng dân tộc cùng các hoài bão của dân chúng về tiến bộ. Điều quan trọng là quá trình này phải được chúng ta điều khiển, vì nếu nó diễn ra ngoài sự kiểm soát của chúng ta, nền đô hộ của chúng ta sẽ bị đe dọa… Nam Kỳ, đã rất tiến bộ, có vẻ đã đến một tình trạng quân bình tương đối ổn định… Trung và Bắc Kỳ chính là nơi chúng ta phải cố lèo lái trào lưu các tư tưởng mới.” Tuy nhiên, trong nhiệm kỳ đầu (1911-1914), chính sách của Sarraut lại không phải là hợp tác mà là đồng hóa thông qua giáo dục, nhằm thay đổi tư tưởng người An Nam bằng tiếng Pháp và loại bỏ ảnh hưởng Khổng giáo, thay vào đó là những tư tưởng mới của nước Pháp cách mạng 1789. Ông tin rằng: “Trung Quốc đã chiếm và giữ được một ảnh hưởng to lớn tại xứ này bằng cách phổ biến ngôn ngữ và văn chương của nó. Vậy cũng chính bằng ngôn ngữ và văn chương Pháp mà chúng ta sẽ thực hiện cuộc chinh phục tinh thần tại Đế Quốc An Nam.” Tuy nhiên, chính sách này đã gặp phải sự phản đối gay gắt từ phái bộ Công giáo và giới trí thức An Nam, những người đã sử dụng những tư tưởng cách mạng, dân chủ của Pháp để chống lại ách đô hộ.
Do đó, chính sách hợp tác lại được điều chỉnh, và Albert Sarraut gắn liền với khẩu hiệu “Pháp-Nam đề huề” trong nhiệm kỳ thứ hai. Lần này, để kiểm soát và định hướng các tư tưởng mới, ông quay về “truyền thống ngàn đời” của dân tộc An Nam, tán dương văn hóa Khổng giáo và hô hào hợp tác giữa hai nền văn minh Đông-Tây. Từ đó, tờ “Nam Phong” ra đời với Phạm Quỳnh là người đứng đầu.
Tôi nhấn mạnh điểm này vì nó là chìa khóa để giải đáp nghi vấn của Nguyễn Lang. “Truyền thống ngàn đời” mà Sarraut đề cập là Khổng giáo, và ông tìm cách “phà hơi” để nó sống lại như một công cụ cai trị. Cuốn “Quốc văn giáo khoa thư” mà tôi từng học thời thơ ấu chứa đầy luân lý Khổng Mạnh, không hề có bóng dáng chùa chiền. “Nam Phong” là con bài của Sarraut, nhằm che đậy những tư tưởng mới bằng cái cũ. Trong khi đó, các sơn môn Phật giáo lại rầm rộ học Phật, bắt đầu từ Nam Kỳ rồi lan ra Huế, trước cả khi các Hội Phật học ra đời. Sự phát triển này là tự phát, không có sự dẫn dắt của chính quyền. Tất nhiên, thời đại cũng tạo ra những thuận lợi nhất định, nhưng nguyên nhân chính yếu nằm ở ý thức không thể để Phật giáo suy đồi và tự diệt. Hòa thượng Trí Quang đã từng nói: “Chí nguyện chấn hưng nền tôn giáo của dân tộc hết sức mạnh mẽ trong thời kỳ mà chỉ có những tổ chức gì của ngoại quốc đem đến mới được thực dân ngoại quốc bảo hộ.”
Chính ý chí này là nguyên nhân nội bộ của phong trào chấn hưng.
2. Nguyên nhân từ bên trong
Phật giáo đã suy đồi từ lâu. Chỉ cần đọc một sắc dụ của Vua Gia Long ban hành sau khi lên ngôi hai năm cũng đủ thấy tình trạng bi đát lúc bấy giờ. Ngay cả nhà vua cũng không phân biệt được Phật giáo với “đạo” đồng bóng. Hòa thượng Trí Quang đã tóm tắt tình trạng đối nội và đối ngoại của Phật giáo lúc 16 vị sáng lập Hội An Nam Phật Học nộp đơn xin thành lập bằng bốn chữ “pháp nhược ma cường”. Nguyễn Lang cũng đã đề cập nhiều, tôi xin trích thêm một vài câu từ “Viên Âm”: “Phật học cách mấy trăm năm trở lại đây như đã bị cái trào lưu Nho học làm mai một đâu rồi; đến nay cái trào lưu Nho học đã nhược bại, Phật giáo mới có cơ xuất hiện, thì ôi thôi Tăng đồ đã lâu ngày thất học và tín đồ cũng ngẩn ngơ không biết đâu là chánh pháp, vì thế mà có nhiều tạp chí tuy là lấy tên truyền bá đạo Phật, mà tựu trung chứa đầy cả lý thuyết xằng xiên. Đối với người có con mắt trạch pháp thì không hại, nhưng đối với sự tín ngưỡng của số đông thì chẳng khác gì một con trùng độc ở trong máu người ta làm cho sức người này thêm kém sút. Bệnh tình ấy nguy cấp như thế, ai có phương thuốc gì điều trị không?”
Có! Phương thuốc ấy chính là học Phật đúng với đạo của Phật. Học đúng đạo của Phật, đó là “trừ tà hiển chánh”, là bước đầu của phong trào chấn hưng Phật giáo. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là: Phật giáo hay Phật học? Chấn hưng Phật giáo hay chấn hưng Phật học?
II. Phật học và Phật giáo
Tại sao các Hội tự động mọc lên ở Nam Kỳ rồi lan ra Huế đều mang tên là Hội Phật học? Phải chăng chính phủ bảo hộ e ngại từ “Phật giáo”? Hay vào thời điểm đó, chỉ có tôn giáo của người Tây mới được coi là tôn giáo đích thực? Tôi đặt câu hỏi này không phải là vô nghĩa, bởi tôi có chút suy ngẫm về câu viết đầy vị đắng của Hòa thượng Trí Quang: “Từ năm 1932 đến năm 1945, Hội hoạt động dưới danh nghĩa mỉa mai là An Nam Phật Học Hội”. Tôi càng suy ngẫm hơn khi thấy chữ viết tắt SEERBA (Société d’Étude et d’Exercice de la Religion Bouddhique en Annam) mà Bác sĩ Lê Đình Thám đã dịch và chú thích trong “Viên Âm”. Bác sĩ Thám, với vốn tiếng Pháp uyên bác, tại sao lại dùng thêm chữ “religion” cho rườm rà về ngôn ngữ, thay vì dịch gọn “Société d’étude et d’exercice du Bouddhisme”? Có lẽ Bác sĩ đã cố ý.
Hơn nữa, nếu chỉ là “Hội Phật học”, thì dịch “Société d’étude bouddhique” là đủ, cần gì thêm “Exercice”? “Étude” là học, “Exercice” là hành. Tôi dám chắc Bác sĩ Lê Đình Thám đã cố ý thêm chữ “hành” vì ba lý do: thứ nhất, học mà không hành thì không phải là người học Phật đích thực; thứ hai, học mà không hành thì không phải là “religion” đích thực; thứ ba, cần hiểu rõ “đàng sau” tôn chỉ của Hội.
Tôn chỉ của Hội được nêu rõ trong điều 2: “hoằng dương chánh pháp, lợi lạc hữu tình”. Theo Hòa thượng Trí Quang, “Hoằng dương chánh pháp là làm cho chân tinh thần được phát huy, thâm nhập vào tư tưởng và sinh hoạt của quần chúng. Nhưng hoằng dương chánh pháp bằng cách nào? Tóm tắt thì hai phương diện chánh yếu sau đây luôn luôn được chú ý đến: phần tự giác thì nghiên cứu và áp dụng chánh pháp, phần giác tha thì tận lực truyền bá chánh pháp đó bằng những phương tiện cần thiết.” Như vậy, đó không còn là gì khác ngoài “religion”.
Có độc giả đã hỏi “Viên Âm” về việc Hội có lập giới đàn không? “Viên Âm” đã trả lời: Có chứ! Và miêu tả chi tiết cách thức tổ chức giới đàn.
Tuy nhiên, Hội cũng khẳng định rõ trong điều 3, để chính quyền Pháp yên tâm cấp giấy phép: Hội không làm chính trị. Tôn chỉ này là đúng đắn muôn đời. Do đó, không nên suy diễn hay đánh giá Hội dựa trên các yếu tố chính trị hay kinh tế. Như Hòa thượng Trí Quang đã giải thích: “Hội dùng mọi phương tiện thiện xảo để áp dụng “tinh thần Phật học” vào đời sống cá nhân, vào tổ chức gia đình, vào hoàn cảnh xã hội, cao vọng xã hội thành xã hội Phật hóa, gia đình thành gia đình Phật hóa, cá nhân thành người bi, trí, dũng, hầu tạo thành một xã hội mới mà trình độ tinh thần ngang với trình độ vật chất, tiến bộ đều đặn.”
Một độc giả đã hỏi Bác sĩ Lê Đình Thám: Danh nghĩa của Hội là Phật học, vậy Hội có đặt cái “biết” lên trên cái “làm” không? Bác sĩ trả lời ngắn gọn nhưng súc tích: “Khi nào cũng phải biết trước rồi mới làm, nếu không biết mà làm càn thì bao giờ cũng sai lầm cả. Chẳng những Phật học, mà dầu khoa học hay các môn học thuật khác cũng vậy, thế nào cũng phải biết rồi mới làm, nhưng đến khi làm rồi thì mới có thể thiệt biết.”
Ngay cả trong cái “biết”, học và hành không bao giờ tách rời. Trên bình diện tôn giáo, sự phát triển bề sâu và bề rộng, nếu không đi đôi với nhau thì sẽ dẫn đến suy vong. Điều này đúng cho cả quá khứ lẫn hiện tại, như lời Bác sĩ Lê Đình Thám đã chỉ ra.
Một độc giả khác hỏi Bác sĩ: Hội không làm chính trị, vậy làm sao giải thích “tứ ân” mà các chùa tụng niệm hàng ngày? Ơn cha mẹ, ơn thầy trò, ơn chúng sinh, đều đúng. Còn ơn thứ tư, ơn đối với quốc vương? Đối với vua Bảo Đại? Hay ơn đối với Toàn quyền năm 1932? Bác sĩ Thám đã trả lời một cách thuyết phục: đó là ơn đối với Nhà nước. Nhà nước chủ yếu làm cho nhân dân an cư lạc nghiệp và bảo vệ đất nước chống ngoại xâm, ơn ấy cần báo đáp bằng cách làm tròn nhiệm vụ người dân. Trong chế độ phong kiến, quốc vương tiêu biểu cho Nhà nước, nên trong các kinh dạy bảo vệ chủ quyền đất nước, hết lòng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thì mới thật có ơn. Đối với Nhà nước thật sự vì dân như thế, người đạo Phật cần phải thi hành triệt để mọi chủ trương chính sách của Nhà nước, phục vụ lợi ích của nhân dân, của Tổ Quốc thì mới báo đáp được công lao ấy. Nói gì hơn? Chính trị chẳng phải là vậy sao: Nhà nước xứng đáng, nhân dân xứng đáng. Sau này, Hòa thượng Trí Quang gọi “chính trị” ấy là “lẽ phải”, và nói Phật giáo là “lực lượng”, không phải lực lượng chính trị mà là “lực lượng của lẽ phải”. Trên bình diện lý thuyết, “Viên Âm” cũng khẳng định: Phật giáo là đạo của Sự Thật, bởi lẽ đơn giản Phật giáo được Đức Phật định nghĩa là “đạo Như Thật”.
Sự Thật ấy là của chung nhân loại, Phật giáo đáp ứng một nhu cầu tôn giáo của nhân loại. Vậy thì, Phật giáo có quốc gia, xứ sở không? Câu trả lời của Bác sĩ Thám vẫn gọn nhẹ, súc tích: “Đạo Phật, về mặt tùy duyên thiệt có quốc gia có xứ sở, thiệt có ích cho quốc gia và xứ sở, ai là người có lòng vì nước vì dân xin hãy nghiên cứu Phật học.”
Nghĩa là, Bác sĩ muốn nói, công cuộc chấn hưng Phật học không chỉ dành cho Phật giáo mà còn cho cả quốc gia, xứ sở. Giai đoạn 1932 là giai đoạn giao thời, cái cũ đã tàn nhưng cái mới còn xa lạ, khoa học tiến bộ nhưng nền tảng đạo đức đã lung lay. Hơn ai hết, Bác sĩ Lê Đình Thám là người của khoa học, nhưng cũng nhận thức rõ rằng khoa học không thể thiếu vắng đạo đức Phật giáo. Cái tài của Bác sĩ đi đôi với cái tâm, do đó, đề tài khoa học và Phật học trở thành chủ đề lớn trong “Viên Âm”.
III. Phật học và Khoa học
Giữa khoa học và Phật giáo có điểm tương đồng nào? “Viên Âm” trả lời: cùng chung mục đích là hướng đến sự hiểu biết. Biết một cách chân thật, xác đáng. Trí thức con người được mở mang thì khoa học phát triển và đạo Phật cũng phát triển. Giữa khoa học và Phật pháp còn có mục đích thứ hai giống nhau: khoa học cải tạo hoàn cảnh và mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại, Phật pháp cũng vậy. Tuy nhiên, khoa học không phải lúc nào cũng mang lại hạnh phúc, trái lại có thể gây đau khổ, và vì vậy đạo Phật luôn cần thiết cho nhân loại để tiến bộ và hạnh phúc thật sự.
Dựa trên hai nhận định này, “Viên Âm” giải thích lý do ra đời của phong trào Chấn hưng Phật học, với ba nguyên nhân chính:
- Sự tiến hóa của trí thức người Việt về mặt luận lý.
- Khoa học tuy đánh đổ các sự mê tín nhưng tự nó không đủ năng lực tạo hạnh phúc cho nhân loại.
- Cần có một đạo lý vững vàng để khoa học phục tùng và đào tạo đức tánh con người.
Về nguyên nhân thứ nhất, “Viên Âm” giải thích: “Ngày xưa, người xứ ta theo Nho học, cái Nho học của Tống nho bắt phải nhất định theo lối biện luận của thầy Châu Tử, không được dời đổi chút nào, đến nỗi ai trái với Châu-chú trong khi thi cử đều phải mắc tội, cái tội lây đến bản sư nữa. Lối học như vậy là lối học chết sửng, nó khép trí thức con người vào trong khuôn hẹp hòi, cho nên luận lý học xứ ta trong mấy trăm năm về sau đây mỗi đời mỗi suy kém. Vậy nên trong thời kỳ Nho học thạnh hành, đạo lý cao xa của Phật giáo chỉ có thể duy trì trong sơn môn, chứ không thể truyền bá trong cái xã hội không biết luận lý ấy được. […] Phật pháp ý nghĩa rõ ràng, đúng đắn, có thiệt nghiệm, chắc chắn nơi tự tâm chớ không phải tin càng theo cha, không bắt quỵ luỵ tra hỏi một đấng thiêng liêng nào, nên rất hiệp với trí não không chịu ỷ lại, không chịu mê tín của khoa học.”
Những gì “Viên Âm” viết từ những năm 1932 đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Về nguyên nhân thứ hai, khoa học mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng là con dao hai lưỡi. Kết quả tốt hay xấu phụ thuộc vào cách sử dụng, nghĩa là phụ thuộc vào chính con người. “Viên Âm” viết: “Như một con dao bén ở trong tay người đầu bếp thì có thể xắc đồ ăn mà nuôi sống cho kẻ khác, còn ở trong tay thằng ăn cướp thì để cắt cổ giết người, tùy theo chỗ dùng mà lợi hại có khác. Vậy chủ động dùng khoa học là gì? Là chơn tâm. Chơn tâm độc ác tham lam, thì khoa học là những máy móc để giết người, chơn tâm hiền lành ngay thẳng thì…”
Vậy thì cần phải làm gì? Khuếch trương triết học hay thần giáo? Châu Âu đã chứng kiến sự xung đột giữa khoa học và thần giáo. May mắn thay, khoa học và Phật giáo không đối lập nhau. Do đó, “Viên Âm” khẳng định chắc chắn: “Duy chỉ có Phật giáo là đạo lý vững vàng đủ làm cho khoa học phục tình để đào tạo đức tánh của loài người“. Đó là nguyên nhân thứ hai.
Nguyên nhân thứ ba, đó là đức dục, một trong ba nhiệm vụ của giáo dục (trí dục, thể dục, đức dục) mà Bác sĩ Lê Đình Thám và “Viên Âm” đặc biệt chú trọng. Tuổi trẻ và nhi đồng là mối quan tâm hàng đầu của Bác sĩ. Đoàn thanh niên đức dục và Ban Đồng Ấu đã được phát triển thành công, tiền thân của Gia Đình Phật tử ngày nay.
Vì đức dục quan trọng như vậy, tôi xin dài dòng thêm một chút để nói về buổi viếng thăm Hội của ông Phạm Quỳnh, lúc đó là Thượng thư Bộ Học của Nam triều. Bác sĩ Thám đã đọc một bài diễn văn sâu sắc. Tôi xin trích dẫn một phần lời cám ơn mở đầu của Bác sĩ:
“Hiện thời nay, chắc Cụ Lớn đã rõ, người nước ta xu hướng về con đường vật chất hầu mong làm đổ cả nền luân lý nước nhà, nếu chúng ta không đem Phật pháp mà vãn hồi chơn tâm thì không bao lâu nữa ắt sẽ bị cái hại luân lý suy đồi, lương tâm vùi dập.”
Trong bài đáp từ của mình, ông Phạm Quỳnh, một học giả xuất chúng thời đó, đã nói những lời đáng suy ngẫm:
“Xét về mặt lịch sử thì dân tộc Việt Nam có đủ luân lý, đạo đức, học thuyết, tóm lại gọi là tinh thần một dân tộc, mà sở dĩ dân tộc này không lộn với dân tộc khác là bởi do tinh thần khác nhau đó vậy. Nói về tinh thần của một dân tộc, thì không phải một ngày một lúc mà có thể đào tạo cho thành, chính là phải trải qua mấy ngàn năm. Cái tinh thần Việt Nam của chúng ta đây, tất phải nhờ các học thuyết tạo thành, mà xét về đức dục thì một phần lớn là do công nghiệp của Phật học vậy. Phật học đã có ảnh hưởng về luân lý đạo đức trong dân tộc ta như vậy thì ai là người muốn bảo tồn tinh thần dân tộc Việt Nam tất phải tán thành cho Phật học.”
Những lời nói của ông Phạm Quỳnh cho thấy tầm quan trọng của Phật học đối với việc bảo tồn tinh thần dân tộc. Nhân đây, tôi xin phép được đùa một câu để kính chào Bác sĩ Lê Đình Thám, một đại cư sĩ hiếm có của thế kỷ.

IV. Bonjour Bác Thám!
Biến triết lý cao siêu của đạo Phật trở nên rõ ràng, dễ hiểu, trẻ trung và tươi mát là mong ước chung của nhiều thế hệ Phật tử. Bác sĩ Lê Đình Thám dường như là người tiên phong trong việc này. Bác sĩ đã khéo léo đưa sự dí dỏm vào những câu chuyện ngắn nhưng thâm thúy, mang đậm ý nghĩa đạo vị. Bài “Bonjour đức Phật” của Bác sĩ là một ví dụ điển hình, khó có ai có thể vượt qua được sự tinh tế này. Câu chuyện bắt đầu như sau:
Một buổi sáng, anh chàng Ba Láp vào chùa, thấy bác Cửu Giới vừa lạy Phật xong. Ba Láp cười và nói: “- Chú rõ là mê tín, Phật tức tâm, tâm tức Phật, tôi có tâm, chú lạy tôi đây không hơn sao mà phải lạy Phật? Tôi chả lạy ai cả, mỗi buổi mai cứ đến trước bàn Phật nói: “Bonjour đức Phật” thôi.”
Cửu Giới cười ha hả, ngồi lên ngựa và bảo: “- Anh lạy Cửu Giới đi.”
Ba Láp trợn mắt: “- Xỏ lá, ai thèm lạy chú!”
Thế tôi không có tâm sao? Ba Láp ngơ ngẩn: “- Chú có tâm nhưng mà… tôi không lạy.”
Bác sĩ Lê Đình Thám đã dạy gì qua câu nói của Ba Láp trong mẫu chuyện ngắn này, nằm ngay trang đầu của một tạp chí vốn rất trang nghiêm? Bác sĩ giải thích cho Ba Láp hiểu vì sao chúng ta lạy Phật và lợi ích của việc lạy Phật. Đó là cách học “tiên học tếu hậu học văn”.
Thêm một câu chuyện dí dỏm nữa. Đời Tự Đức, có một ông tân khoa tiến sĩ xuất thân từ quê mùa. Vì nhà nghèo nhưng học giỏi, vua thương tình, đặc biệt mời ông vào cung xem hát bội trong Duyệt Thị và cho ông cầm trống chầu thưởng cho con hát. Câu chuyện kể về vở tuồng “Tống Nhạc Phi”, trong đó người kép hát đóng vai Tần Cối rất đạt. Ông tiến sĩ mới vì quá nhập tâm, tưởng thật, nổi giận đùng đùng, cầm roi chầu xông vào sân khấu đánh tên kép hát. Các quan can ngăn nhưng ông vẫn quyết chí đánh chết thằng nịnh là Tần Cối. Một hồi lâu ông mới tỉnh lại, biết là tuồng hát, thì vô cùng hối hận, cởi mũ, quỳ xuống phục tội trước Ngai rồng.
Bác sĩ Lê Đình Thám đã rút ra bài học sâu sắc từ câu chuyện này: “Chúng ta vì vô minh nghiệp chướng mãi mãi trong sáu đường, hết thân này đến thân sau, nào khác chi một anh kép hát đóng tuồng trên sân khấu. Khi thì làm đàn bà, khi thì làm đàn ông, khi thì làm thiên thần, khi thì làm quỉ súc, đóng vai nào thì theo vai ấy, cũng vui, cũng khổ, cũng khóc, cũng cười, mà rốt cuộc có cái thân nào chắc là thân của mình đâu. Trong đường luân hồi, chúng ta đã đóng bao nhiêu vở tuồng…”
Bài phát biểu đã khá dài, nhưng vì tính chất lan truyền của “bệnh cười”, tôi xin mạn phép kể thêm một câu chuyện nữa của Bác sĩ. Đời xưa, một cô gái nhà giàu, có phần khờ dại, lấy được một người chồng rất khôn ngoan. Một hôm, cô vợ mua về một bình trà cũ. Anh chồng uống không được, bèn dặn vợ: “Phàm mua trà Tàu phải mua mới, chứ trà cũ để lâu ngày thì không thể uống được. Vậy từ nay về sau phải nhớ đừng mua những thứ trà cũ nữa.” Người vợ nghe lời chồng dặn nhưng lại hiểu lầm rằng cái gì mới cũng tốt hơn cái cũ. Hôm sau, cô gặp người bán lục bình, liền đem cái lục bình xưa trong nhà ra đổi lấy một cái lục bình mới. May mắn là người chồng kịp thời can ngăn nên gia đình khỏi mất một vật quý báu vô giá.
Bài học từ câu chuyện này là gì? Đó là tất cả những gì chúng ta đã nói ở trên, chuyện của thời đại “Viên Âm”, thời đại trước đó, thời đại chúng ta, và văn hóa muôn đời: không phải cái gì cũ cũng dở, không phải cái gì mới cũng hay; vấn đề không phải là cũ hay mới, vấn đề là hay hay dở, lấy cái hay, bỏ cái dở.
Để có thể cười nhiều hơn với Bác sĩ Lê Đình Thám, nhưng bài phát biểu đã quá dài. Xin kính chào tạm biệt, au revoir bác Thám.
Cao Huy Thuần
Tài liệu tham khảo
- Thích Trung Hậu và Thích Hải Ấn (sưu tập và giới thiệu), Tác phẩm của Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, tập 5,
- Nguyễn Lang (1994), Việt Nam Phật giáo sử lược, tập 3, Nxb Văn Học, Hà Nội.
- Cao Huy Thuần (2002), Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam, 1857-1914, Nxb Tôn giáo; Nxb Hồng Đức, Phương Nam (tái bản, 2014).
- Trí Quang (2009), Tâm Ảnh Lục, trọn bộ 4 cuốn, Nxb Văn hóa Sài Gòn, TP. HCM.
- Viên Âm, số 15, 21, 29
[trích Kỷ Yếu Hội Thảo Khoa Học Cư Sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám và Những Đóng Góp Đối Với Hội An Nam Phật Học | PHẬT LỊCH 2562 | Ngày 10 & 11/4/2019 (06 & 07/3/Kỷ Hợi) | Tại Tổ đình Từ Đàm – Huế]
Để hiểu rõ hơn về hành trình và tư tưởng của những nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn trong lịch sử, hãy cùng khám phá chuyên mục Tiểu sử.

